- Majjhima Nikāya 94
Ghoṭamukhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Ghoṭamukhasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Tôn giả Udena trú ở Bārāṇāsī (Ba-la-nại), tại rừng xoài Khemiya.
SC 2Lúc bấy giờ Bà-la-môn Ghotamukha đến tại Bārāṇāsī có một vài công việc. Rồi Bà-la-môn Ghotamukha tản bộ du hành và đi đến rừng xoài Khemiya. Lúc bấy giờ Tôn giả Udena đang đi kinh hành ở giữa trời. Rồi Bà-la-môn Ghotamakha đi đến Tôn giả Udena, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Udena, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền nói với Tôn giả Udena đang đi kinh hành
SC 3—Thưa Tôn giả Sa-môn, không có một sự xuất gia đúng pháp. Hình như đối với con: vì không thấy một Tôn giả như Ngài, hay ở đây pháp ấy là gì?
SC 4Khi nghe nói vậy, Tôn giả Udena từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào trong tinh xá (vihāra), rồi ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Bà-la-môn Ghotamukha cũng từ chỗ kinh hành bước xuống, vào trong tinh xá rồi đứng một bên. Tôn giả Udena nói với Bà-la-môn Ghotamukha đang đứng một bên
SC 5—Này Bà-la-môn, đây có những ghế ngồi. Nếu muốn, hãy ngồi xuống.
SC 6—Trong khi chúng con đến với Tôn giả Udena, chúng con không ngồi. Làm sao người như con lại nghĩ đến ngồi xuống, trước khi được mời.
SC 7Rồi Ba La Môn Ghotamukha lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ghotamukha nói với Tôn giả Udena
SC 8—Thưa Tôn giả Sa-môn, không có sự xuất gia đúng pháp. Hình như đối với con: vì không thấy một Tôn giả như Ngài, hay ở đây pháp ấy là gì?
SC 9—Này Bà-la-môn, nếu Ông tán đồng những gì ta tán đồng, và bài bác những gì cần phải bài bác, và có điều gì ta nói mà Ông không biết. Ở đây, Ông có thể hỏi thêm ta: “Thưa Tôn giả Udena, cái này là thế nào? Ý nghĩa cái này là gì?” Sau khi sắp đặt như vậy, ở đây sẽ có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.
SC 10—Con sẽ tán đồng những gì Tôn giả Udena tán đồng, và bài bác những gì cần phải bài bác. Và có điều gì Tôn giả Udena nói mà con không biết. Ở đây, con có thể hỏi thêm Tôn giả Udena: “Tôn giả Udena, cái này là thế nào? Ý nghĩa cái này là gì?” Sau khi sắp đặt như vậy, ở đây mong sẽ có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.
SC 11—Này Bà-la-môn, ở đây có bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này Bà-la-môn, có người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình. Ở đây, này Bà-la-môn, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Người ấy không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Này Bà-la-môn, bốn hạng người này, hạng người nào được tâm Ông thích ý nhất?
SC 12—Thưa Tôn giả Udena, hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình; hạng người này, tâm con không thích ý. Thưa Tôn giả Udena, hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này, tâm con không thích ý. Thưa Tôn giả Udena, hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người; hạng người này, tâm con không thích ý. Thưa Tôn giả Udena, hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người; hạng người không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại, không có tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể, hạng người này, tâm con thích ý.
SC 13—Này Bà-la-môn, vì sao tâm Ông không thích ý ba hạng người này?
SC 14—Thưa tôn giả Udena, hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, hạng người này tự hành khổ mình, tự hành hạ mình, trong khi tự ao ước lạc, yểm ly khổ. Do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Thưa Tôn giả Udena, hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người; hạng người này hành khổ người khác, hành hạ người khác, trong khi người khác ao ước lạc, yểm ly khổ. Do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Thưa Tôn giả Udena, hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người; hạng người này hành khổ, hành hạ mình và người khác, trong khi mình và người khác ao ước lạc, yểm ly khổ. Do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Nhưng thưa Tôn giả Udena, hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người này không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Do vậy, tâm con thích ý hạng người này.
SC 15—Này Bà-la-môn, có hai hội chúng này. Thế nào là hai? Ở đây, này Bà-la-môn có hội chúng vì tham đắm châu báu và đồ trang sức, tìm cầu vợ con, tìm cầu đầy tớ nam, đầy tớ nữ, tìm cầu ruộng đất, tìm cầu vàng bạc. Ở đây, này Ba La Môn, lại có hội chúng, không tham đắm châu báu và đồ trang sức, từ bỏ vợ con, từ bỏ đầy tớ nam, đầy tớ nữ, từ bỏ ruộng đất, từ bỏ vàng bạc, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Bà-la-môn, hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Này Bà-la-môn, trong hội chúng nào Ông thấy phần lớn hạng người này: trong hội chúng tham đắm châu báu và đồ trang sức, tìm cầu vợ con, tìm cầu đầy tớ nam, đầy tớ nữ, tìm cầu ruộng đất, tìm cầu vàng bạc, hay là trong hội chúng không tham đắm châu báu và đồ trang sức, từ bỏ vợ con, từ bỏ đầy tớ nam, đầy tớ nữ, từ bỏ ruộng đất, từ bỏ vàng bạc, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
SC 16—Tôn giả Udena, hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyện tâm hành khổ người; hạng người không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể; hạng người này, trong hội chúng không tham đắm châu báu, và đồ trang sức, từ bỏ vợ con, từ bỏ đầy tớ nam, đầy tớ nữ, từ bỏ ruộng đất, từ bỏ vàng bạc, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, trong hội chúng ấy con thấy phần lớn hạng người này.
SC 17—Nhưng này Bà-la-môn, nay Ông vừa mới nói: “Chúng con biết như sau, thưa Tôn giả Sa-môn, không có một sự xuất gia đúng pháp. Hình như đối với con: vì không thấy một Tôn giả như Ngài hay ở đây pháp ấy là gì?”
SC 18—Thưa Tôn giả Udena, thật sự lời nói ấy có lợi ích cho con. Có một sự xuất gia đúng pháp. Ở đây, đối với con là như vậy, và mong Tôn giả Udena chấp trì con là như vậy. Bốn hạng người được Tôn giả Udena nói một cách vắn tắt, không giải thích rộng ra, lành thay, nếu được Tôn giả Udena khởi lòng từ phân tích rộng rãi cho con bốn hạng người này.
SC 19—Này Bà-la-môn, vậy hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 20Bà-la-môn Ghotamukha vâng đáp Tôn giả Udena.
SC 21Tôn giả Udena nói như sau
SC 22—Này Bà-la-môn, thế nào là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình? Ở đây, này Bà-la-môn, có người sống lõa thể sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng một chỗ, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn dành riêng, không nhận mời đi ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ nơi miệng chảo, không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy, không nhận giữa những cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang giao cấu người đàn ông, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận tại chỗ có chó đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, hay chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, hay chỉ nhận ăn hai miếng … hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy nhà, hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, … nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, … bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rong nước, ăn bột tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ hay ăn phân bò. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tirīṭa làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện bằng từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cừu. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là người ngồi chõ hỏ, chuyên sống theo hạnh ngồi chõ hỏ, một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy dưới nhiều hình thức, vị ấy sống tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình. Như vậy, này Bà-la-môn, được gọi là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình.
SC 23Và này Bà-la-môn, thế nào là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, Bà-la-môn, có người giết trâu bò, là người giết heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, thợ đánh cá, ăn trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và những người làm các nghề độc ác khác. Như vậy, này Bà-la-môn, được gọi là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
SC 24Và này Bà-la-môn, thế nào là hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, này Bà-la-môn, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lị, đã làm lễ quán đảnh, hay một Bà-la-môn triệu phú. Vị này cho xây dựng một giảng đường mới về phía Ðông thành phố, cạo bỏ râu tóc, đắp áo da thô, toàn thân bôi thục tô và dầu, gãi lưng với một sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một Bà-la-môn tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lát cỏ. Vị vua sống với sữa từ vú một con bò cái, có con bò con cùng một mầu sắc; bà vợ chính sống với sữa từ vú thứ hai; và vị Bà-la-môn tế tự sống với sữa từ vú thứ ba. Sữa từ vú thứ tư dùng để tế lửa. Còn con nghé con thì sống với đồ còn lại. Vị vua nói như sau: “Hãy giết một số bò đực để tế lễ, hãy giết một số nghé đực để tế lễ, hãy giết một số nghé cái để tế lễ, hãy giết một số dê để tế lễ, hãy giết một số cừu để tế lễ, hãy chặt một số cây để làm cột tế lễ, hãy thâu lượm một số cỏ dabba để làm chỗ tế lễ. Và những người nô tỳ, những người phục vụ, những người làm công, những người này vì sợ đòn gậy, vì sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này Bà-la-môn, được gọi là hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
SC 25Và này Bà-la-môn, thế nào là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người này không tự hành khổ mình, không hành khổ người, hiện tại sống không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể?
SC 26Ở đây, này Bà-la-môn, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 27Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp hạ tiện nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 28Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống Bà-la-môn, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.
SC 29Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 30Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 31Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo y và bình bát. Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
SC 32Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
SC 33Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
SC 34Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
SC 35Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 36Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ.
SC 37Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
SC 38Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.
SC 39Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 40Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 41Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: “Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này”. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
SC 42Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là Con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.
SC 43Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.
SC 44Như vậy, này Bà-la-môn, được gọi là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Vị ấy không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. ”
SC 45Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ghotamukha nói với Tôn giả Udena
SC 46—Thật vi diệu thay, Tôn giả Udena! Thật vi diệu thay, Tôn giả Udena! Thưa Tôn giả Udena, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, (Chánh) pháp đã được Tôn giả Udena dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Udena, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Udena nhận còn làm cư sĩ, từ này cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 47—Này Bà-la-môn, chớ có quy y với ta. Hãy quy y với Thế Tôn, bậc mà ta đã quy y.
SC 48—Thưa Tôn giả Udena, nay Tôn giả Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở tại đâu?
SC 49—Này Bà-la-môn, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nhập Niết-bàn.
SC 50—Thưa Tôn giả Udena, nếu chúng con được nghe Tôn giả Gotama ở cách mười do-tuần (yojana), chúng con sẽ đi mười do-tuần ấy để được yết kiến Tôn giả Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Udena, nếu chúng con được nghe Tôn giả Gotama ở cách hai mươi do-tuần … ba mươi do-tuần … bốn mươi do-tuần … năm mươi do-tuần, chúng con sẽ đi năm mươi do-tuần để được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Udena, nếu chúng con được nghe Tôn giả Gotama ở cách một trăm do-tuần (yojana), chúng con sẽ đi một trăm do tuần để được yết kiến Tôn giả Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Udena, vì Tôn giả Gotama đã nhập Niết-bàn, chúng con xin quy y Tôn giả Gotama đã nhập Niết-bàn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Udena nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 51Thưa Tôn giả Udena, vua nước Anga có cúng dường cho con một bố thí thường xuyên hằng ngày, nay con xin cúng dường Tôn giả Udena bố thí thường xuyên ấy.
SC 52—Này Bà-la-môn, vua nước Anga cúng dường thường xuyên hằng ngày cho Ông là bao nhiêu?
SC 53—Thưa Tôn giả Udena, năm trăm Kahāpana (đồng tiền vàng).
SC 54—Này Bà-la-môn, ta không được phép nhận vàng và bạc.
SC 55—Nếu Tôn giả Udena không được phép nhận vàng và bạc, con sẽ cho làm một tinh xá cho Tôn giả Udena.
SC 56—Này Bà-la-môn, nếu ông muốn xây dựng một tinh xá cho ta, thì hãy xây dựng một giảng đường cho chúng Tăng ở Pātaliputta.
SC 57—Con lại càng bội phần hân hoan, hoan hỷ, thỏa mãn với Tôn giả Udena, khi Tôn giả khuyến khích con cúng dường chúng Tăng. Thưa Tôn giả Udena, với bố thí thường xuyên này và với bố thí thường xuyên khác về sau, con sẽ cho xây dựng một giảng đường cho chúng Tăng ở Pātaliputta.
SC 58Rồi Bà-la-môn Ghotamukha với bố thí thường xuyên này và với bố thí thường xuyên khác về sau, cho xây dựng một giảng đường cho chúng Tăng ở Pātaliputta. Nay giảng đường ấy được gọi là Ghotamukhi.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 18–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Ghoṭamukha
Tena kho pana samayena ghoṭamukho brāhmaṇo bārāṇasiṁ anuppatto hoti kenacideva karaṇīyena. Atha kho ghoṭamukho brāhmaṇo jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno yena khemiyambavanaṁ tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena āyasmā udeno abbhokāse caṅkamati. Atha kho ghoṭamukho brāhmaṇo yenāyasmā udeno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā udenena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā āyasmantaṁ udenaṁ caṅkamantaṁ anucaṅkamamāno evamāha: “ambho samaṇa, ‘natthi dhammiko paribbajo’—evaṁ me ettha hoti. Tañca kho bhavantarūpānaṁ vā adassanā, yo vā panettha dhammo”ti.
Now at that time the brahmin Ghoṭamukha had arrived at Varanasi on some business. Then as he was going for a walk he went to the Khemiya Mango Grove. At that time Venerable Udena was walking mindfully in the open air. Ghoṭamukha approached and exchanged greetings with him.
Walking alongside Udena, he said, “My ascetic, there is no such thing as a principled renunciate life; that’s what I think. Yet I have not seen honorable ones such as yourself, or a relevant teaching.”
412. Tôi đã nghe như vầy. Một thời, trưởng lão Udena đang trú ở tại vườn xoài Khemiya ở Bārāṇasī. Và vào lúc ấy, Bà-la-môn Ghoṭamukha đã đi đến Bārāṇasī vì có một vài công việc. Khi ấy, Bà-la-môn Ghoṭamukha, trong khi đang đi dạo và đi bách bộ, đã đi đến vườn xoài Khemiya. Và vào lúc ấy, trưởng lão Udena đang đi kinh hành ở ngoài trời. Khi ấy, Bà-la-môn Ghoṭamukha đã đi đến chỗ trưởng lão Udena; sau khi đi đến, ông đã cùng với trưởng lão Udena trao đổi lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và những lời thăm hỏi đáng ghi nhớ, trong khi đi theo sau trưởng lão Udena đang đi kinh hành, ông đã nói như sau: ‘Thưa Sa-môn, ‘không có người xuất gia nào sống đúng theo Pháp’ – ở đây, tôi có suy nghĩ như vậy. Và điều ấy là do không được gặp gỡ những vị như ngài, hoặc là do không thấy được Pháp ở đây.’
Evaṁ vutte, āyasmā udeno caṅkamā orohitvā vihāraṁ pavisitvā paññatte āsane nisīdi. Ghoṭamukhopi kho brāhmaṇo caṅkamā orohitvā vihāraṁ pavisitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho ghoṭamukhaṁ brāhmaṇaṁ āyasmā udeno etadavoca: “saṁvijjanti kho, brāhmaṇa, āsanāni. Sace ākaṅkhasi, nisīdā”ti.
“Etadeva kho pana mayaṁ bhoto udenassa āgamayamānā nisīdāma. Kathañhi nāma mādiso pubbe animantito āsane nisīditabbaṁ maññeyyā”ti?
Atha kho ghoṭamukho brāhmaṇo aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho ghoṭamukho brāhmaṇo āyasmantaṁ udenaṁ etadavoca: “ambho samaṇa, ‘natthi dhammiko paribbajo’—evaṁ me ettha hoti. Tañca kho bhavantarūpānaṁ vā adassanā, yo vā panettha dhammo”ti.
“Sace kho pana me tvaṁ, brāhmaṇa, anuññeyyaṁ anujāneyyāsi, paṭikkositabbañca paṭikkoseyyāsi; yassa ca pana me bhāsitassa atthaṁ na jāneyyāsi, mamaṁyeva tattha uttari paṭipuccheyyāsi: ‘idaṁ, bho udena, kathaṁ, imassa kvattho’ti? Evaṁ katvā siyā no ettha kathāsallāpo”ti.
“Anuññeyyaṁ khvāhaṁ bhoto udenassa anujānissāmi, paṭikkositabbañca paṭikkosissāmi; yassa ca panāhaṁ bhoto udenassa bhāsitassa atthaṁ na jānissāmi, bhavantaṁyeva tattha udenaṁ uttari paṭipucchissāmi: ‘idaṁ, bho udena, kathaṁ, imassa kvattho’ti? Evaṁ katvā hotu no ettha kathāsallāpo”ti.
When he said this, Udena stepped down from the walking path, entered his dwelling, and sat down on the seat spread out. Ghoṭamukha also stepped down from the walking path and entered the dwelling, where he stood to one side. Udena said to him, “There are seats, brahmin. Please sit if you wish.”
“I was just waiting for you to sit down. For how on earth could one such as I presume to sit first without being invited?”
Then he took a low seat and sat to one side, where he said, “My ascetic, there is no such thing as a principled renunciate life; that’s what I think. Yet I have not seen worthy ones such as yourself, or a relevant teaching.”
“Brahmin, we can discuss this. But only if you grant what should be granted, and reject what should be rejected. And if you ask me the meaning of anything you don’t understand, saying: ‘Sir, why is this? What does that mean?’”
“Let us discuss this. I will do as you say.”
Khi được nói như vậy, trưởng lão Udena đã đi xuống khỏi nơi kinh hành, đi vào tịnh xá, và ngồi xuống ở trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Bà-la-môn Ghoṭamukha cũng đi xuống khỏi nơi kinh hành, đi vào tịnh xá, và đứng ở một bên. Trưởng lão Udena đã nói với Bà-la-môn Ghoṭamukha đang đứng ở một bên như sau: ‘Này Bà-la-môn, có các chỗ ngồi. Nếu ông muốn, hãy ngồi xuống.’ ‘Chính vì đang chờ đợi lời mời này của ngài Udena nên chúng tôi đã không ngồi. Làm sao một người như tôi lại có thể nghĩ rằng nên ngồi xuống ở trên chỗ ngồi trước khi được mời?’ Khi ấy, Bà-la-môn Ghoṭamukha đã lấy một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi xuống ở một bên. Sau khi đã ngồi xuống ở một bên, Bà-la-môn Ghoṭamukha đã nói với trưởng lão Udena như sau: ‘Thưa Sa-môn, ‘không có người xuất gia nào sống đúng theo Pháp’ – ở đây, tôi có suy nghĩ như vậy. Và điều ấy là do không được gặp gỡ những vị như ngài, hoặc là do không thấy được Pháp ở đây.’ ‘Này Bà-la-môn, nếu ông chấp thuận cho tôi điều đáng được chấp thuận, và phản đối điều đáng bị phản đối; và nếu ông không hiểu được ý nghĩa của lời nói nào đó của tôi, ông nên hỏi lại chính tôi về điều ấy rằng: ‘Thưa ngài Udena, điều này là thế nào, ý nghĩa của điều này là gì?’ Sau khi làm như vậy, cuộc hội luận của chúng ta ở đây có thể được diễn ra.’ ‘Tôi sẽ chấp thuận cho ngài Udena điều đáng được chấp thuận, và sẽ phản đối điều đáng bị phản đối; và nếu tôi không hiểu được ý nghĩa của lời nói nào đó của ngài Udena, tôi sẽ hỏi lại chính ngài Udena về điều ấy rằng: ‘Thưa ngài Udena, điều này là thế nào, ý nghĩa của điều này là gì?’ Sau khi làm như vậy, mong rằng cuộc hội luận của chúng ta ở đây được diễn ra.’
“Cattārome, brāhmaṇa, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Imesaṁ, brāhmaṇa, catunnaṁ puggalānaṁ katamo te puggalo cittaṁ ārādhetī”ti?
“Brahmin, these four individuals are found in the world. What four?
Which one of these four individuals do you like the sound of?”
413. Này Bà la môn, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Bốn hạng người nào? Này Bà la môn, ở đây, có hạng người tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh. Này Bà la môn, lại nữa, ở đây, có hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác. Này Bà la môn, lại nữa, ở đây, có hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác. Này Bà la môn, lại nữa, ở đây, có hạng người không tự hành khổ, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh, không hành khổ người khác, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác. Vị ấy, không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, được tịch tịnh, thanh lương, cảm giác lạc thọ, sống với tự thân thanh tịnh. Này Bà la môn, trong bốn hạng người này, hạng người nào làm cho tâm của ông được hoan hỷ?
“Yvāyaṁ, bho udena, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto ayaṁ me puggalo cittaṁ nārādheti; yopāyaṁ, bho udena, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto ayampi me puggalo cittaṁ nārādheti; yopāyaṁ, bho udena, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto ayampi me puggalo cittaṁ nārādheti; yo ca kho ayaṁ, bho udena, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati. Ayameva me puggalo cittaṁ ārādhetī”ti.
“Worthy Udena, I don’t like the sound of the first three individuals. I only like the sound of the last individual, who doesn’t mortify either themselves or others.”
Thưa ngài Udena, hạng người tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh, hạng người này không làm cho tâm của tôi được hoan hỷ. Thưa ngài Udena, hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác, hạng người này cũng không làm cho tâm của tôi được hoan hỷ. Thưa ngài Udena, hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác, hạng người này cũng không làm cho tâm của tôi được hoan hỷ. Thưa ngài Udena, còn hạng người không tự hành khổ, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh, không hành khổ người khác, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác; vị ấy, không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, được tịch tịnh, thanh lương, cảm giác lạc thọ, sống với tự thân thanh tịnh. Chính hạng người này làm cho tâm của tôi được hoan hỷ.
“Kasmā pana te, brāhmaṇa, ime tayo puggalā cittaṁ nārādhentī”ti?
“Yvāyaṁ, bho udena, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto so attānaṁ sukhakāmaṁ dukkhapaṭikkūlaṁ ātāpeti paritāpeti; iminā me ayaṁ puggalo cittaṁ nārādheti. Yopāyaṁ, bho udena, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto so paraṁ sukhakāmaṁ dukkhapaṭikkūlaṁ ātāpeti paritāpeti; iminā me ayaṁ puggalo cittaṁ nārādheti. Yopāyaṁ, bho udena, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto so attānañca parañca sukhakāmaṁ dukkhapaṭikkūlaṁ ātāpeti paritāpeti; iminā me ayaṁ puggalo cittaṁ nārādheti. Yo ca kho ayaṁ, bho udena, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati, so attānañca parañca sukhakāmaṁ dukkhapaṭikkūlaṁ neva ātāpeti na paritāpeti; iminā me ayaṁ puggalo cittaṁ ārādhetī”ti.
“But why don’t you like the sound of those three individuals?”
“Worthy Udena, the individual who mortifies themselves does so even though they want to be happy and recoil from pain. That’s why I don’t like the sound of that individual. The individual who mortifies others does so even though others want to be happy and recoil from pain. That’s why I don’t like the sound of that individual. The individual who mortifies themselves and others does so even though both themselves and others want to be happy and recoil from pain. That’s why I don’t like the sound of that individual. The individual who doesn’t mortify either themselves or others—living without wishes, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine—does not torment themselves or others, both of whom want to be happy and recoil from pain. That’s why I like the sound of that individual.”
Này Bà la môn, vì sao ba hạng người này không làm cho tâm của ông được hoan hỷ? Thưa ngài Udena, hạng người tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh, vị ấy làm cho tự thân mình bị thiêu đốt, bị giày vò, trong khi tự thân lại muốn được an lạc, ghét sợ đau khổ; vì lý do này, hạng người ấy không làm cho tâm của tôi được hoan hỷ. Thưa ngài Udena, hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác, vị ấy làm cho người khác bị thiêu đốt, bị giày vò, trong khi người khác lại muốn được an lạc, ghét sợ đau khổ; vì lý do này, hạng người ấy không làm cho tâm của tôi được hoan hỷ. Thưa ngài Udena, hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm thực hành khổ hạnh, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác, vị ấy làm cho tự thân và người khác bị thiêu đốt, bị giày vò, trong khi tự thân và người khác lại muốn được an lạc, ghét sợ đau khổ; vì lý do này, hạng người ấy không làm cho tâm của tôi được hoan hỷ. Thưa ngài Udena, còn hạng người không tự hành khổ, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh, không hành khổ người khác, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác; vị ấy, không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, được tịch tịnh, thanh lương, cảm giác lạc thọ, sống với tự thân thanh tịnh; vị ấy không làm cho tự thân và người khác bị thiêu đốt, bị giày vò, trong khi tự thân và người khác lại muốn được an lạc, ghét sợ đau khổ; vì lý do này, hạng người ấy làm cho tâm của tôi được hoan hỷ.
“Dvemā, brāhmaṇa, parisā. Katamā dve? Idha, brāhmaṇa, ekaccā parisā sārattarattā maṇikuṇḍalesu puttabhariyaṁ pariyesati, dāsidāsaṁ pariyesati, khettavatthuṁ pariyesati, jātarūparajataṁ pariyesati.
“There are, brahmin, these two groups of people. What two? There’s one group of people who, being obsessed with jeweled earrings, seeks partners and children, male and female bondservants, fields and lands, and gold and currency.
414. Này Bà la môn, có hai loại hội chúng này. Hai loại nào? Này Bà la môn, ở đây, có một loại hội chúng do tham đắm, say mê các loại bông tai ngọc ngà, nên tìm kiếm vợ con, tìm kiếm tôi trai tớ gái, tìm kiếm ruộng vườn, tìm kiếm vàng bạc.
Idha pana, brāhmaṇa, ekaccā parisā asārattarattā maṇikuṇḍalesu puttabhariyaṁ pahāya, dāsidāsaṁ pahāya, khettavatthuṁ pahāya, jātarūparajataṁ pahāya, agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā.
Svāyaṁ, brāhmaṇa, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto. So anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati. Idha katamaṁ tvaṁ, brāhmaṇa, puggalaṁ katamāya parisāya bahulaṁ samanupassasi—yā cāyaṁ parisā sārattarattā maṇikuṇḍalesu puttabhariyaṁ pariyesati dāsidāsaṁ pariyesati khettavatthuṁ pariyesati jātarūparajataṁ pariyesati, yā cāyaṁ parisā asārattarattā maṇikuṇḍalesu puttabhariyaṁ pahāya dāsidāsaṁ pahāya khettavatthuṁ pahāya jātarūparajataṁ pahāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā”ti?
And there’s another group of people who, not being obsessed with jeweled earrings, has given up partner and children, male and female bondservants, fields and lands, and gold and currency, and goes forth from the lay life to homelessness.
Now, brahmin, that individual who doesn’t mortify either themselves or others—in which of these two groups of people do you usually find such an individual?”
Này Bà la môn, lại nữa, ở đây, có một loại hội chúng do không tham đắm, không say mê các loại bông tai ngọc ngà, nên đã từ bỏ vợ con, từ bỏ tôi trai tớ gái, từ bỏ ruộng vườn, từ bỏ vàng bạc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã xuất gia. Này Bà la môn, hạng người này không tự hành khổ, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh, không hành khổ người khác, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác. Vị ấy, không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, được tịch tịnh, thanh lương, cảm giác lạc thọ, sống với tự thân thanh tịnh. Ở đây, này Bà la môn, ông thường thấy hạng người nào trong hội chúng nào nhiều hơn – hội chúng do tham đắm, say mê các loại bông tai ngọc ngà, nên tìm kiếm vợ con, tìm kiếm tôi trai tớ gái, tìm kiếm ruộng vườn, tìm kiếm vàng bạc; hay là hội chúng do không tham đắm, không say mê các loại bông tai ngọc ngà, nên đã từ bỏ vợ con, từ bỏ tôi trai tớ gái, từ bỏ ruộng vườn, từ bỏ vàng bạc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã xuất gia?
“Yvāyaṁ, bho udena, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati; imāhaṁ puggalaṁ yāyaṁ parisā asārattarattā maṇikuṇḍalesu puttabhariyaṁ pahāya dāsidāsaṁ pahāya khettavatthuṁ pahāya jātarūparajataṁ pahāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā imissaṁ parisāyaṁ bahulaṁ samanupassāmī”ti.
“I usually find such an individual in the group that has gone forth from the lay life to homelessness.”
Thưa ngài Udena, hạng người không tự hành khổ, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh, không hành khổ người khác, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh cho người khác; vị ấy, không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, được tịch tịnh, thanh lương, cảm giác lạc thọ, sống với tự thân thanh tịnh; tôi thường thấy hạng người này nhiều hơn ở trong hội chúng mà do không tham đắm, không say mê các loại bông tai ngọc ngà, nên đã từ bỏ vợ con, từ bỏ tôi trai tớ gái, từ bỏ ruộng vườn, từ bỏ vàng bạc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã xuất gia.
“Idāneva kho pana te, brāhmaṇa, bhāsitaṁ: ‘mayaṁ evaṁ ājānāma—ambho samaṇa, natthi dhammiko paribbajo, evaṁ me ettha hoti. Tañca kho bhavantarūpānaṁ vā adassanā, yo vā panettha dhammo’”ti.
“Addhā mesā, bho udena, sānuggahā vācā bhāsitā. ‘Atthi dhammiko paribbajo’—evaṁ me ettha hoti. Evañca pana maṁ bhavaṁ udeno dhāretu. Ye ca me bhotā udenena cattāro puggalā saṅkhittena vuttā vitthārena avibhattā, sādhu me bhavaṁ, udeno ime cattāro puggale vitthārena vibhajatu anukampaṁ upādāyā”ti.
“Tena hi, brāhmaṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho ghoṭamukho brāhmaṇo āyasmato udenassa paccassosi. Āyasmā udeno etadavoca:
“Just now I understood you to say: ‘My ascetic, there is no such thing as a principled renunciate life; that’s what I think. Yet I have not seen honorable ones such as yourself, or a relevant teaching.’”
“Well, I obviously had my reasons for saying that, worthy Udena. But there is such a thing as a principled renunciate life. That’s what I think, and that’s how you should remember me. Now, these four individuals that you’ve spoken of in a brief summary: please explain them to me in detail, out of sympathy.”
“Well then, brahmin, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” replied Ghoṭamukha. Udena said this:
“Này Bà-la-môn, chính là bây giờ chúng tôi mới biết lời ông nói rằng: ‘Thưa Sa-môn, không có du sĩ sống đúng pháp, tôi có ý nghĩ như vậy. Và điều đó là do không thấy được những vị như ngài, hoặc là do không thấy được pháp ở đây.’” “Thưa ngài Udena, chắc chắn lời nói này của tôi đã được nói ra có lý do. ‘Có du sĩ sống đúng pháp’ – tôi có ý nghĩ như vậy. Và mong ngài Udena hãy ghi nhận tôi như vậy. Và bốn hạng người mà ngài Udena đã nói tóm tắt cho tôi, chưa phân tích chi tiết, lành thay, mong ngài Udena, vì lòng bi mẫn, hãy phân tích chi tiết bốn hạng người này cho tôi.” “Này Bà-la-môn, vậy thì hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, ta sẽ nói.” “Vâng, thưa ngài.” Bà-la-môn Ghoṭamukha đã đáp lại Tôn giả Udena. Tôn giả Udena đã nói điều này:
“Katamo ca, brāhmaṇa, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, brāhmaṇa, ekacco puggalo acelako hoti muttācāro hatthāpalekhano naehibhaddantiko natiṭṭhabhaddantiko, nābhihaṭaṁ na uddissakataṁ na nimantanaṁ sādiyati. So na kumbhimukhā paṭiggaṇhāti, na kaḷopimukhā paṭiggaṇhāti, na eḷakamantaraṁ, na daṇḍamantaraṁ, na musalamantaraṁ, na dvinnaṁ bhuñjamānānaṁ, na gabbhiniyā, na pāyamānāya, na purisantaragatāya, na saṅkittīsu, na yattha sā upaṭṭhito hoti, na yattha makkhikā saṇḍasaṇḍacārinī, na macchaṁ na maṁsaṁ, na suraṁ na merayaṁ na thusodakaṁ pivati. So ekāgāriko vā hoti ekālopiko, dvāgāriko vā hoti dvālopiko …pe… sattāgāriko vā hoti sattālopiko; ekissāpi dattiyā yāpeti, dvīhipi dattīhi yāpeti …pe… sattahipi dattīhi yāpeti; ekāhikampi āhāraṁ āhāreti, dvīhikampi āhāraṁ āhāreti …pe… sattāhikampi āhāraṁ āhāreti—iti evarūpaṁ addhamāsikaṁ pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharati. So sākabhakkho vā hoti, sāmākabhakkho vā hoti, nīvārabhakkho vā hoti, daddulabhakkho vā hoti, haṭabhakkho vā hoti, kaṇabhakkho vā hoti, ācāmabhakkho vā hoti, piññākabhakkho vā hoti, tiṇabhakkho vā hoti, gomayabhakkho vā hoti, vanamūlaphalāhāro yāpeti pavattaphalabhojī. So sāṇānipi dhāreti, masāṇānipi dhāreti, chavadussānipi dhāreti, paṁsukūlānipi dhāreti, tirīṭānipi dhāreti, ajinampi dhāreti, ajinakkhipampi dhāreti, kusacīrampi dhāreti, vākacīrampi dhāreti, phalakacīrampi dhāreti, kesakambalampi dhāreti, vāḷakambalampi dhāreti, ulūkapakkhampi dhāreti; kesamassulocakopi hoti kesamassulocanānuyogamanuyutto, ubbhaṭṭhakopi hoti āsanapaṭikkhitto, ukkuṭikopi hoti ukkuṭikappadhānamanuyutto, kaṇṭakāpassayikopi hoti kaṇṭakāpassaye seyyaṁ kappeti; sāyatatiyakampi udakorohanānuyogamanuyutto viharati—iti evarūpaṁ anekavihitaṁ kāyassa ātāpanaparitāpanānuyogamanuyutto viharati. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto.
“What individual mortifies themselves, committed to the practice of mortifying themselves? It’s when an individual goes naked, ignoring conventions. They lick their hands, and don’t come or wait when called. They don’t consent to food brought to them, or food prepared on their behalf, or an invitation for a meal. They don’t receive anything from a pot or bowl; or from someone who keeps sheep, or who has a weapon or a shovel in their home; or where a couple is eating; or where there is a woman who is pregnant, breastfeeding, or who lives with a man; or where there’s a hound waiting or flies buzzing. They accept no fish or meat or beer or wine, and drink no fermented gruel. They go to just one house for alms, taking just one mouthful, or two houses and two mouthfuls, up to seven houses and seven mouthfuls. They feed on one saucer a day, two saucers a day, up to seven saucers a day. They eat once a day, once every second day, up to once a week, and so on, even up to once a fortnight. They live committed to the practice of eating food at set intervals. They eat herbs, millet, wild rice, poor rice, water lettuce, rice bran, scum from boiling rice, sesame flour, grass, or cow dung. They survive on forest roots and fruits, or eating fallen fruit. They wear robes of sunn hemp, mixed hemp, corpse-wrapping cloth, rags, lodh tree bark, antelope hide (whole or in strips), kusa grass, bark, wood-chips, human hair, horse-tail hair, or owls’ wings. They tear out their hair and beard, committed to this practice. They constantly stand, turning down seats. They squat, committed to the endeavor of squatting. They lie on a mat of thorns, making a mat of thorns their bed. They’re devoted to ritual bathing three times a day, including at dusk. And so they live committed to practicing these various ways of mortifying and tormenting the body. This is called an individual who mortifies themselves, being committed to the practice of mortifying themselves.
415. “Này Bà-la-môn, thế nào là hạng người tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình? Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người không mặc quần áo, sống phóng túng, liếm tay cho sạch, không chấp nhận lời mời ‘xin mời ngài đến’, không chấp nhận lời mời ‘xin mời ngài đứng lại’, không chấp nhận vật thực mang đến, không chấp nhận vật thực làm riêng cho mình, không chấp nhận lời mời. Vị ấy không nhận vật thực từ miệng nồi, không nhận từ miệng giỏ, không nhận khi được trao qua ngưỡng cửa, qua cây gậy, qua cái chày, không nhận từ một trong hai người đang ăn, không nhận từ người phụ nữ có thai, đang cho con bú, hay đang chung đụng với người đàn ông, không nhận vật thực được quyên góp, không nhận ở nơi có chó đứng chờ, không nhận ở nơi có ruồi bu. Vị ấy không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men, không uống nước ngâm gạo. Vị ấy chỉ nhận vật thực ở một nhà, chỉ ăn một miếng; hoặc nhận ở hai nhà, ăn hai miếng;... hoặc nhận ở bảy nhà, ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi mạng với một chén nhỏ, với hai chén nhỏ,... với bảy chén nhỏ. Vị ấy ăn mỗi ngày một lần, hoặc hai ngày một lần,... hoặc bảy ngày một lần. Cứ như thế, vị ấy sống chuyên tâm thực hành việc ăn uống có định kỳ, cho đến nửa tháng một lần. Vị ấy ăn rau, ăn lúa hoang, ăn gạo lức hoang, ăn da vụn, ăn rêu, ăn cám, ăn váng cháo, ăn khô dầu, ăn cỏ, ăn phân bò. Vị ấy nuôi mạng bằng rễ và trái cây trong rừng, sống bằng trái cây rụng. Vị ấy mặc y bằng vải gai, y bằng vải gai trộn, y từ tử thi, y lượm từ đống rác, y bằng vỏ cây, y bằng da sơn dương, y bằng mảnh da sơn dương, y bằng cỏ kusa, y bằng vỏ cây mềm, y bằng mảnh gỗ, y bằng tóc người, y bằng lông đuôi thú, y bằng lông cú. Vị ấy nhổ râu tóc, chuyên tâm vào việc nhổ râu tóc. Vị ấy đứng kiễng chân, từ chối chỗ ngồi. Vị ấy ngồi xổm, chuyên tâm vào việc ngồi xổm. Vị ấy nằm trên giường gai, đặt mình nằm trên giường gai. Vị ấy chuyên tâm vào việc xuống nước ba lần vào buổi tối. Cứ như thế, vị ấy sống chuyên tâm vào nhiều cách hành hạ, làm khổ thân xác. Này Bà-la-môn, đây được gọi là hạng người tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình.”
Katamo ca, brāhmaṇa, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, brāhmaṇa, ekacco puggalo orabbhiko hoti sūkariko sākuṇiko māgaviko luddo macchaghātako coro coraghātako goghātako bandhanāgāriko—ye vā panaññepi keci kurūrakammantā. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto.
And what individual mortifies others, committed to the practice of mortifying others? It’s when an individual is a slaughterer of sheep, pigs, poultry, or deer, a hunter or fisher, a bandit, an executioner, a butcher of cattle, a jailer, or has some other cruel livelihood. This is called an individual who mortifies others, being committed to the practice of mortifying others.
416. “Này Bà-la-môn, thế nào là hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác? Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người là đồ tể cừu, đồ tể heo, người bẫy chim, thợ săn, người tàn ác, người đánh cá, kẻ trộm, đao phủ, đồ tể bò, cai ngục, hay bất kỳ ai khác làm những nghề tàn bạo. Này Bà-la-môn, đây được gọi là hạng người hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.”
Katamo ca, brāhmaṇa, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto, parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, brāhmaṇa, ekacco puggalo rājā vā hoti khattiyo muddhāvasitto, brāhmaṇo vā mahāsālo. So puratthimena nagarassa navaṁ santhāgāraṁ kārāpetvā kesamassuṁ ohāretvā kharājinaṁ nivāsetvā sappitelena kāyaṁ abbhañjitvā magavisāṇena piṭṭhiṁ kaṇḍuvamāno navaṁ santhāgāraṁ pavisati saddhiṁ mahesiyā brāhmaṇena ca purohitena. So tattha anantarahitāya bhūmiyā haritupalittāya seyyaṁ kappeti. Ekissāya gāviyā sarūpavacchāya yaṁ ekasmiṁ thane khīraṁ hoti tena rājā yāpeti, yaṁ dutiyasmiṁ thane khīraṁ hoti tena mahesī yāpeti, yaṁ tatiyasmiṁ thane khīraṁ hoti tena brāhmaṇo purohito yāpeti, yaṁ catutthasmiṁ thane khīraṁ hoti tena aggiṁ juhati, avasesena vacchako yāpeti. So evamāha: ‘ettakā usabhā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatarā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatariyo haññantu yaññatthāya, ettakā ajā haññantu yaññatthāya, ettakā urabbhā haññantu yaññatthāya, ettakā assā haññantu yaññatthāya, ettakā rukkhā chijjantu yūpatthāya, ettakā dabbhā lūyantu barihisatthāyā’ti. Yepissa te honti ‘dāsā’ti vā ‘pessā’ti vā ‘kammakarā’ti vā tepi daṇḍatajjitā bhayatajjitā assumukhā rudamānā parikammāni karonti. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, puggalo attantapo ca attaparitāpanānuyogamanuyutto, parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto.
And what individual mortifies themselves and others, being committed to the practice of mortifying themselves and others? It’s when an individual is an anointed aristocratic king or a well-to-do brahmin. He has a new ceremonial hall built to the east of the citadel. He shaves off his hair and beard, dresses in a rough antelope hide, and smears his body with ghee and oil. Scratching his back with antlers, he enters the hall with his chief queen and the brahmin high priest. There he lies on the bare ground strewn with grass. The king feeds on the milk from one teat of a cow that has a calf of the same color. The chief queen feeds on the milk from the second teat. The brahmin high priest feeds on the milk from the third teat. The milk from the fourth teat is served to the sacred flame. The calf feeds on the leftovers. He says: ‘Slaughter this many bulls, bullocks, heifers, goats, rams, and horses for the sacrifice! Fell this many trees and reap this much grass for the sacrificial equipment!’ His bondservants, servants, and workers do their jobs under threat of punishment and danger, weeping with tearful faces. This is called an individual who mortifies themselves and others, being committed to the practice of mortifying themselves and others.
417. Này Bà la môn, thế nào là hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm vào việc tự hành khổ mình, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác? Này Bà la môn, ở đây, có hạng người là vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hoặc là Bà la môn đại phú. Vị ấy cho xây một tế đàn mới ở phía đông thành phố, cạo bỏ râu tóc, mặc vào một tấm da thú thô ráp, thoa dầu bơ lên thân, gãi lưng bằng sừng nai, rồi đi vào tế đàn mới cùng với hoàng hậu và vị Bà la môn tế tự. Ở đó, vị ấy nằm trên nền đất trống, được trét bằng phân bò tươi. Sữa ở vú thứ nhất của một con bò cái có con bê cùng màu thì nhà vua dùng để duy trì sự sống; sữa ở vú thứ hai thì hoàng hậu dùng để duy trì sự sống; sữa ở vú thứ ba thì vị Bà la môn tế tự dùng để duy trì sự sống; sữa ở vú thứ tư thì dùng để cúng dường thần lửa; phần còn lại thì con bê dùng để duy trì sự sống. Vị ấy nói như sau: ‘Hãy giết bao nhiêu đây bò đực để tế lễ, hãy giết bao nhiêu đây bò tơ đực để tế lễ, hãy giết bao nhiêu đây bò tơ cái để tế lễ, hãy giết bao nhiêu đây dê đực để tế lễ, hãy giết bao nhiêu đây cừu để tế lễ, hãy giết bao nhiêu đây ngựa để tế lễ. Hãy chặt bao nhiêu đây cây để làm cột tế, hãy cắt bao nhiêu đây cỏ dabbā để rải trên đất tế.’ Và những người là tôi tớ, người đưa tin, hay người làm công của vị ấy, họ cũng bị roi vọt đe dọa, bị sợ hãi đe dọa, mặt đẫm lệ, vừa khóc vừa làm các công việc chuẩn bị. Này Bà la môn, đây được gọi là hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm vào việc tự hành khổ mình, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác.
Katamo ca, brāhmaṇa, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto, na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto; so anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati?
Idha, brāhmaṇa, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto. So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati: ‘sambādho gharāvāso rajopatho abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. So evaṁ pabbajito samāno bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti, nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
And what individual doesn’t mortify either themselves or others, committed to the practice of not mortifying themselves or others, living without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine?
It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family. They gain faith in the Realized One, and reflect: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’ After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. Once they’ve gone forth, they take up the training and livelihood of the mendicants. They give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings.
418. Này Bà la môn, thế nào là hạng người không tự hành khổ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành khổ mình, không hành khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành khổ người khác; vị ấy không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, được tịch tịnh, trở nên mát mẻ, cảm thọ lạc, sống với tự thân đã trở thành Phạm thiên? Này Bà la môn, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa môn, Bà la môn, cùng với loài người và chư Thiên. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; tuyên dương phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc người sinh trong một gia tộc nào khác nghe được giáo pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy có được niềm tin nơi Như Lai. Có được niềm tin ấy, người ấy suy xét như sau: ‘Đời sống tại gia thì chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì như hư không. Sống tại gia không dễ gì thực hành phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Sau một thời gian, người ấy từ bỏ tài sản ít hay nhiều, từ bỏ quyến thuộc ít hay nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, chấp nhận học pháp và đời sống của các vị Tỳ khưu, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng bi mẫn, sống vì lợi ích và thương xót tất cả chúng sanh.
Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī. Athenena sucibhūtena attanā viharati.
They give up stealing. They take only what’s given, and expect only what’s given. They keep themselves clean by not thieving.
Vị ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho; chỉ nhận vật đã được cho, chỉ mong đợi vật được cho. Vị ấy sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp.
Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā.
They give up unchastity. They are chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex.
Vị ấy từ bỏ hành vi không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống xa lìa, tránh xa hành vi dâm dục, là pháp của thế gian.
Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa.
They give up lying. They speak the truth and stick to the truth. They’re honest and dependable, and don’t trick the world with their words.
Vị ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối; là người nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, kiên định, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian.
Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti; ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony.
Vị ấy từ bỏ lời nói đâm thọc, tránh xa lời nói đâm thọc; nghe điều gì ở đây, không đi nói ở nơi kia để gây chia rẽ những người này; hoặc nghe điều gì ở nơi kia, không đi nói với những người này để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, vị ấy là người hàn gắn những ai đã chia rẽ, hoặc khuyến khích những ai đang hòa hợp; ưa thích sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.
Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people.
Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác. Vị ấy nói những lời không tỳ vết, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, được nhiều người quý mến.
Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti, kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial.
Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm; là người nói đúng lúc, nói đúng sự thật, nói lời có ích, nói lời đúng pháp, nói lời đúng luật; nói lời đáng được ghi nhớ, đúng thời, có dẫn chứng, có giới hạn, hợp với mục đích.
So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti. Ekabhattiko hoti rattūparato virato vikālabhojanā. Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti. Mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti. Uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti. Jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Hatthigavassavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti. Kayavikkayā paṭivirato hoti. Tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti. Ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti. Chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato hoti.
They refrain from injuring plants and seeds. They eat in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time. They refrain from seeing shows of dancing, singing, and music. They refrain from attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. They refrain from high and luxurious beds. They refrain from receiving gold and currency, raw grains, raw meat, women and girls, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants, cows, horses, and mares, and fields and land. They refrain from running errands and messages; buying and selling; falsifying weights, metals, or measures; bribery, fraud, cheating, and duplicity; mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence.
Vị ấy từ bỏ việc hủy hoại các loại hạt giống và cây cối. Vị ấy dùng một bữa mỗi ngày, từ bỏ việc ăn vào ban đêm, kiêng cử việc ăn phi thời. Vị ấy từ bỏ việc xem múa, hát, nhạc, và các buổi trình diễn. Vị ấy từ bỏ việc trang sức, trang điểm bằng vòng hoa, hương liệu, và phấn sáp. Vị ấy từ bỏ việc dùng giường và ghế cao và sang trọng. Vị ấy từ bỏ việc nhận vàng và bạc. Vị ấy từ bỏ việc nhận ngũ cốc sống. Vị ấy từ bỏ việc nhận thịt sống. Vị ấy từ bỏ việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Vị ấy từ bỏ việc nhận nô tỳ nam và nô tỳ nữ. Vị ấy từ bỏ việc nhận dê và cừu. Vị ấy từ bỏ việc nhận gà và heo. Vị ấy từ bỏ việc nhận voi, bò, ngựa đực, và ngựa cái. Vị ấy từ bỏ việc nhận ruộng nương và đất đai. Vị ấy từ bỏ việc làm sứ giả hay người đưa tin. Vị ấy từ bỏ việc mua và bán. Vị ấy từ bỏ việc gian lận bằng cân, tiền, và vật đo lường. Vị ấy từ bỏ việc hối lộ, lừa đảo, gian trá, và mánh khóe. Vị ấy từ bỏ việc cắt, giết, trói, cướp bóc, trấn lột, và các hành vi bạo lực.
So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena, kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti sapattabhārova ḍeti; evameva bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena, kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
They’re content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. They’re like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. When they have this spectrum of noble ethics, they experience a blameless happiness inside themselves.
Vị ấy biết đủ với y phục đủ để che thân và vật thực đủ để nuôi bụng. Vị ấy đi đến bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo y bát. Ví như loài chim có cánh, bay đến bất cứ nơi đâu, gánh nặng của nó chỉ là đôi cánh. Cũng vậy, vị tỳ khưu biết đủ với y phục đủ để che thân và vật thực đủ để nuôi bụng. Vị ấy đi đến bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo y bát. Vị ấy, sau khi đã thành tựu uẩn giới cao thượng này, cảm nhận được niềm hạnh phúc không thể chê trách ở nội tâm.
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati. So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
When they see a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. When they have this noble sense restraint, they experience an unsullied bliss inside themselves.
419. Vị ấy, khi thấy một sắc tướng bằng mắt, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Bởi vì, nếu vị ấy sống không phòng hộ nhãn căn, thì các pháp bất thiện, xấu ác như tham ái và ưu bi có thể xâm chiếm. Do đó, vị ấy thực hành sự phòng hộ, bảo vệ nhãn căn, và đạt đến sự chế ngự trong nhãn căn. Khi nghe một âm thanh bằng tai... khi ngửi một mùi hương bằng mũi... khi nếm một vị bằng lưỡi... khi cảm nhận một xúc chạm bằng thân... khi nhận biết một pháp bằng ý, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Bởi vì, nếu vị ấy sống không phòng hộ ý căn, thì các pháp bất thiện, xấu ác như tham ái và ưu bi có thể xâm chiếm. Do đó, vị ấy thực hành sự phòng hộ, bảo vệ ý căn, và đạt đến sự chế ngự trong ý căn. Vị ấy, sau khi đã thành tựu sự phòng hộ các căn cao thượng này, cảm nhận được niềm hạnh phúc không bị phiền não xâm nhiễm ở nội tâm.
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
They act with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.
Vị ấy có tỉnh giác khi đi tới và đi lui; có tỉnh giác khi nhìn thẳng và nhìn quanh; có tỉnh giác khi co và duỗi các chi; có tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát, và các y khác; có tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, và nếm; có tỉnh giác khi đại tiện và tiểu tiện; có tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và giữ im lặng.
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato, iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā, ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya, parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti; byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti; thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti; uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti; vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
When they have this spectrum of noble ethics, this noble contentment, this noble sense restraint, and this noble mindfulness and situational awareness, they frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present. Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
Vị ấy, sau khi đã thành tựu uẩn giới cao thượng này, (thành tựu sự biết đủ cao thượng này,) thành tựu sự phòng hộ các căn cao thượng này, và thành tựu niệm và tỉnh giác cao thượng này, tìm đến một nơi ở thanh vắng: trong rừng, dưới gốc cây, trên núi, trong hang, trong động, tại nghĩa địa, trong lùm cây, ngoài trời, hoặc trên một đống rơm. Sau bữa ăn, khi đã đi khất thực về, vị ấy ngồi xuống, xếp bằng, giữ thân thẳng, và an lập chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở thế gian, sống với tâm thoát khỏi tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái; từ bỏ sân hận và ác ý, vị ấy sống với tâm không sân hận, có lòng bi mẫn đối với lợi ích của tất cả chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận và ác ý; từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy sống thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, với nhận thức về ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên; từ bỏ trạo cử và hối quá, vị ấy sống không trạo cử, với tâm an tịnh nội tại, gột sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá; từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân về các pháp thiện, gột sạch tâm khỏi hoài nghi.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.
And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’
With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
Vị ấy, sau khi đã từ bỏ năm triền cái này, là những pháp làm ô nhiễm tâm và làm trí tuệ suy yếu, đã ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Do làm lắng dịu tầm và tứ, vị ấy chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm, không tứ, với hỷ và lạc do định sanh. Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm và tỉnh giác, cảm nhận lạc bằng thân, chứng và trú Thiền thứ ba, một trạng thái mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’. Do xả lạc và xả khổ, và do các hỷ và ưu đã biến mất từ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, với niệm thanh tịnh do xả.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi, anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto; so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto; so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
420. “Vị ấy, khi tâm được định tĩnh như vậy, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động, hướng tâm đến Túc Mạng Minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, nghĩa là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại. ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, thọ hưởng khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết ở nơi đó, ta đã sanh vào nơi kia. Tại đó, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, thọ hưởng khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết ở nơi đó, ta đã sanh vào nơi đây’. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các chi tiết và đặc điểm.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā …pe… ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā …pe… ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
“Vị ấy, khi tâm được định tĩnh như vậy, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động, hướng tâm đến Thiên Nhãn Minh, trí tuệ về sự sinh tử của chúng sanh. Với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài tầm mắt của người thường, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, may mắn, bất hạnh; vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. ‘Thật vậy, những chúng sanh này đã thực hiện thân ác hành... phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp giữ hành động theo tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này đã thực hiện thân thiện hành... không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp giữ hành động theo chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi lành, thiên giới, trên đời này’. Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài tầm mắt của người thường, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, may mắn, bất hạnh; vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
“Vị ấy, khi tâm được định tĩnh như vậy, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động, hướng tâm đến Lậu Tận Minh, trí tuệ về sự đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy biết rõ như thật: ‘Đây là Khổ’, biết rõ như thật: ‘Đây là nguyên nhân của Khổ’, biết rõ như thật: ‘Đây là sự diệt Khổ’, biết rõ như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt Khổ’. Vị ấy biết rõ như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’, biết rõ như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’, biết rõ như thật: ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc’, biết rõ như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc’. Khi biết như vậy, thấy như vậy, tâm của vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu, giải thoát khỏi hữu lậu, giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã được giải thoát, trí tuệ khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa’.”
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, puggalo nevattantapo nāttaparitāpanānuyogamanuyutto, na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto. So anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharatī”ti.
This is called an individual who neither mortifies themselves or others, being committed to the practice of not mortifying themselves or others. They live without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine.”
“Này Bà-la-môn, người này được gọi là người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình; không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Vị ấy, không tự hành hạ mình, không hành hạ người khác, ngay trong đời này, không còn khao khát, đã được dập tắt, trở nên mát mẻ, cảm nhận sự an lạc, sống với một tự thân đã trở nên thanh tịnh.”
Evaṁ vutte, ghoṭamukho brāhmaṇo āyasmantaṁ udenaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho udena, abhikkantaṁ, bho udena. Seyyathāpi, bho udena, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā udenena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ udenaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ udeno dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Mā kho maṁ tvaṁ, brāhmaṇa, saraṇaṁ agamāsi. Tameva bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāhi yamahaṁ saraṇaṁ gato”ti.
“Kahaṁ pana, bho udena, etarahi so bhavaṁ gotamo viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti?
“Parinibbuto kho, brāhmaṇa, etarahi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho”ti.
When he had spoken, Ghoṭamukha said to him, “Excellent, worthy Udena! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the worthy Udena has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Udena, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Udena remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
“Brahmin, don’t go for refuge to me. You should go for refuge to that same Blessed One to whom I have gone for refuge.”
“But worthy Udena, where is the Blessed One at present, the perfected one, the fully awakened Buddha?”
“Brahmin, the Buddha has already become fully quenched.”
421. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Ghoṭamukha bạch với Tôn giả Udena rằng: “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Udena! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Udena! Thưa Tôn giả Udena, cũng giống như người ta lật ngửa vật bị úp, phơi bày vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được các hình sắc, cũng vậy, Pháp đã được Tôn giả Udena giảng giải bằng nhiều phương tiện. Con nay xin quy y Tôn giả Udena, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Mong Tôn giả Udena hãy nhận con làm một người cư sĩ đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời”. “Này Bà-la-môn, chớ có quy y tôi. Hãy quy y chính Đức Thế Tôn mà tôi đã quy y”. “Thưa Tôn giả Udena, vậy bây giờ Đức Thế Tôn Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, đang ở đâu?”. “Này Bà-la-môn, Đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nay đã nhập Vô Dư Niết-bàn rồi”.
“Sacepi mayaṁ, bho udena, suṇeyyāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dasasu yojanesu, dasapi mayaṁ yojanāni gaccheyyāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ. Sacepi mayaṁ, bho udena, suṇeyyāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ vīsatiyā yojanesu … tiṁsāya yojanesu … cattārīsāya yojanesu … paññāsāya yojanesu, paññāsampi mayaṁ yojanāni gaccheyyāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ. Yojanasate cepi mayaṁ, bho udena, suṇeyyāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ, yojanasatampi mayaṁ gaccheyyāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ.
“Worthy Udena, if I heard that the worthy Gotama was within ten leagues, or twenty, or even up to a hundred leagues away, I’d go a hundred leagues to see him.
“Thưa Tôn giả Udena, nếu chúng con nghe rằng Đức Thế Tôn Gotama đang ở cách đây mười do-tuần, chúng con cũng sẽ đi mười do-tuần để được yết kiến Đức Thế Tôn Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Thưa Tôn giả Udena, nếu chúng con nghe rằng Đức Thế Tôn Gotama đang ở cách đây hai mươi do-tuần... ba mươi do-tuần... bốn mươi do-tuần... năm mươi do-tuần, chúng con cũng sẽ đi năm mươi do-tuần để được yết kiến Đức Thế Tôn Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Và thưa Tôn giả Udena, nếu chúng con nghe rằng Đức Thế Tôn Gotama đang ở cách đây một trăm do-tuần, chúng con cũng sẽ đi một trăm do-tuần để được yết kiến Đức Thế Tôn Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”
Yato ca kho, bho udena, parinibbuto so bhavaṁ gotamo, parinibbutampi mayaṁ taṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ udeno dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ. Atthi ca me, bho udena, aṅgarājā devasikaṁ niccabhikkhaṁ dadāti, tato ahaṁ bhoto udenassa ekaṁ niccabhikkhaṁ dadāmī”ti.
“Kiṁ pana te, brāhmaṇa, aṅgarājā devasikaṁ niccabhikkhaṁ dadātī”ti?
“Pañca, bho udena, kahāpaṇasatānī”ti.
“Na kho no, brāhmaṇa, kappati jātarūparajataṁ paṭiggahetun”ti.
“Sace taṁ bhoto udenassa na kappati vihāraṁ bhoto udenassa kārāpessāmī”ti.
“Sace kho me tvaṁ, brāhmaṇa, vihāraṁ, kārāpetukāmo, pāṭaliputte saṅghassa upaṭṭhānasālaṁ kārāpehī”ti.
“Imināpāhaṁ bhoto udenassa bhiyyoso mattāya attamano abhiraddho yaṁ maṁ bhavaṁ udeno saṅghe dāne samādapeti. Esāhaṁ, bho udena, etissā ca niccabhikkhāya aparāya ca niccabhikkhāya pāṭaliputte saṅghassa upaṭṭhānasālaṁ kārāpessāmī”ti.
Atha kho ghoṭamukho brāhmaṇo etissā ca niccabhikkhāya aparāya ca niccabhikkhāya pāṭaliputte saṅghassa upaṭṭhānasālaṁ kārāpesi. Sā etarahi “ghoṭamukhī”ti vuccatīti.
But since the worthy Gotama has become fully quenched, I go for refuge to that worthy Gotama, to the teaching, and to the Saṅgha. From this day forth, may the worthy Udena remember me as a lay follower who has gone for refuge for life. Worthy Udena, the king of Aṅga gives me a regular daily allowance. I will give you one portion of that.”
“But brahmin, what does the king of Aṅga give you as a regular daily allowance?”
“Five hundred dollars.”
“It’s not proper for us to receive gold and currency.”
“If that’s not proper, I will have a dwelling built for the worthy Udena.”
“If you want to build me a dwelling, then build an assembly hall for the Saṅgha at Pāṭaliputta.”
“Now I’m even more delighted and satisfied with the worthy Udena, since he encourages me to give to the Saṅgha. So with this allowance and another one I will have an assembly hall built for the Saṅgha at Pāṭaliputta.”
And so he had that hall built. And these days it’s called the “Ghoṭamukhī”.
“Thưa ngài Udena, vì Tôn giả Gotama đã viên tịch, nên chúng con xin quy y Tôn giả Gotama dù ngài đã viên tịch, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Kể từ hôm nay cho đến trọn đời, mong Tôn giả Udena hãy ghi nhận con là người cận sự nam đã quy y Tam Bảo. Thưa ngài Udena, vua xứ Aṅga có cấp cho con một khoản phụ cấp thường xuyên hàng ngày, từ đó con xin cúng dường đến Tôn giả Udena một phần phụ cấp thường xuyên.” “Này Bà-la-môn, vua xứ Aṅga cấp cho ông khoản phụ cấp thường xuyên hàng ngày là bao nhiêu?” “Thưa ngài Udena, là năm trăm kahāpaṇa.” “Này Bà-la-môn, chúng tôi không được phép nhận vàng bạc.” “Nếu Tôn giả Udena không được phép nhận, con sẽ cho xây một ngôi tịnh xá cho Tôn giả Udena.” “Này Bà-la-môn, nếu ông muốn xây tịnh xá cho tôi, hãy cho xây một giảng đường cho chư Tăng ở Pāṭaliputta.” “Con lại càng thêm hoan hỷ, hài lòng với Tôn giả Udena vì Tôn giả đã khuyến khích con cúng dường đến chư Tăng. Thưa ngài Udena, với khoản phụ cấp thường xuyên này và một khoản phụ cấp thường xuyên khác, con sẽ cho xây một giảng đường cho chư Tăng ở Pāṭaliputta.” Bấy giờ, Bà-la-môn Ghoṭamukha với khoản phụ cấp thường xuyên ấy và một khoản phụ cấp thường xuyên khác, đã cho xây một giảng đường cho chư Tăng ở Pāṭaliputta. Giảng đường ấy ngày nay được gọi là ‘Ghoṭamukhī’.”
Ghoṭamukhasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Ghoṭamukha, kinh thứ tư, chấm dứt.