- Theravāda Vinaya
- Bhikkhunivibhaṅga
- Saṅghādisesakaṇḍa
Bản dịch
Bi Vb Ss 1 — Tăng-già-bà-thi-sa 1
1. Ussayavādikāsikkhāpada
Bạch chư đại đức ni, mười bảy điều saṅghādisesa này được đưa ra đọc tụng.
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có nam cư sĩ nọ sau khi dâng kho chứa đồ đạc đến hội chúng tỳ khưu ni rồi từ trần. Người ấy có hai người con trai: một người không có niềm tin và không mộ đạo, một người có niềm tin và mộ đạo. Họ đã phân chia tài sản thuộc về người cha. Khi ấy, người không có niềm tin và không mộ đạo ấy đã nói với người có niềm tin và mộ đạo điều này:—“Cái kho chứa đồ đạc thuộc về chúng ta, hãy chia vật ấy.” Khi được nói như thế, người có niềm tin và mộ đạo ấy đã nói với người không có niềm tin và không mộ đạo ấy điều này:—“Này anh, chớ nói như thế. Cha chúng ta đã dâng đến hội chúng tỳ khưu ni rồi.” Đến lần thứ nhì, người không có niềm tin và không mộ đạo ấy đã nói với người có niềm tin và mộ đạo điều này:—“Cái kho chứa đồ đạc thuộc về chúng ta, hãy chia vật ấy.” Khi được nói như thế, người có niềm tin và mộ đạo ấy đã nói với người không có niềm tin và không mộ đạo ấy điều này:—“Này anh, chớ nói như thế. Cha chúng ta đã dâng đến hội chúng tỳ khưu ni rồi.” Đến lần thứ ba, người không có niềm tin và không mộ đạo ấy đã nói với người có niềm tin và mộ đạo điều này:—“Cái kho chứa đồ đạc thuộc về chúng ta, hãy chia vật ấy.” Khi được nói như thế, người có niềm tin và mộ đạo ấy (nghĩ rằng): “Nếu thuộc về ta, ta cũng sẽ dâng đến hội chúng tỳ khưu ni” rồi đã nói với người không có niềm tin và không mộ đạo ấy điều này:—“Chúng ta hãy chia.”
Inda-bh 2Khi ấy, cái kho chứa đồ đạc ấy, trong lúc được phân chia bởi những người ấy, đã thuộc về người không có niềm tin và không mộ đạo ấy. Sau đó, người không có niềm tin và không mộ đạo ấy đã đi đến gặp hội chúng tỳ khưu ni và đã nói điều này:—“Thưa các ni sư, xin hãy đi ra. Kho chứa đồ đạc là của chúng tôi.” Khi được nói như thế, tỳ khưu ni Thullanandā đã nói với người đàn ông ấy điều này:—“Này ông, chớ nói như thế. Cha các ông đã dâng đến hội chúng tỳ khưu ni rồi.”—“Đã được dâng! Chưa được dâng!” Họ đã hỏi các quan đại thần lo việc xử án. Các quan đại thần đã nói như vầy:—“Thưa ni sư, người nào biết là đã được dâng đến hội chúng tỳ khưu ni.” Khi được nói như thế, tỳ khưu ni Thullanandā đã nói với các quan đại thần ấy điều này:—“Thưa các ngài, ngay cả các ngài cũng đã được thấy hoặc đã được nghe trong khi thành lập nhân chứng và trong khi vật thí đang được dâng cúng mà.” Khi ấy, các quan đại thần ấy (nói rằng):—“Ni sư đã nói đúng sự thật.” Rồi đã xử hội chúng tỳ khưu ni được kho chứa đồ đạc ấy.
Inda-bh 3Khi ấy, người đàn ông ấy bị thua cuộc nên phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Những bà cạo đầu khả ố này không phải là các nữ Sa-môn. Tại sao các bà lại cho (người) cướp đoạt kho chứa đồ đạc của chúng tôi?” Tỳ khưu ni Thullanandā đã kể lại sự việc ấy cho các vị quan đại thần. Các vị quan đại thần đã ra lệnh đánh đòn người đàn ông ấy. Sau đó, người đàn ông ấy bị đánh đòn nên đã bảo xây dựng chỗ ngủ cho các đạo sĩ lõa thể ở nơi không xa chỗ ngụ của các tỳ khưu ni rồi đã xúi giục các đạo sĩ lõa thể rằng:—“Các ngươi hãy lăng mạ các tỳ khưu ni ấy.” Tỳ khưu ni Thullanandā đã kể lại sự việc ấy cho các vị quan đại thần. Các vị quan đại thần đã ra lệnh giam giữ người đàn ông ấy. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các tỳ khưu ni lần đầu làm cho (người ta) bị cướp đoạt kho chứa đồ đạc, đến lần thứ nhì làm cho bị đánh đập, đến lần thứ ba làm cho bị giam giữ, bây giờ sẽ làm cho chết?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.
