- Theravāda Vinaya
- Bhikkhunivibhaṅga
- Pācittiyakaṇḍa
- Tuvaṭṭavagga
Bản dịch
Bi Vb Pc 33 — Ba-dật-đề 33
33. Aphāsukaraṇasikkhāpada
Inda-bh 1Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Thullanandā là vị ni nghe nhiều, chuyên đọc tụng thuộc lòng, tự tin, rành rẽ về nói Pháp thoại. Bhaddā Kāpilānī cũng là vị ni nghe nhiều, chuyên đọc tụng thuộc lòng, tự tin, rành rẽ về nói Pháp thoại và được xem là nổi bật. Dân chúng (nghĩ rằng): “Ni sư Bhaddā Kāpilānī là vị ni nghe nhiều, chuyên đọc tụng thuộc lòng, tự tin, rành rẽ về nói Pháp thoại và được xem là nổi bật” nên thăm viếng Bhaddā Kāpilānī trước tiên sau đó mới thăm viếng tỳ khưu ni Thullanandā. Tỳ khưu ni Thullanandā có bản chất ganh tỵ (nghĩ rằng): “Nghe nói các cô này ít ham muốn, tự biết đủ, tách ly, không tụ hội thì cũng chính các cô này sống có nhiều sự giao hảo có nhiều sự khuếch trương” rồi đi tới lui, rồi đứng lại, rồi ngồi xuống, rồi nằm xuống, rồi đọc tụng, rồi bảo đọc tụng, rồi học bài ở phía trước Bhaddā Kāpilānī.
Inda-bh 2Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao ni sư Thullanandā lại cố ý quấy rầy ni sư Bhaddā Kāpilānī?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā cố ý quấy rầy Bhaddā Kāpilānī, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại cố ý quấy rầy Bhaddā Kāpilānī vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào cố ý quấy rầy vị tỳ khưu ni thì phạm tội pācittiya.”
Inda-bh 3Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào … (như trên) …
Tỳ khưu ni: … (như trên) … vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Vị tỳ khưu ni: là vị tỳ khưu ni khác.
Cố ý: sự vi phạm trong khi biết, trong khi có ý định, sau khi đã suy nghĩ, sau khi đã khẳng định.
Quấy rầy: Vị ni (nghĩ rằng): “Do việc này sự không thoải mái sẽ có cho người này ” không hỏi ý rồi đi tới lui, hoặc đứng lại, hoặc ngồi xuống, hoặc nằm xuống, hoặc đọc tụng, hoặc bảo đọc tụng, hoặc học bài ở phía trước thì phạm tội pācittiya.
Người nữ đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc trên, vị ni cố ý quấy rầy thì phạm tội pācittiya. Người nữ đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, vị ni cố ý quấy rầy thì phạm tội pācittiya. Người nữ đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên, vị ni cố ý quấy rầy thì phạm tội pācittiya.
Vị ni cố ý quấy rầy người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa. Người nữ chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa. Người nữ chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Người nữ chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa.
Không có ý định quấy rầy, sau khi đã hỏi ý rồi đi tới lui hoặc đứng lại hoặc ngồi xuống hoặc nằm xuống hoặc đọc tụng hoặc bảo đọc tụng hoặc học bài ở phía trước, vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Nuns’ Analysis
- The chapter on offenses entailing confession
- The subchapter on lying down
Phần Pācittiya trong Phân Tích Tỳ-khưu-ni đã kết thúc.
33. Aphāsukaraṇasikkhāpada
33. Making a nun ill at ease
Origin story
1. Điều học Pāṭidesanīya thứ nhất.
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena thullanandā bhikkhunī bahussutā hoti bhāṇikā visāradā paṭṭā dhammiṁ kathaṁ kātuṁ. Bhaddāpi kāpilānī bahussutā hoti bhāṇikā visāradā paṭṭā dhammiṁ kathaṁ kātuṁ uḷārasambhāvitā. Manussā—“ayyā bhaddā kāpilānī bahussutā bhāṇikā visāradā paṭṭā dhammiṁ kathaṁ kātuṁ uḷārasambhāvitā”ti bhaddaṁ kāpilāniṁ paṭhamaṁ payirupāsitvā, pacchā thullanandaṁ bhikkhuniṁ payirupāsanti. Thullanandā bhikkhunī issāpakatā—“imā kira appicchā santuṭṭhā pavivittā asaṁsaṭṭhā yā imā saññattibahulā viññattibahulā viharantī”ti bhaddāya kāpilāniyā purato caṅkamatipi tiṭṭhatipi nisīdatipi seyyampi kappeti uddisatipi uddisāpetipi sajjhāyampi karoti.
Yā tā bhikkhuniyo appicchā …pe… tā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ayyā thullanandā ayyāya bhaddāya kāpilāniyā sañcicca aphāsuṁ karissatī”ti …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī bhaddāya kāpilāniyā sañcicca aphāsuṁ karotī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī bhaddāya kāpilāniyā sañcicca aphāsuṁ karissati. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, bhikkhuniyo imaṁ sikkhāpadaṁ uddisantu—
“Yā pana bhikkhunī bhikkhuniyā sañcicca aphāsuṁ kareyya, pācittiyan”ti.
