Bản dịch
NE 33 — Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xác Định
Adhiṭṭhānahārasampāta
Ở đấy, sự phối hợp cách truyền đạt bằng sự xác định là sự việc nào? Kệ ngôn là: “Vì thế, nên là người có tâm đã được phòng hộ, có chánh tư duy là hành xứ, ...” ‘Vì thế, nên là người có tâm đã được phòng hộ’: là tính trạng đồng nhất; tâm, ý, thức, đây là tính trạng khác biệt. ‘Có chánh tư duy là hành xứ’: là tính trạng đồng nhất; tư duy về xuất ly, tư duy về không sân hận, tư duy về không hãm hại, đây là tính trạng khác biệt. ‘Có chánh kiến đặt ở hàng đầu’: là tính trạng đồng nhất; gọi là chánh kiến (nói đến) sự biết về Khổ,― ―sự biết về nhân sanh Khổ, sự biết về sự diệt tận Khổ, sự biết về lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ, sự biết về Đạo, sự biết về nhân, sự biết về các pháp đã được sanh khởi do nhân, sự biết về duyên, sự biết về các pháp đã được tùy thuận sanh khởi; việc biết và thấy đúng theo thực thể ở mỗi một trường hợp, sự chứng ngộ, sự hoàn toàn thấu triệt, sự đi đến Chân Lý; đây là tính trạng khác biệt. ‘Sau khi biết được pháp sanh diệt’: là tính trạng đồng nhất; với sự sanh thì vô minh duyên cho các hành, các hành duyên cho thức, (toàn bộ là tương tự như vậy), như thế là sự sanh lên (của toàn bộ khổ uẩn này); với sự diệt thì do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của các hành; do sự diệt tận của các hành, có sự diệt tận của thức; (toàn bộ là tương tự như vậy); như thế là sự diệt tận (của toàn bộ khổ uẩn này); đây là tính trạng khác biệt. ‘Là người ngự trị dã dượi và buồn ngủ, vị tỳ khưu’: là tính trạng đồng nhất; gọi là ‘dã dượi’ (nói đến) trạng thái không có thể sử dụng của tâm, gọi là ‘buồn ngủ’ (nói đến) trạng thái lười biếng của thân; đây là tính trạng khác biệt. ‘Từ bỏ mọi khổ cảnh’: là tính trạng đồng nhất; so sánh với chư Thiên và nhân loại thì các đọa xứ là khổ cảnh, hoặc là so sánh với Niết Bàn thì tất cả các sự tái sanh là khổ cảnh; đây là tính trạng khác biệt. Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xác Định được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
76. Tattha katamo adhiṭṭhāno hārasampāto?
76. Herein, what is the Confluence of the Mode of Determination?
76. Trong ấy, phần Hướng Dẫn Quyết Định là gì?
Tasmā rakkhitacittassa, sammāsaṅkappagocaroti gāthā. Tasmā rakkhitacittassāti ekattatā. Cittaṃ mano viññāṇaṃ, ayaṃ vemattatā. Sammāsaṅkappagocaroti ekattatā. Nekkhammasaṅkappo abyāpādasaṅkappo avihiṃsāsaṅkappo ayaṃ vemattatā. Sammādiṭṭhipurekkhāroti ekattatā. Sammādiṭṭhi nāma yaṃ dukkhe ñāṇaṃ dukkhasamudaye ñāṇaṃ dukkhanirodhe ñāṇaṃ dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ magge ñāṇaṃ hetumhi ñāṇaṃ hetusamuppannesu dhammesu ñāṇaṃ paccaye ñāṇaṃ paccayasamuppannesu dhammesu ñāṇaṃ, yaṃ tattha tattha yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ abhisamayo sampaṭivedho saccāgamanaṃ, ayaṃ vemattatā. Ñatvāna udayabbayanti ekattatā, udayena avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, evaṃ sabbaṃ samudayo bhavati. Vayena avijjānirodhā saṅkhāranirodho, evaṃ sabbaṃ nirodho hoti, ayaṃ vemattatā. Thinamiddhābhibhū bhikkhūti ekattatā, thinaṃ nāma yā cittassa akallatā akammaniyatā, middhaṃ nāma yaṃ kāyassa līnattaṃ, ayaṃ vemattatā. Sabbā duggatiyo jaheti ekattatā, devamanusse vā upanidhāya apāyā duggati, nibbānaṃ vā upanidhāya sabbā upapattiyo duggati, ayaṃ vemattatā.
The verse is: “Therefore, for one with a guarded mind, right intention is the pasture.” “Therefore, for one with a guarded mind” is unity. Mind, intellect, consciousness—this is diversity. “With right intention as its pasture” is unity. The intention of renunciation, the intention of non-ill-will, the intention of non-harming—this is diversity. “With right view as a forerunner” is unity. Right view is the knowledge of suffering, the knowledge of the origin of suffering, the knowledge of the cessation of suffering, the knowledge of the path leading to the cessation of suffering; the knowledge of the path, the knowledge of the cause, the knowledge of phenomena arisen from a cause, the knowledge of a condition, the knowledge of phenomena arisen from a condition; whatever knowledge and vision of things as they truly are, whatever penetration, thorough understanding, and arrival at the truth there is in these respective things—this is diversity. “Having known arising and passing away” is unity. By arising: with ignorance as a condition, formations arise; with formations as a condition, consciousness arises—thus the entire arising occurs. By passing away: with the cessation of ignorance, the cessation of formations occurs—thus the entire cessation occurs. This is diversity. “A bhikkhu who overcomes sloth and torpor” is unity. Sloth is whatever unworkability and unserviceability of the mind there is; torpor is whatever sluggishness of the body there is. This is diversity. “One abandons all miserable destinations” is unity. Taking devas and humans as a basis, the lower realms are a miserable destination; or, taking Nibbāna as a basis, all destinations of existence are a miserable destination. This is diversity.
Câu kệ: ‘Do đó, với người có tâm được hộ trì, có chánh tư duy làm cảnh giới.’ ‘Do đó, với người có tâm được hộ trì’ là tính đồng nhất. Tâm, ý, thức, đây là tính dị biệt. ‘Có chánh tư duy làm cảnh giới’ là tính đồng nhất. Tư duy ly tham, tư duy vô sân, tư duy vô hại, đây là tính dị biệt. ‘Với chánh kiến đi trước’ là tính đồng nhất. Chánh kiến là trí tuệ về khổ, trí tuệ về khổ tập, trí tuệ về khổ diệt, trí tuệ về con đường đưa đến khổ diệt, trí tuệ về đạo, trí tuệ về nhân, trí tuệ về các pháp sanh từ nhân, trí tuệ về duyên, trí tuệ về các pháp sanh từ duyên; ở nơi này nơi kia, tri kiến như thật, sự thắng tri, sự thông đạt, sự đạt đến chân lý, đây là tính dị biệt. ‘Biết được sanh và diệt’ là tính đồng nhất. Do sanh khởi: do duyên vô minh, các hành sanh khởi; do duyên hành, thức sanh khởi; như vậy toàn bộ là sự tập khởi. Do hoại diệt: do vô minh diệt, hành diệt; như vậy toàn bộ là sự đoạn diệt, đây là tính dị biệt. ‘Tỳ khưu chế ngự hôn trầm thụy miên’ là tính đồng nhất. Hôn trầm là sự không thích hợp, không dễ sử dụng của tâm. Thụy miên là sự co rút của thân, đây là tính dị biệt. ‘Từ bỏ mọi ác thú’ là tính đồng nhất. So với chư thiên và loài người, các cõi dữ là ác thú; hoặc so với Niết-bàn, tất cả các sanh thú đều là ác thú, đây là tính dị biệt.
Niyutto adhiṭṭhāno hārasampāto.
Expounded is the Confluence of the Mode of Determination.
Phần Hướng Dẫn Quyết Định đã được trình bày.