Inda-bh 4Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao ni sư Thullanandā lại sống làm người thưa kiện?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā sống làm người thưa kiện, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại sống làm người thưa kiện vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào sống làm người thưa kiện với nam gia chủ, hoặc với con trai của nam gia chủ, hoặc với người nô tỳ, hoặc với người làm công, hoặc ngay cả với Sa-môn du sĩ, vị tỳ khưu ni này phạm tội saṅghādisesa ngay lúc vừa mới vi phạm, cần được tách riêng.”
Inda-bh 5Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào … (như trên) …
Tỳ khưu ni: … (như trên) … vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Người thưa kiện nghĩa là người gây ra vụ xử án được đề cập đến.
Nam gia chủ nghĩa là bất cứ người nam nào sống trong căn nhà.
Con trai của nam gia chủ nghĩa là bất cứ những người nào là con trai hoặc anh em trai.
Người nô tỳ nghĩa là được bẩm sanh, được mua bằng của cải, bị bắt đi làm công việc.
Người làm công nghĩa là người làm thuê, người khuân vác.
Sa-môn du sĩ nghĩa là bất cứ người nào thành tựu pháp du sĩ trừ ra tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, và sa di ni.
Ta sẽ thưa kiện: Vị ni (nghĩ vậy rồi) tìm kiếm người thứ hai hoặc (đích thân) đi thì phạm tội dukkaṭa. Nói với người thứ nhất thì phạm tội dukkaṭa. Nói với người thứ nhì thì phạm tội thullaccaya. Khi kết thúc vụ xử án thì phạm tội saṅghādisesa.
Ngay lúc vừa mới vi phạm: vị ni vi phạm do thực hiện sự việc, không phải do sự nhắc nhở.
Cần được tách riêng: bị tách riêng ra khỏi hội chúng.
Tội saṅghādisesa: Chỉ có hội chúng–không phải một số tỳ khưu ni, không phải một tỳ khưu ni–ban cho hành phạt mānatta của tội ấy, cho thực hành lại từ đầu, cho giải tội; vì thế được gọi là ‘tội saṅghādisesa.’ Là việc định danh, tức là việc đặt tên cho cả nhóm tội giống như tội ấy; vì thế được gọi là ‘tội saṅghādisesa.’
Vị ni đi trong khi bị những người khác lôi kéo đi, vị ni yêu cầu sự bảo vệ, vị ni nói ra không nêu rõ (người nào), vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều saṅghādisesa thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Nuns’ Analysis
- The chapter on offenses entailing suspension
2. Chương Saṅghādisesa
1. Ussayavādikāsikkhāpada
1. The training rule on taking legal action
1. Điều học Saṅghādisesa thứ nhất
Ime kho panāyyāyo sattarasa saṅghādisesā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Venerables, these seventeen rules on suspension come up for recitation.
Origin story
Này các trưởng lão ni, mười bảy pháp saṅghādisesā này
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena aññataro upāsako bhikkhunisaṅghassa udositaṁ datvā kālaṅkato hoti. Tassa dve puttā honti—eko assaddho appasanno, eko saddho pasanno. Te pettikaṁ sāpateyyaṁ vibhajiṁsu. Atha kho so assaddho appasanno taṁ saddhaṁ pasannaṁ etadavoca—“amhākaṁ udosito, taṁ bhājemā”ti. Evaṁ vutte, so saddho pasanno taṁ assaddhaṁ appasannaṁ etadavoca—“māyyo, evaṁ avaca. Amhākaṁ pitunā bhikkhunisaṅghassa dinno”ti.
Dutiyampi kho so assaddho appasanno taṁ saddhaṁ pasannaṁ etadavoca—“amhākaṁ udosito, taṁ bhājemā”ti. Atha kho so saddho pasanno taṁ assaddhaṁ appasannaṁ etadavoca—“māyyo, evaṁ avaca. Amhākaṁ pitunā bhikkhunisaṅghassa dinno”ti. Tatiyampi kho so assaddho appasanno taṁ saddhaṁ pasannaṁ etadavoca—“amhākaṁ udosito, taṁ bhājemā”ti. Atha kho so saddho pasanno—“sace mayhaṁ bhavissati, ahampi bhikkhunisaṅghassa dassāmī”ti—taṁ assaddhaṁ appasannaṁ etadavoca—“bhājemā”ti.
Atha kho so udosito tehi bhājīyamāno tassa assaddhassa appasannassa pāpuṇāti. Atha kho so assaddho appasanno bhikkhuniyo upasaṅkamitvā etadavoca—“nikkhamathāyye, amhākaṁ udosito”ti.
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time a lay follower who had given a storehouse to the Sangha of nuns had died. He had two sons, one with and one without faith and confidence, and they divided their father’s property between them. Then the one without faith said to the other, “The storehouse is ours; let’s allocate it to one of us.” But the one with faith responded, “No, our father gave it to the Sangha of nuns.”
A second time they both said the same thing, and a third time the one without faith repeated his proposal. The one with faith then thought, “If I get it, I too would give it to the Sangha of nuns,” and he said, “Alright, let’s allocate it.”
But when they allocated it, it fell to the one without faith. He then went to the nuns and said, “Please leave, venerables, this storehouse is mine.”
678. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, Thế Tôn, đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, một nam cư sĩ nào đó sau khi đã cúng dường một kho chứa cho chư tỳ-khưu-ni tăng thì qua đời. Vị ấy có hai người con trai – một người không có đức tin, không có lòng tịnh tín, một người có đức tin, có lòng tịnh tín. Họ đã phân chia tài sản của người cha. Khi ấy, người con không có đức tin, không có lòng tịnh tín đã nói với người con có đức tin, có lòng tịnh tín rằng: “Chúng ta có một kho chứa, chúng ta hãy chia nó ra.” Khi được nói như vậy, người con có đức tin, có lòng tịnh tín đã nói với người con không có đức tin, không có lòng tịnh tín rằng: “Này anh, đừng nói như vậy. Cha của chúng ta đã cúng dường nó cho chư tỳ-khưu-ni tăng rồi.” Lần thứ hai, người con không có đức tin, không có lòng tịnh tín lại nói với người con có đức tin, có lòng tịnh tín rằng: “Chúng ta có một kho chứa, chúng ta hãy chia nó ra.” Khi ấy, người con có đức tin, có lòng tịnh tín đã nói với người con không có đức tin, không có lòng tịnh tín rằng: “Này anh, đừng nói như vậy. Cha của chúng ta đã cúng dường nó cho chư tỳ-khưu-ni tăng rồi.” Lần thứ ba, người con không có đức tin, không có lòng tịnh tín lại nói với người con có đức tin, có lòng tịnh tín rằng: “Chúng ta có một kho chứa, chúng ta hãy chia nó ra.” Khi ấy, người con có đức tin, có lòng tịnh tín, (nghĩ rằng): “Nếu nó thuộc về phần của tôi, tôi cũng sẽ cúng dường nó cho chư tỳ-khưu-ni tăng,” đã nói với người con không có đức tin, không có lòng tịnh tín rằng: “Chúng ta hãy chia nó ra.” Khi ấy, trong lúc họ đang phân chia, kho chứa ấy đã thuộc về người không có đức tin, không có lòng tịnh tín. Khi ấy, người con không có đức tin, không có lòng tịnh tín đã đi đến các vị tỳ-khưu-ni và nói rằng: “Này các trưởng lão ni, hãy đi ra khỏi đây. Đây là kho chứa của chúng tôi.”
Evaṁ vutte thullanandā bhikkhunī taṁ purisaṁ etadavoca—“māyyo, evaṁ avaca, tumhākaṁ pitunā bhikkhunisaṅghassa dinno”ti.
“Dinno na dinno”ti vohārike mahāmatte pucchiṁsu. Mahāmattā evamāhaṁsu—“ko, ayye, jānāti bhikkhunisaṅghassa dinno”ti? Evaṁ vutte, thullanandā bhikkhunī te mahāmatte etadavoca—“api nāyyā tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā sakkhiṁ ṭhapayitvā dānaṁ diyyamānan”ti? Atha kho te mahāmattā—“saccaṁ kho ayyā āhā”ti taṁ udositaṁ bhikkhunisaṅghassa akaṁsu.
Atha kho so puriso parājito ujjhāyati khiyyati vipāceti—“assamaṇiyo imā muṇḍā bandhakiniyo. Kathañhi nāma amhākaṁ udositaṁ acchindāpessantī”ti. Thullanandā bhikkhunī mahāmattānaṁ etamatthaṁ ārocesi. Mahāmattā taṁ purisaṁ daṇḍāpesuṁ. Atha kho so puriso daṇḍito bhikkhunupassayassa avidūre ājīvakaseyyaṁ kārāpetvā ājīvake uyyojesi—“etā bhikkhuniyo accāvadathā”ti.
The nun Thullanandā said to him, “No, your father gave it to the Sangha of nuns.”
Because they were unable to agree, they asked judges to decide on the matter. They said, “Venerable, who knows that it was given to the Sangha of nuns?” Thullanandā replied, “But sirs, didn’t you appoint a witness who saw or heard the giving of the gift?” Saying, “It’s true what the venerable says,” the judges made the storehouse the property of the Sangha of nuns.
The defeated man complained and criticized the nuns, “They’re not monastics, these shaven-headed sluts. How could they take my storehouse?” Thullanandā told the judges of this and they punished him. That man then made a dwelling place for Ājīvaka ascetics near the nunnery, inciting them to drown out the nuns.
Khi được nói như vậy, tỳ khưu ni Thullanandā đã nói với người đàn ông ấy điều này: – ‘Này hiền hữu, chớ có nói như vậy, cha của các vị đã dâng cúng đến hội chúng tỳ khưu ni rồi.’ (Họ) đã hỏi các vị đại thần phân xử về việc: ‘Đã dâng cúng hay chưa dâng cúng.’ Các vị đại thần đã nói như vầy: – ‘Thưa các tôn giả, ai biết được là đã dâng cúng đến hội chúng tỳ khưu ni?’ Khi được nói như vậy, tỳ khưu ni Thullanandā đã nói với các vị đại thần ấy điều này: – ‘Thưa các hiền hữu, có phải các vị đã từng thấy hoặc đã từng nghe việc bố thí được thực hiện sau khi đã lập người làm chứng chăng?’ Bấy giờ, các vị đại thần ấy (nghĩ rằng): – ‘Quả thật, các tôn giả đã nói lời chân thật,’ rồi đã giao kho chứa ấy cho hội chúng tỳ khưu ni. Bấy giờ, người đàn ông ấy bị thua kiện nên đã phàn nàn, chê bai, gièm pha rằng: – ‘Mấy bà đầu trọc này là hạng đàn bà hư hỏng, không phải là sa-môn ni. Do đâu mà họ lại có thể chiếm đoạt kho chứa của chúng ta chứ!’ Tỳ khưu ni Thullanandā đã trình báo sự việc ấy đến các vị đại thần. Các vị đại thần đã cho phạt người đàn ông ấy. Bấy giờ, người đàn ông ấy bị phạt, đã cho xây dựng trú xá của các lõa thể gần tu viện của tỳ khưu ni rồi xúi giục các lõa thể rằng: – ‘Hãy chửi rủa các tỳ khưu ni này.’
Thullanandā bhikkhunī mahāmattānaṁ etamatthaṁ ārocesi. Mahāmattā taṁ purisaṁ bandhāpesuṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“paṭhamaṁ bhikkhuniyo udositaṁ acchindāpesuṁ, dutiyaṁ daṇḍāpesuṁ, tatiyaṁ bandhāpesuṁ. Idāni ghātāpessantī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhuniyo tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Yā tā bhikkhuniyo appicchā …pe… tā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ayyā thullanandā ussayavādikā viharissatī”ti.
Atha kho tā bhikkhuniyo bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī ussayavādikā viharatī”ti.
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī ussayavādikā viharissati. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, bhikkhuniyo imaṁ sikkhāpadaṁ uddisantu—
Once again Thullanandā told the judges and the judges jailed him. People then complained and criticized those nuns, “First the nuns take his storehouse, then they have him punished, and then they have him jailed. Next they’ll have him executed!”
Nuns heard the complaints of those people, and the nuns of few desires complained and criticized her, “How could Venerable Thullanandā take legal action?”
Then those nuns told the monks … “Is it true, monks, that the nun Thullanandā is taking legal action?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked her … “How could the nun Thullanandā take legal action? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, the nuns should recite this training rule like this:
Final ruling
Tỳ khưu ni Thullanandā đã trình báo sự việc ấy đến các vị đại thần. Các vị đại thần đã cho trói người đàn ông ấy. Dân chúng đã phàn nàn, chê bai, gièm pha rằng: – ‘Lần đầu, các tỳ khưu ni đã chiếm đoạt kho chứa, lần thứ nhì đã cho phạt, lần thứ ba đã cho trói. Bây giờ, họ sẽ cho giết chết!’ Các tỳ khưu ni đã nghe được (lời lẽ) của những người đang phàn nàn, chê bai, gièm pha ấy. Các vị tỳ khưu ni thiểu dục ... vị ấy ... đã phàn nàn, chê bai, gièm pha rằng: – ‘Do đâu mà tôn giả Thullanandā lại có thể sống một cách tranh tụng chứ!’ Bấy giờ, các tỳ khưu ni ấy đã trình báo sự việc ấy đến các tỳ khưu ... (đến đoạn) ... – Này các tỳ khưu, có thật là tỳ khưu ni Thullanandā sống một cách tranh tụng không? – Bạch Thế Tôn, là sự thật. Đức Phật, đấng Thế Tôn, đã khiển trách ... (đến đoạn) ... – Này các tỳ khưu, do đâu mà tỳ khưu ni Thullanandā lại có thể sống một cách tranh tụng chứ! Này các tỳ khưu, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ... (đến đoạn) ... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy nên tụng đọc điều học này như vầy:
“Yā pana bhikkhunī ussayavādikā vihareyya gahapatinā vā gahapatiputtena vā dāsena vā kammakārena vā antamaso samaṇaparibbājakenāpi, ayaṁ bhikkhunī paṭhamāpattikaṁ dhammaṁ āpannā nissāraṇīyaṁ saṅghādisesan”ti.
- Yā panāti
- yā yādisā …pe…
- bhikkhunīti
‘If a nun takes legal action against a householder or a householder’s offspring or a slave or a worker or even toward a monastic or a wanderer, then that nun has committed an immediate offense entailing sending away and suspension.’”
Definitions
- A:
- whoever …
- Nun:
679. ‘Vị tỳ khưu ni nào sống một cách tranh tụng với gia chủ, hoặc với con trai của gia chủ, hoặc với người nô lệ, hoặc với người làm công, cho đến cả với sa-môn du sĩ, tỳ khưu ni này đã phạm vào pháp saṅghādisesa, cần được trục xuất, là điều phạm ngay từ lần đầu tiên.’
680. Vị nào: là vị nào, bất luận loại nào ... (như trên) ... Tỳ khưu ni: ... (như trên) ... Vị tỳ khưu ni được đề cập trong ý nghĩa này.
Tranh tụng được gọi là việc khởi kiện.
Gia chủ là bất cứ người nào cai quản gia đình.
Con trai của gia chủ là bất cứ người con trai, người anh em nào.
Nô lệ là người được sinh ra trong nhà, người được mua bằng tiền, người bị bắt làm tù binh.
Người làm công là người làm thuê hoặc người làm mướn.
Sa-môn du sĩ là bất cứ người nào đã trở thành du sĩ, ngoại trừ tỳ khưu, tỳ khưu ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, và sa-di-ni.
(Vị ấy nghĩ rằng): ‘Ta sẽ khởi kiện,’ rồi đi tìm người đồng hành hoặc ra đi, phạm tội dukkaṭa. Trình báo cho một người, phạm tội dukkaṭa. Trình báo cho người thứ hai, phạm tội thullaccaya. Vào lúc kết thúc việc kiện tụng, phạm tội saṅghādisesa.
Phạm ngay từ lần đầu tiên: là phạm tội cùng lúc với sự vi phạm đối tượng, không phải do không được nhắc nhở.
Cần được trục xuất: là bị trục xuất ra khỏi hội chúng.
Anāpatti—
Non-offenses
There is no offense:
Saṅghādisesa: Chỉ có hội chúng mới có thể trao pháp mānatta, cho thi hành lại từ đầu, và phục vị cho tội ấy; không phải là nhiều vị tỳ khưu ni, không phải là một vị tỳ khưu ni. Do đó, được gọi là ‘saṅghādisesa.’ Đó là tên gọi, là danh xưng của loại tội ấy. Cũng do đó, được gọi là ‘saṅghādisesa.’
681. Không phạm tội: đi trong khi đang bị người ta lôi kéo, yêu cầu sự bảo vệ, trình báo không có chủ đích, đối với vị bị mất trí ... (như trên) ... đối với vị sơ phạm.
Paṭhamasaṅghādisesasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
The first offense entailing suspension is finished.
Điều học Saṅghādisesa thứ nhất - Dứt.