- Yā panāti
- yā yādisā …pe…
- bhikkhunīti
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the nun Thullanandā was a learned reciter, and she was confident and skilled at giving teachings. Bhaddā Kāpilānī, too, was a learned reciter who was confident and skilled at giving teachings, and she was respected for her excellence. Because of this, people visited Bhaddā Kāpilānī first and then Thullanandā. Overcome by jealousy, Thullanandā thought, “These ones, who are supposedly contented and have few desires, who are supposedly secluded and not socializing, are always persuading and convincing people.” And in front of Bhaddā Kāpilānī, she walked back and forth, stood, sat down, and lay down, and she recited and had others recite, and she rehearsed.
The nuns of few desires complained and criticized her, “How could Venerable Thullanandā intentionally make Bhaddā Kāpilānī ill at ease?” … “Is it true, monks, that the nun Thullanandā did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked her … “How could the nun Thullanandā do this? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, the nuns should recite this training rule like this:
Final ruling
‘If a nun intentionally makes a nun ill at ease, she commits an offense entailing confession.’”
Definitions
- A:
- whoever …
- Nun:
1228. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của trưởng giả Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Cũng vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ-khưu-ni đã xin bơ sữa rồi dùng. Các hàng cư sĩ phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Làm sao mà các vị tỳ-khưu-ni lại có thể xin bơ sữa rồi dùng chứ! Ai mà lại không thích món ngon, ai mà lại không ưa món hảo vị chứ!” Các vị tỳ-khưu-ni đã nghe được việc các hàng cư sĩ ấy phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra. Các vị tỳ-khưu-ni thiểu dục ... (vân vân) ... các vị ấy đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Làm sao mà nhóm sáu vị tỳ-khưu-ni lại có thể xin bơ sữa rồi dùng chứ!” ... (vân vân) ... Này các tỳ-khưu, có thật là nhóm sáu vị tỳ-khưu-ni đã xin bơ sữa rồi dùng không? – Thưa vâng, bạch đức Thế Tôn. Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... (vân vân) ... Này các tỳ-khưu, làm sao mà nhóm sáu vị tỳ-khưu-ni lại có thể xin bơ sữa rồi dùng chứ! Này các tỳ-khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin ... (vân vân) ... Và này các tỳ-khưu, các tỳ-khưu-ni nên tụng đọc học giới này như sau:
1231. Thế nào là vị nào ... (vân vân) ... thế nào là tỳ-khưu-ni ... (vân vân) ... vị tỳ-khưu-ni được đề cập trong ý nghĩa này.
Upasampannāya upasampannasaññā sañcicca aphāsuṁ karoti, āpatti pācittiyassa. Upasampannāya vematikā sañcicca aphāsuṁ karoti, āpatti pācittiyassa. Upasampannāya anupasampannasaññā sañcicca aphāsuṁ karoti, āpatti pācittiyassa.
Anupasampannāya sañcicca aphāsuṁ karoti, āpatti dukkaṭassa. Anupasampannāya upasampannasaññā, āpatti dukkaṭassa. Anupasampannāya vematikā, āpatti dukkaṭassa. Anupasampannāya anupasampannasaññā, āpatti dukkaṭassa.
Anāpatti—na aphāsuṁ kattukāmā āpucchā purato caṅkamati vā tiṭṭhati vā nisīdati vā seyyaṁ vā kappeti uddisati vā uddisāpeti vā sajjhāyaṁ vā karoti, ummattikāya, ādikammikāyāti.
Tatiyasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
Permutations
If the other person is fully ordained, and she perceives her as such, and she intentionally makes her ill at ease, she commits an offense entailing confession. If the other person is fully ordained, but she is unsure of it, and she intentionally makes her ill at ease, she commits an offense entailing confession. If the other person is fully ordained, but she does not perceive her as such, and she intentionally makes her ill at ease, she commits an offense entailing confession.
If the other person is not fully ordained, and she intentionally makes her ill at ease, she commits an offense of wrong conduct. If the other person is not fully ordained, but she perceives her as such, she commits an offense of wrong conduct. If the other person is not fully ordained, but she is unsure of it, she commits an offense of wrong conduct. If the other person is not fully ordained, and she does not perceive her as such, she commits an offense of wrong conduct.
Non-offenses
There is no offense: if, after asking permission and not desiring to make her ill at ease, she walks back and forth in front of her, or she stands, sits down, or lies down in front of her, or she recites, has others recite, or rehearses in front of her; if she is insane; if she is the first offender.
The third training rule is finished.
1229. Cũng vào lúc bấy giờ, có các vị tỳ-khưu-ni bị bệnh. Các vị tỳ-khưu-ni đi thăm bệnh đã nói với các vị tỳ-khưu-ni bị bệnh điều này: “Thưa các hiền tỷ, các vị có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không?” – “Thưa các hiền tỷ, trước đây chúng tôi xin bơ sữa rồi dùng thì được khỏe mạnh; còn bây giờ, do áy náy rằng: ‘Đã bị đức Thế Tôn ngăn cấm’ nên chúng tôi không xin, vì thế chúng tôi không được khỏe mạnh.” ... (vân vân) ... Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (vân vân) ... Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tỳ-khưu-ni bị bệnh được xin bơ sữa rồi dùng. Và này các tỳ-khưu, các tỳ-khưu-ni nên tụng đọc học giới này như sau: