- Majjhima Nikāya 93
Assalāyanasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Assalāyanasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ khoảng năm trăm Bà-la-môn từ nhiều quốc độ khác nhau trú tại Sāvatthi vì một vài công việc. Những vị Bà-la-môn ấy suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Ai có thể cùng với Sa-môn Gotama thảo luận vấn đề này?”
SC 3Lúc bấy giờ thanh niên Assalayana trú ở Sāvatthi, trẻ tuổi, đầu cạo trọc, chỉ có mười sáu tuổi, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Rồi các Bà-la-môn ấy suy nghĩ: “Thanh niên Assalayana này trú ở Sāvatthi, trẻ tuổi, đầu cạo trọc, chỉ có mười sáu tuổi, tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Vị ấy có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này”. Rồi những Bà-la-môn ấy đi đến thanh niên Assalayana, sau khi đến nói với thanh niên Assalayana
SC 4—Tôn giả Assalayana, Sa-môn Gotama chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Tôn giả Assalayana hãy đến thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này.
SC 5Khi nghe nói vậy, thanh niên Assalayana nói với các Bà-la-môn ấy
SC 6—Sa-môn Gotama là vị nói đúng pháp. Và những ai nói đúng pháp thật rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này.
SC 7Lần thứ hai các Bà-la-môn nói với thanh niên Assalayana
SC 8—Tôn giả Assalayana, Sa-môn Gotama này chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Tôn giả Assalayana hãy đến thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Tôn giả Assalayana đã sống đời sống của vị du hành khất sĩ.
SC 9Lần thứ hai, thanh niên Assalayana nói với các vị Bà-la-môn ấy
SC 10—Sa-môn Gotama là bậc nói đúng pháp. Và những người nói đúng pháp thật rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này.
SC 11Lần thứ ba, những vị Bà-la-môn ấy nói với thanh niên Assalayana
SC 12—Tôn giả Assalayana, Sa-môn Gotama này chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Tôn giả Assalayana, hãy đến thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Tôn giả Assalayana đã sống đời sống của vị du hành khất sĩ. Tôn giả Assalayana chớ có bị chiến bại trong một cuộc chiến bại không có binh khí chống cự.
SC 13Khi nghe nói vậy, thanh niên Assalayana nói với các vị Bà-la-môn ấy
SC 14—Thật sự tôi không chấp nhận được (lời yêu cầu) chư Tôn giả. Tôn giả Gotama là bậc nói đúng pháp. Và những ai nói đúng pháp thật rất khó thảo luận. Tôi không có thể thảo luận với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Tuy vậy tôi cũng sẽ đi, như lời chư Tôn giả yêu cầu.
SC 15Rồi thanh niên Assalayana cùng với đại chúng Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Assalayana bạch Thế Tôn
SC 16—Thưa Tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn nói như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có Bà-la-môn là màu da trắng, giai cấp khác là màu da đen; chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không được như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính thống Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”. Ở đây, Tôn giả Gotama nói thế nào?
SC 17—Nhưng này Assalayana, các nữ Bà-la-môn, vợ các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Dầu vậy, các vị Bà-la-môn ấy sanh ra từ nữ căn lại nói: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn là màu da trắng, giai cấp khác là màu da đen; chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không được như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính thống Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 18—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng các vị Bà-la-môn vẫn tự nghĩ rằng: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 19—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ông có nghe chăng? Tại các biên địa quốc độ khác như Yona và Kamboja, chỉ có hai giai cấp: chủ nhân và đầy tớ. Sau khi làm chủ nhân, lại trở thành đầy tớ; sau khi làm đầy tớ, lại trở thành chủ nhân?
SC 20—Thưa vâng, con có nghe. Trong các quốc độ biên địa như Yona, Kamboja, chỉ có hai giai cấp: chủ nhân và đầy tớ. Sau khi làm chủ nhân, lại trở thành đầy tớ, sau khi làm đầy tớ, lại trở thành chủ nhân.
SC 21—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của các Bà-la-môn, mà ở đây các vị Bà-la-môn lại nói: “Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 22—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây vị Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 23—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có người Khattiya (Sát-đế-lỵ) sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến: sau khi thân hoại mạng chung mới bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Bà-la-môn không phải như vậy? Và chỉ có người Vessa và người Sudda sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mang chung, mới bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các Bà-la-môn không phải như vậy?
SC 24—Không phải như vậy, Tôn giả Gotama. Người Khattiya cũng vậy, Tôn giả Gotama, nếu sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, cũng bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama, Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama, Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, nếu sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung đều sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 25—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của Bà-la-môn, mà các Bà-la-môn lại nói: “Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 26—Dầu Tôn giả Sa-môn có nói như vậy, nhưng ở đây, các Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 27—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có Bà-la-môn từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Khattiya không được vậy, Vessa không được vậy, Sudda không được vậy?
SC 28—Không phải vậy, Tôn giả Gotama. Khattiya cũng vậy, Tôn giả Gotama, nếu từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung cũng được sanh vào thiện thú, Thiên giới; cõi đời này. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama; Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama; Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, nếu từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, thì sau khi thân hoại mạng chung, đều được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
SC 29—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của Bà-la-môn, mà các Bà-la-môn lại nói: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 30—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây, các Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 31—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có Bà-la-môn mới có thể trong quốc độ này tu tập từ tâm, không hận, không sân, Khattiya không thể được, Vessa không thể được, Sudda không thể được?
SC 32—Không phải vậy, Tôn giả Gotama. Khattiya, Tôn giả Gotama, cũng có thể trong quốc độ này tu tập từ tâm, không hận, không sân. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama; Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama; Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, đều có thể trong quốc độ này tu tập từ tâm, không hận, không sân.
SC 33—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của Bà-la-môn, mà ở đây các Bà-la-môn lại nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 34—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây các Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 35—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Chỉ có Bà-la-môn mới có thể, sau khi cầm cào lưng và bột tắm đi đến sông tắm sạch bụi bặm, Khattiya không thể được, Vessa không thể được, Sudda không thể được?
SC 36—Không phải vậy, thưa Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama, Khattiya cũng có thể, sau khi cầm cào lưng và bột tắm, đi đến sông tắm sạch bụi bặm. Bà-la-môn cũng vậy, Tôn giả Gotama; Vessa cũng vậy, Tôn giả Gotama; Sudda cũng vậy, Tôn giả Gotama. Tất cả bốn giai cấp, Tôn giả Gotama, đều có thể, sau khi cầm cào lưng và bột tắm, đi đến sông tắm sạch bụi bặm.
SC 37—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, xác tín gì của các Bà-la-môn, mà ở đây các Bà-la-môn lại nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 38—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây các Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 39—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, nếu có vua Khattiya đã làm lễ quán đảnh, cho hội họp một trăm người thuộc nhiều chủng tánh khác nhau và nói: “Quý vị hãy đến đây, quý vị nào thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn, sanh ra từ hoàng tộc, hãy đem đến phần trên của đồ quay lửa, bằng cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, quay cho lửa và sức nóng hiện ra. Còn những người thuộc gia đình Chiên-đà-la (hạ tiện), thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình đổ phân, hãy đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y lan (elanda: cây thu đủ thầu dầu), và quay cho bậc lửa và sức nóng hiện ra”.
SC 40Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Có phải chỉ có ngọn lửa được nhen lên và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn sanh từ hoàng tộc, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, chỉ có lửa ấy mới có ngọn, mới có màu sắc, mới có ánh sáng, và chỉ có ngọn lửa ấy mới dùng được vào các công việc do lửa đem lại. Còn ngọn lửa được nhen lên và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình hạ tiện, thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình làm đổ phân, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y-lan, lửa ấy không có ngọn, không có màu sắc, không có ánh sáng, và ngọn lửa ấy không có thể dùng được vào các công việc do lửa đem lại?
SC 41—Không phải vậy, thưa Tôn giả Gotama. Ngọn lửa được nhen lên, sức nóng được tạo ra, Tôn giả Gotama, từ người thuộc gia đình Khattiya, thuộc gia đình Bà-la-môn sanh từ hoàng tộc, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng cây sāla, hay cây salaḷa, hay cây chiên-đàn, hay cây sen, lửa ấy có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, ngọn lửa ấy dùng được vào các công việc do lửa đem lại. Và ngọn lửa được nhen lên, và sức nóng được tạo ra từ người thuộc gia đình hạ tiện, thuộc gia đình săn bắn, thuộc gia đình làm đồ tre, thuộc gia đình làm xe cộ, thuộc gia đình đổ phân, sau khi đem đến bộ phận trên của đồ quay lửa, làm bằng gỗ máng chó ăn, hay máng heo ăn, hay máng giặt đồ, hay củi khô từ cây y-lan, lửa ấy cũng có ngọn, cũng có màu sắc, cũng có ánh sáng, và ngọn lửa ấy có thể dùng được vào công việc do lửa đem lại. Thưa Tôn giả Gotama, tất cả loại lửa đều có ngọn, đều có màu sắc, đều có ánh sáng; tất cả loại lửa đều có thể được dùng vào các công việc do lửa đem lại.
SC 42—Ở đây, này Assalayana, do sức mạnh gì, do xác tín gì của các Bà-la-môn mà các Bà-la-môn ở đây lại nói: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính thống Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”?
SC 43—Dầu Tôn giả Gotama có nói như vậy, nhưng ở đây các Bà-la-môn vẫn nghĩ như sau: “Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 44—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây một nam tử Khattiya cưới một nữ nhân Bà-la-môn làm vợ. Do hôn phối này, họ sanh được đứa con trai. Ðứa con trai ấy sanh ra từ nam tử Khattiya và nữ nhân Bà-la-môn. Nó giống mẹ nó hay giống cha nó; nó được gọi là Khattiya hay được gọi là Ba La Môn?
SC 45—Thưa Tôn giả Gotama, đứa con trai ấy sanh ra từ nam tử Khattiya và nữ nhân Bà-la-môn; nó giống mẹ nó và cũng giống cha nó, và được gọi là Khattiya và cũng được gọi là Bà-la-môn.
SC 46—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một nam tử Bà-la-môn cưới một nữ nhân Khattiya và do hôn phối này, họ sanh được đứa con trai. Người con trai ấy được sanh từ nam tử Bà-la-môn và nữ nhân Khattiya; nó giống mẹ nó, hay giống cha nó; nó được gọi là Khattiya, (hay) cũng được gọi là Bà-la-môn?
SC 47—Thưa Tôn giả Gotama, người con trai sanh ra từ nam tử Bà-la-môn và nữ nhân Khattiya; nó giống mẹ nó; và giống cha nó, và nó được gọi là Khattiya, và cũng được gọi là Bà-la-môn.
SC 48—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có con ngựa cái giao phối với con lừa. Do sự giao phối này, chúng sanh được con la. Con la ấy sanh ra từ con ngựa cái và con lừa; nó giống mẹ nó, hay giống cha nó; nó được gọi là ngựa, hay nó được gọi là lừa?
SC 49—Tôn giả Gotama, do sự giao phối khác giống như vậy, nó là con la. Ðó là sự sai khác, thưa Tôn giả Gotama, mà tôi thấy ở đây. Nhưng ở chỗ khác, đối với sự vật khác, tôi không thấy sai biệt gì.
SC 50—Này Assalayana, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có hai anh em thanh niên, đồng mẹ khác cha; một người đọc tụng, thông hiểu Thánh điển; một người không đọc tụng, không hiểu Thánh điển. Ở đây, giữa hai vị này, các Bà-la-môn sẽ cúng dường ai trước các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, các đồ ăn đãi khách?
SC 51—Thưa Tôn giả Gotama, vị thanh niên nào đọc tụng, thông hiểu Thánh điển, các Bà-la-môn sẽ cúng dường người ấy trước, các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, các đồ ăn đãi khách. Bởi vì, thưa Tôn giả Gotama, cúng dường cho người không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển làm sao có quả lớn được!
SC 52—Này Assalayana, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, có hai anh em thanh niên (Bà-la-môn) đồng mẹ khác cha; một người đọc tụng thông hiểu Thánh điển, theo ác giới, hành ác pháp; một người không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển, trì giới, hành thiện pháp. Ở đây, các người Bà-la-môn cúng dường cho ai trước các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, hay các đồ ăn đãi khách?
SC 53—Thưa Tôn giả Gotama, vị thanh niên nào không đọc tụng, không thông hiểu Thánh điển, nhưng trì giới, hành thiện pháp; ở đây, các Bà-la-môn cúng dường cho người ấy trước, các vật cúng cho người chết, các thực vật tế đàn, các món ăn trong các lễ hy sinh, hay các đồ ăn đãi khách. Bởi vì, thưa Tôn giả Gotama, cúng dường cho người theo ác giới, hành ác pháp làm sao có quả lớn được!
SC 54—Này Assalayana, trước hết Ông đi về sanh chủng. Bỏ sanh chủng, Ông đi về Thánh điển. Bỏ Thánh điển, Ông đi về sự thanh tịnh của bốn giai cấp mà Ta đã chủ trương.
SC 55Nghe nói vậy, thanh niên Assalayana ngồi im lặng, ủ rũ, co vai, cúi đầu, sửng sờ, mở miệng không ra lời.
SC 56Rồi Thế Tôn sau khi biết được thanh niên Assalayana im lặng ủ rũ, co vai, cúi đầu, sửng sờ, mở miệng không ra lời, liền nói với thanh niên Assalayana
SC 57—Thuở xưa, này Assalayana, trong khi bảy ẩn sĩ Bà-la-môn thảo luận trong những am thất bằng lá tại một khu rừng, ác kiến sau đây được khởi lên: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … là con cháu thừa tự Phạm thiên”. Này Assalayana, ẩn sĩ Asita Devala được nghe: “Trong khi bảy ẩn sĩ Bà-la-môn thảo luận trong những am thất bằng lá, tại một khu rừng, ác kiến sau đây được khởi lên: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt … con cháu thừa tự Phạm thiên”? Ẩn sĩ Asita Devala, sau khi sửa soạn râu tóc, đắp y vải màu đỏ tía, đi dép với nhiều lớp (đường viền) kiên cố, cầm một cây gậy bằng vàng, liền hiện ra trong hành lang am thất của bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn. Rồi này Assalayana, ẩn sĩ Asita Devala đi qua, đi lại trong hành lang am thất của bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn và nói
SC 58: “Nay những Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu? Nay những Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu?”
SC 59Rồi này Assalayana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn suy nghĩ như sau: “Kẻ kia là ai đang đi qua lại trong hành lang am thất bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn như một con bò đi vòng tròn, lại nói như sau: “Nay những vị ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu? Nay những vị ẩn sĩ Bà-la-môn này đi đâu?” Chúng ta hãy dùng chú thuật trù yếm Ông ta”. Rồi này Assalayana, bảy ẩn sĩ Bà-la-môn dùng chú thuật trù yếm ẩn sĩ Asita Devala: “Hãy trở thành tro tàn hạ liệt”. Nhưng này Assalayana, bảy ẩn sĩ càng dùng chú thuật trù yếm, ẩn sĩ Asita Devala càng trở thành đẹp đẽ, trở thành dễ nhìn, trở thành khả ái. Rồi này Assalayana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn suy nghĩ như sau: “Thật trống rỗng thay, khổ hạnh của chúng ta! Phạm hạnh của chúng ta không có hiệu quả. Trước kia, khi chúng ta dùng chú thuật trù yếm người nào: “Hãy trở thành tro tàn hạ liệt” Người ấy trở thành tro tàn ngay. Nhưng nay chúng ta càng dùng chú thuật trù yếm người này, người này lại càng trở nên đẹp đẽ, trở thành dễ nhìn, trở thành khả ái”.
SC 60“—Khổ hạnh, chư Tôn giả, không phải trống rỗng, Phạm hạnh (quý vị) không phải không hiệu quả. Chư Tôn giả, hãy từ bỏ tâm oán hận đối với ta”.
SC 61“—Có tâm oán hận nào đối với Tôn giả, chúng tôi sẽ bỏ. Tôn giả là ai?”
SC 62“—Chư Tôn giả có nghe nói đến ẩn sĩ Asita Devala không?”
SC 63“_ Thưa có nghe, Tôn giả”.
SC 64“—Chư Tôn giả, vị ấy là ta”.
SC 65Rồi này Assalayana, bảy ẩn sĩ Bà-la-môn đến đảnh lễ ẩn sĩ Asita Devala. Rồi ẩn sĩ Asita Devala nói với bảy ẩn sĩ Bà-la-môn:
SC 66“—Chư Tôn giả, tôi có nghe như sau: “Trong khi bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn thảo luận tại am thất bằng lá trong khu rừng, ác tà kiến như sau khởi lên: Chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có Bà-la-môn màu da trắng, giai cấp khác màu da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp phi Bà-la-môn không được như vậy. Chỉ có Bà-la-môn là con chính thống Phạm thiên, sanh ra từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự Phạm thiên”.
SC 67“—Thưa vâng, Tôn giả”.
SC 68“—Nhưng chư Tôn giả, chư tôn giả có biết mẹ sanh của họ chỉ giao hợp với các Bà-la-môn, không với phi Bà-la-môn?”
SC 69“—Thưa không vậy, Tôn giả”.
SC 70“—Nhưng chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết mẹ sanh của họ, cho đến bảy đời tổ mẫu của họ chỉ giao hợp với các Bà-la-môn, không với phi Bà-la-môn?”
SC 71“—Thưa không vậy, Tôn giả”.
SC 72“—Nhưng chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết cha sanh của họ chỉ giao hợp với các nữ Bà-la-môn, không với phi nữ Bà-la-môn?”
SC 73“—Thưa không vậy, Tôn giả”.
SC 74“—Nhưng chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết cha sanh của họ, cho đến bảy đời tổ phụ của họ chỉ giao hợp với các nữ Bà-la-môn, không với phi Bà-la-môn?”
SC 75“—Không phải vậy, Tôn giả”.
SC 76“—Chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết nhập thai là như thế nào?”
SC 77“—Thưa Tôn giả, chúng con biết nhập thai như thế này. Ở đây, mẹ cha phải giao hợp, người mẹ phải trong thời (có thể thọ sanh), hương ấm (gandhabha) phải hiện hữu, ba sự như vậy có hòa hợp, nhập thai mới thành tựu”.
SC 78“—Chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết hương ấm ấy là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda?”
SC 79“—Thưa Tôn giả, chúng tôi không biết hương ấm ấy là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda”.
SC 80“—Chư Tôn giả, sự tình là như vậy, chư Tôn giả có biết chư Tôn giả là ai không?”
SC 81“—Thưa Tôn giả, sự tình là như vậy, chúng tôi không có biết chúng tôi là ai”.
SC 82Này Assalayana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn ấy bị ẩn sĩ Asita Devala, chất vấn, cật vấn, nạn vấn về vấn đề sanh chủng (jativada) của họ, không có thể ứng đáp được. Làm sao nay Ông bị ta chất vấn, cật vấn, nạn vấn về vấn đề sanh chủng của Ông lại có thể ứng đáp được, khi Ông cùng một Ðạo sư với họ và không có Puñña, người biết sử dụng thìa đổ sữa (làm lễ tế tự).
SC 83Khi được nói vậy, thanh niên Assalayana bạch Thế Tôn
SC 84—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). Hiệu đính: 18–06-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Assalāyana
Tena kho pana samayena nānāverajjakānaṁ brāhmaṇānaṁ pañcamattāni brāhmaṇasatāni sāvatthiyaṁ paṭivasanti kenacideva karaṇīyena. Atha kho tesaṁ brāhmaṇānaṁ etadahosi: “ayaṁ kho samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti. Ko nu kho pahoti samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti?
Tena kho pana samayena assalāyano nāma māṇavo sāvatthiyaṁ paṭivasati daharo, vuttasiro, soḷasavassuddesiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo.
Atha kho tesaṁ brāhmaṇānaṁ etadahosi: “ayaṁ kho assalāyano māṇavo sāvatthiyaṁ paṭivasati daharo, vuttasiro, soḷasavassuddesiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū …pe… anavayo. So kho pahoti samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Now at that time around five hundred brahmins from abroad were residing in Sāvatthī on some business. Then those brahmins thought, “This ascetic Gotama advocates purification for all four classes. Who is capable of debating with him about this?”
Now at that time the student Assalāyana was residing in Sāvatthī. He was young, tonsured, and sixteen years old. He had mastered the three Vedas, together with their vocabularies and ritual performance, their phonology and word classification, and the testaments as fifth. He knew them word-by-word, and their grammar. He was well versed in cosmology and the marks of a great man.
Then those brahmins thought, “This Assalāyana is capable of debating with the ascetic Gotama about this.”
401. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, có khoảng năm trăm vị Bà-la-môn từ nhiều xứ khác nhau đang cư trú tại Sāvatthī vì một công việc nào đó. Bấy giờ, các vị Bà-la-môn ấy khởi lên ý nghĩ này: 'Sa-môn Gotama này tuyên bố về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Ai có thể cùng Sa-môn Gotama tranh luận về vấn đề này?' Lúc bấy giờ, có một thanh niên Bà-la-môn tên là Assalāyana đang cư trú tại Sāvatthī, còn trẻ, khoảng mười sáu tuổi, thông suốt ba tập Veda cùng với từ vựng (nighaṇḍu), nghi thức (keṭubha), ngữ nguyên (sākkharappabheda), và lịch sử (itihāsa) là thứ năm; là một nhà ngữ pháp, một nhà biện giải, và thông thạo về triết học duy vật (lokāyata) và các tướng của bậc đại nhân. Bấy giờ, các vị Bà-la-môn ấy khởi lên ý nghĩ này: 'Thanh niên Bà-la-môn Assalāyana này đang cư trú tại Sāvatthī, còn trẻ, khoảng mười sáu tuổi, thông suốt ba tập Veda... thông thạo. Vị ấy có thể cùng Sa-môn Gotama tranh luận về vấn đề này.'
Atha kho te brāhmaṇā yena assalāyano māṇavo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ: “ayaṁ, bho assalāyana, samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti. Etu bhavaṁ assalāyano samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetū”ti.
So they approached Assalāyana and said to him, “This ascetic Gotama advocates purification for all four classes. Please, worthy Assalāyana, debate with the ascetic Gotama about this.”
Bấy giờ, các vị Bà-la-môn ấy đi đến chỗ thanh niên Bà-la-môn Assalāyana; sau khi đến, họ nói với thanh niên Bà-la-môn Assalāyana rằng: 'Này hiền giả Assalāyana, Sa-môn Gotama này tuyên bố về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Xin hiền giả Assalāyana hãy đến và cùng Sa-môn Gotama tranh luận về vấn đề này.'
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo te brāhmaṇe etadavoca: “samaṇo khalu, bho, gotamo dhammavādī; dhammavādino ca pana duppaṭimantiyā bhavanti. Nāhaṁ sakkomi samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Dutiyampi kho te brāhmaṇā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ: “ayaṁ, bho assalāyana, samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti. Etu bhavaṁ assalāyano samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetu. Caritaṁ kho pana bhotā assalāyanena paribbājakan”ti. Dutiyampi kho assalāyano māṇavo te brāhmaṇe etadavoca: “samaṇo khalu, bho, gotamo dhammavādī; dhammavādino ca pana duppaṭimantiyā bhavanti. Nāhaṁ sakkomi samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Tatiyampi kho te brāhmaṇā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ: “ayaṁ, bho assalāyana, samaṇo gotamo cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paññapeti. Etu bhavaṁ assalāyano samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetu. Caritaṁ kho pana bhotā assalāyanena paribbājakaṁ. Mā bhavaṁ assalāyano ayuddhaparājitaṁ parājayī”ti.
When they said this, Assalāyana said to them, “They say that the ascetic Gotama is a speaker of principle. But speakers of principle are hard to debate. I’m not capable of debating with the ascetic Gotama about this.”
For a second time, those brahmins said to him “This ascetic Gotama advocates purification for all four classes. Please, worthy Assalāyana, debate with the ascetic Gotama about this. For you have lived as a wanderer.” And for a second time, Assalāyana refused.
For a third time, those brahmins said to him, “This ascetic Gotama advocates purification for all four classes. Please, worthy Assalāyana, debate with the ascetic Gotama about this. For you have lived as a wanderer. Don’t admit defeat before going into battle!”
Khi được nói như vậy, thanh niên Assalāyana đã nói với các vị Bà-la-môn ấy rằng: “Thưa các ngài, quả thật Sa-môn Gotama là người nói đúng Chánh pháp, và những người nói đúng Chánh pháp thì khó mà phản bác. Tôi không có khả năng tranh luận với Sa-môn Gotama về lời nói này.” Lần thứ hai, các vị Bà-la-môn ấy lại nói với thanh niên Assalāyana rằng: “Này ngài Assalāyana, Sa-môn Gotama này tuyên bố về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Mong ngài Assalāyana hãy đi tranh luận với Sa-môn Gotama về lời nói này. Hơn nữa, ngài Assalāyana đã thực hành hạnh của du sĩ.” Lần thứ hai, thanh niên Assalāyana lại nói với các vị Bà-la-môn ấy rằng: “Thưa các ngài, quả thật Sa-môn Gotama là người nói đúng Chánh pháp, và những người nói đúng Chánh pháp thì khó mà phản bác. Tôi không có khả năng tranh luận với Sa-môn Gotama về lời nói này.” Lần thứ ba, các vị Bà-la-môn ấy lại nói với thanh niên Assalāyana rằng: “Này ngài Assalāyana, Sa-môn Gotama này tuyên bố về sự thanh tịnh của bốn giai cấp. Mong ngài Assalāyana hãy đi tranh luận với Sa-môn Gotama về lời nói này. Hơn nữa, ngài Assalāyana đã thực hành hạnh của du sĩ. Mong ngài Assalāyana chớ có thất bại một cách chưa chiến đấu đã bại.”
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo te brāhmaṇe etadavoca: “addhā kho ahaṁ bhavanto na labhāmi. Samaṇo khalu, bho, gotamo dhammavādī; dhammavādino ca pana duppaṭimantiyā bhavanti. Nāhaṁ sakkomi samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetunti. Api cāhaṁ bhavantānaṁ vacanena gamissāmī”ti.
When they said this, Assalāyana said to them, “Clearly, worthy sirs, I’m not getting through to you when I say: ‘They say that the ascetic Gotama is a speaker of principle. But speakers of principle are hard to debate. I’m not capable of debating with the ascetic Gotama about this.’ Nevertheless, I shall go at your bidding.”
Khi được nói như vậy, thanh niên Assalāyana đã nói với các vị Bà-la-môn ấy rằng: “Quả thật, tôi không thể từ chối các ngài được. Thưa các ngài, quả thật Sa-môn Gotama là người nói đúng Chánh pháp, và những người nói đúng Chánh pháp thì khó mà phản bác. Tôi không có khả năng tranh luận với Sa-môn Gotama về lời nói này. Tuy nhiên, tôi sẽ đi theo lời của các ngài.”
Atha kho assalāyano māṇavo mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho assalāyano māṇavo bhagavantaṁ etadavoca:
“brāhmaṇā, bho gotama, evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo; brāhmaṇova sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti. Idha bhavaṁ gotamo kimāhā”ti?
“Dissanti kho pana, assalāyana, brāhmaṇānaṁ brāhmaṇiyo utuniyopi gabbhiniyopi vijāyamānāpi pāyamānāpi. Te ca brāhmaṇiyonijāva samānā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’”ti.
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
Then Assalāyana together with a large group of brahmins went to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, the brahmins say: ‘Only brahmins are the best class; other classes are inferior. Only brahmins are the light class; other classes are dark. Only brahmins are purified, not others. Only brahmins are the Divinity’s bosom sons, born from his mouth, born of the Divinity, created by the Divinity, heirs of the Divinity.’ What do you say about this?”
“But Assalāyana, brahmin women are seen menstruating, being pregnant, giving birth, and breastfeeding. Yet even though they’re born from a brahmin womb they say: ‘Only brahmins are the best class; other classes are inferior. Only brahmins are the light class; other classes are dark. Only brahmins are purified, not others. Only brahmins are the Divinity’s bosom sons, born from his mouth, born of the Divinity, created by the Divinity, heirs of the Divinity.’”
“Even though you say this, still the brahmins maintain their belief.”
402. Rồi, thanh niên Assalāyana cùng với một đoàn đông các vị Bà-la-môn đi đến chỗ của Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng với Thế Tôn nói lên những lời chào mừng. Sau khi đã trao đổi những lời thăm hỏi lịch sự, đáng ghi nhớ, vị ấy đã ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, thanh niên Assalāyana đã bạch với Thế Tôn rằng: “Thưa ngài Gotama, các vị Bà-la-môn nói như vầy: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, giai cấp khác là hạ tiện; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là trong trắng, giai cấp khác là đen tối; chỉ có các vị Bà-la-môn là được thanh tịnh, không phải những người không phải Bà-la-môn; chỉ có các vị Bà-la-môn là những người con của Phạm Thiên, là con ruột sanh từ miệng, do Phạm Thiên sanh, do Phạm Thiên tạo, là những người thừa tự của Phạm Thiên.’ Về điều này, ngài Gotama nói thế nào?” “Này Assalāyana, có phải là người ta thấy những người nữ Bà-la-môn có kinh nguyệt, có mang thai, có sinh con, có cho con bú hay không? Và họ, trong khi được sanh ra từ bụng mẹ của người nữ Bà-la-môn, lại nói như vầy: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, giai cấp khác là hạ tiện; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là trong trắng, giai cấp khác là đen tối; chỉ có các vị Bà-la-môn là được thanh tịnh, không phải những người không phải Bà-la-môn; chỉ có các vị Bà-la-môn là những người con của Phạm Thiên, là con ruột sanh từ miệng, do Phạm Thiên sanh, do Phạm Thiên tạo, là những người thừa tự của Phạm Thiên.’” “Thưa ngài Gotama, mặc dù ngài nói như vậy, nhưng về vấn đề này, các vị Bà-la-môn vẫn nghĩ như thế này: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, giai cấp khác là hạ tiện, ... là những người thừa tự của Phạm Thiên.’”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, sutaṁ te: ‘yonakambojesu aññesu ca paccantimesu janapadesu dveva vaṇṇā—ayyo ceva dāso ca; ayyo hutvā dāso hoti, dāso hutvā ayyo hotī’”ti?
“Evaṁ, bho, sutaṁ taṁ me: ‘yonakambojesu aññesu ca paccantimesu janapadesu dveva vaṇṇā—ayyo ceva dāso ca; ayyo hutvā dāso hoti, dāso hutvā ayyo hotī’”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
“What do you think, Assalāyana? Have you heard that in Greece and Persia and other foreign lands there are only two classes, masters and bonded servants; and that masters may become servants, and servants masters?”
“Yes, I have heard that.”
“Then what is the source of the brahmins’ certainty and forcefulness in this matter that they make this claim?”
“Even though you say this, still the brahmins maintain their belief.”
403. “Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều đó? Ngươi có nghe rằng: ‘Ở xứ Yona, Kamboja, và các xứ biên địa khác, chỉ có hai giai cấp là chủ và tớ; đã là chủ rồi trở thành tớ, đã là tớ rồi trở thành chủ’ hay không?” “Thưa vâng, tôi có nghe như vậy: ‘Ở xứ Yona, Kamboja, và các xứ biên địa khác, chỉ có hai giai cấp là chủ và tớ; đã là chủ rồi trở thành tớ, đã là tớ rồi trở thành chủ.’” “Này Assalāyana, trong trường hợp này, sức mạnh của các vị Bà-la-môn là gì, sự tin cậy là gì, khi mà ở đây các vị Bà-la-môn nói như vầy: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, giai cấp khác là hạ tiện, ... là những người thừa tự của Phạm Thiên.’” “Thưa ngài Gotama, mặc dù ngài nói như vậy, nhưng về vấn đề này, các vị Bà-la-môn vẫn nghĩ như thế này: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, giai cấp khác là hạ tiện, ... là những người thừa tự của Phạm Thiên.’”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, khattiyova nu kho pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, no brāhmaṇo? Vessova nu kho …pe… suddova nu kho pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, no brāhmaṇo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Khattiyopi hi, bho gotama, pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya. Brāhmaṇopi hi, bho gotama …pe… vessopi hi, bho gotama …pe… suddopi hi, bho gotama …pe… sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pāṇātipātino adinnādāyino kāmesumicchācārino musāvādino pisuṇavācā pharusavācā samphappalāpino abhijjhālū byāpannacittā micchādiṭṭhī kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyyun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
“What do you think, Assalāyana? Suppose an aristocrat were to kill living creatures, steal, and commit sexual misconduct; to use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; and to be covetous, malicious, with wrong view. When their body breaks up, after death, they’d be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. Would this happen only to an aristocrat, and not to a brahmin? Or suppose a peasant, or a menial were to act in the same way. Would that result befall only a peasant or a menial, and not to a brahmin?”
“No, worthy Gotama. If they acted the same way, the same result would befall an aristocrat, a brahmin, a peasant, or a menial. For if any of the four classes were to kill living creatures, steal, and commit sexual misconduct; to use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; and to be covetous, malicious, with wrong view, then, when their body breaks up, after death, they’d be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.”
“Then what is the source of the brahmins’ certainty and forcefulness in this matter that they make this claim?”
“Even though you say this, still the brahmins maintain their belief.”
404. “Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này, có phải chỉ có người Sát-đế-lỵ sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời ác độc, nói lời phù phiếm, tham lam, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, chứ không phải người Bà-la-môn? Có phải chỉ có người Phệ-xá... cho đến... có phải chỉ có người Thủ-đà-la sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời ác độc, nói lời phù phiếm, tham lam, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, chứ không phải người Bà-la-môn?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy. Thưa Tôn giả Gotama, người Sát-đế-lỵ sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời ác độc, nói lời phù phiếm, tham lam, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thưa Tôn giả Gotama, người Bà-la-môn cũng vậy... cho đến... Thưa Tôn giả Gotama, người Phệ-xá cũng vậy... cho đến... Thưa Tôn giả Gotama, người Thủ-đà-la cũng vậy... cho đến... Thưa Tôn giả Gotama, cả bốn giai cấp, nếu sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời ác độc, nói lời phù phiếm, tham lam, có sân tâm, có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.” “Này Assalāyana, trong trường hợp này, sức mạnh của các người Bà-la-môn là gì, sự bảo đảm của họ là gì, khi các người Bà-la-môn đã nói như sau: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, các giai cấp khác là hạ liệt... cho đến... là những người thừa tự của Phạm thiên’?” “Thưa Tôn giả Gotama, mặc dù Tôn giả nói như vậy, nhưng trong trường hợp này, các người Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, các giai cấp khác là hạ liệt... cho đến... là những người thừa tự của Phạm thiên’.”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, brāhmaṇova nu kho pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, no khattiyo, no vesso, no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Khattiyopi hi, bho gotama, pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya. Brāhmaṇopi hi, bho gotama …pe… vessopi hi, bho gotama …pe… suddopi hi, bho gotama …pe… sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pāṇātipātā paṭiviratā adinnādānā paṭiviratā kāmesumicchācārā paṭiviratā musāvādā paṭiviratā pisuṇāya vācāya paṭiviratā pharusāya vācāya paṭiviratā samphappalāpā paṭiviratā anabhijjhālū abyāpannacittā sammādiṭṭhī kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
“What do you think, Assalāyana? Suppose a brahmin were to refrain from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; from using speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; and from covetousness, malice, and wrong view. When their body breaks up, after death, they’d be reborn in a good place, a heavenly realm. Would this happen only to a brahmin, and not to an aristocrat, a peasant, or a menial?”
“No, worthy Gotama. If they acted the same way, the same result would befall an aristocrat, a brahmin, a peasant, or a menial. For if any of the four classes were to refrain from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; from using speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; and from covetousness, malice, and wrong view, then, when their body breaks up, after death, they’d be reborn in a good place, a heavenly realm.”
“Then what is the source of the brahmins’ certainty and forcefulness in this matter that they make this claim?”
“Even though you say this, still the brahmins maintain their belief.”
405. “Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này, có phải chỉ có người Bà-la-môn từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời ác độc, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này, chứ không phải người Sát-đế-lỵ, không phải người Phệ-xá, không phải người Thủ-đà-la?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy! Thưa Tôn giả Gotama, người Sát-đế-lỵ, nếu từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời ác độc, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Thưa Tôn giả Gotama, người Bà-la-môn cũng vậy... cho đến... Thưa Tôn giả Gotama, người Phệ-xá cũng vậy... cho đến... Thưa Tôn giả Gotama, người Thủ-đà-la cũng vậy... cho đến... Thưa Tôn giả Gotama, cả bốn giai cấp, nếu từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời ác độc, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này.” “Này Assalāyana, trong trường hợp này, sức mạnh của các người Bà-la-môn là gì, sự bảo đảm của họ là gì, khi các người Bà-la-môn đã nói như sau: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, các giai cấp khác là hạ liệt... cho đến... là những người thừa tự của Phạm thiên’?” “Thưa Tôn giả Gotama, mặc dù Tôn giả nói như vậy, nhưng trong trường hợp này, các người Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, các giai cấp khác là hạ liệt... cho đến... là những người thừa tự của Phạm thiên’.”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, brāhmaṇova nu kho pahoti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetuṁ, no khattiyo, no vesso, no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Khattiyopi hi, bho gotama, pahoti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetuṁ; brāhmaṇopi hi, bho gotama … vessopi hi, bho gotama … suddopi hi, bho gotama … sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pahonti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
“What do you think, Assalāyana? Is only a brahmin capable of developing a heart of love, free of enmity and ill will for this region, and not an aristocrat, peasant, or menial?”
“No, worthy Gotama. Aristocrats, brahmins, peasants, and menials can all do so. For all four classes are capable of developing a heart of love, free of enmity and ill will for this region.”
“Then what is the source of the brahmins’ certainty and forcefulness in this matter that they make this claim?”
“Even though you say this, still the brahmins maintain their belief.”
406. “Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này, có phải chỉ có người Bà-la-môn mới có khả năng ở tại xứ này tu tập tâm từ không hận, không sân, chứ không phải người Sát-đế-lỵ, không phải người Phệ-xá, không phải người Thủ-đà-la?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy! Thưa Tôn giả Gotama, người Sát-đế-lỵ cũng có khả năng ở tại xứ này tu tập tâm từ không hận, không sân; thưa Tôn giả Gotama, người Bà-la-môn cũng vậy... người Phệ-xá cũng vậy... người Thủ-đà-la cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, cả bốn giai cấp đều có khả năng ở tại xứ này tu tập tâm từ không hận, không sân.” “Này Assalāyana, trong trường hợp này, sức mạnh của các người Bà-la-môn là gì, sự bảo đảm của họ là gì, khi các người Bà-la-môn đã nói như sau: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, các giai cấp khác là hạ liệt... cho đến... là những người thừa tự của Phạm thiên’?” “Thưa Tôn giả Gotama, mặc dù Tôn giả nói như vậy, nhưng trong trường hợp này, các người Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, các giai cấp khác là hạ liệt... cho đến... là những người thừa tự của Phạm thiên’.”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, brāhmaṇova nu kho pahoti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetuṁ, no khattiyo, no vesso, no suddo”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Khattiyopi hi, bho gotama, pahoti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetuṁ, brāhmaṇopi hi, bho gotama … vessopi hi, bho gotama … suddopi hi, bho gotama … sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pahonti sottisināniṁ ādāya nadiṁ gantvā rajojallaṁ pavāhetun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
“What do you think, Assalāyana? Is only a brahmin capable of taking some bathing cleanser, going to the river, and rinsing off dust and dirt, and not an aristocrat, peasant, or menial?”
“No, worthy Gotama. All four classes are capable of doing this.”
“Then what is the source of the brahmins’ certainty and forcefulness in this matter that they make this claim?”
“Even though you say this, still the brahmins maintain their belief.”
407. “Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này, có phải chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có thể mang theo dụng cụ tắm gội và bột thơm đi ra sông để gột rửa bụi bặm và cáu bẩn, còn giai cấp Sát-đế-lỵ thì không, giai cấp Phệ-xá thì không, giai cấp Thủ-đà-la thì không?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy! Thưa Tôn giả Gotama, giai cấp Sát-đế-lỵ cũng có thể mang theo dụng cụ tắm gội và bột thơm đi ra sông để gột rửa bụi bặm và cáu bẩn. Thưa Tôn giả Gotama, giai cấp Bà-la-môn cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, giai cấp Phệ-xá cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, giai cấp Thủ-đà-la cũng vậy... Thưa Tôn giả Gotama, cả bốn giai cấp đều có thể mang theo dụng cụ tắm gội và bột thơm đi ra sông để gột rửa bụi bặm và cáu bẩn.” “Này Assalāyana, trong trường hợp này, sức mạnh của các Bà-la-môn là gì, sự tin tưởng của họ là gì, khi họ nói rằng: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao quý nhất, các giai cấp khác là thấp hèn... là những người thừa tự của Phạm Thiên’?” “Thưa Tôn giả Gotama, mặc dù Tôn giả nói như vậy, nhưng trong trường hợp này, các Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao quý nhất, các giai cấp khác là thấp hèn... là những người thừa tự của Phạm Thiên’.”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, idha rājā khattiyo muddhāvasitto nānājaccānaṁ purisānaṁ purisasataṁ sannipāteyya: ‘āyantu bhonto ye tattha khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannā, sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya, aggiṁ abhinibbattentu, tejo pātukarontu. Āyantu pana bhonto ye tattha caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannā, sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya, aggiṁ abhinibbattentu, tejo pātukarontū’ti.
“What do you think, Assalāyana? Suppose an anointed aristocratic king were to gather a hundred people of various births and say to them: ‘Please worthy sirs, let anyone here who was born in a family of aristocrats, brahmins, or chieftains take a drill-stick made of teak, sal, <i lang='pi' translate='no'>salaḷa</i>, sandalwood, or cherry wood, light a fire and produce heat. And let anyone here who was born in a family of corpse-workers, hunters, bamboo-workers, chariot-makers, or scavengers take a drill-stick made from a mutt’s drinking trough, a pig’s trough, a dustbin, or castor-oil wood, light a fire and produce heat.’
408. “Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Giả sử ở đây, một vị vua thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, tập hợp một trăm người đàn ông thuộc các dòng dõi khác nhau và nói rằng: ‘Này các khanh, những ai sinh ra từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, dòng dõi Bà-la-môn, dòng dõi vương tộc, hãy đến đây. Hãy lấy que cọ xát phía trên làm bằng gỗ tếch, hoặc gỗ sala, hoặc gỗ thông, hoặc gỗ chiên-đàn, hoặc gỗ sen, rồi tạo ra lửa, làm cho hơi nóng xuất hiện. Còn nữa, này các khanh, những ai sinh ra từ dòng dõi Chiên-đà-la, dòng dõi thợ săn, dòng dõi thợ đan, dòng dõi thợ làm xe, dòng dõi người đổ rác, hãy đến đây. Hãy lấy que cọ xát phía trên làm bằng máng ăn của chó, hoặc máng ăn của heo, hoặc máng giặt của thợ nhuộm, hoặc gỗ thầu dầu, rồi tạo ra lửa, làm cho hơi nóng xuất hiện’.”
Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, yo evaṁ nu kho so khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannehi sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato, so eva nu khvāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ; yo pana so caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannehi sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato svāssa aggi na ceva accimā na ca vaṇṇavā na ca pabhassaro, na ca tena sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātun”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Yopi hi so, bho gotama, khattiyakulā brāhmaṇakulā rājaññakulā uppannehi sākassa vā sālassa vā salaḷassa vā candanassa vā padumakassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato svāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ; yopi so caṇḍālakulā nesādakulā venakulā rathakārakulā pukkusakulā uppannehi sāpānadoṇiyā vā sūkaradoṇiyā vā rajakadoṇiyā vā eraṇḍakaṭṭhassa vā uttarāraṇiṁ ādāya aggi abhinibbatto, tejo pātukato, svāssa aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, tena ca sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātuṁ. Sabbopi hi, bho gotama, aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca, sabbenapi sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātun”ti.
“Ettha, assalāyana, brāhmaṇānaṁ kiṁ balaṁ, ko assāso yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’”ti?
“Kiñcāpi bhavaṁ gotamo evamāha, atha khvettha brāhmaṇā evametaṁ maññanti: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’”ti.
What do you think, Assalāyana? Would only the fire produced by the high class people with good quality wood have flames, color, and radiance, and be usable as fire, and not the fire produced by the low class people with poor quality wood?”
“No, worthy Gotama. The fire produced by the high class people with good quality wood would have flames, color, and radiance, and be usable as fire, and so would the fire produced by the low class people with poor quality wood. For all fire has flames, color, and radiance, and is usable as fire.”
“Then what is the source of the brahmins’ certainty and forcefulness in this matter that they make this claim?”
“Even though you say this, still the brahmins maintain their belief.”
“Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Ngọn lửa được tạo ra, hơi nóng được làm cho xuất hiện bởi những người sinh ra từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, dòng dõi Bà-la-môn, dòng dõi vương tộc, bằng cách lấy que cọ xát phía trên làm bằng gỗ tếch, hoặc gỗ sala, hoặc gỗ thông, hoặc gỗ chiên-đàn, hoặc gỗ sen, phải chăng chỉ có ngọn lửa ấy mới có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, và chỉ với ngọn lửa ấy mới có thể làm được các công việc cần đến lửa? Còn ngọn lửa được tạo ra, hơi nóng được làm cho xuất hiện bởi những người sinh ra từ dòng dõi Chiên-đà-la, dòng dõi thợ săn, dòng dõi thợ đan, dòng dõi thợ làm xe, dòng dõi người đổ rác, bằng cách lấy que cọ xát phía trên làm bằng máng ăn của chó, hoặc máng ăn của heo, hoặc máng giặt của thợ nhuộm, hoặc gỗ thầu dầu, phải chăng ngọn lửa ấy không có ngọn, không có màu sắc, không có ánh sáng, và với ngọn lửa ấy không thể làm được các công việc cần đến lửa?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy! Thưa Tôn giả Gotama, ngọn lửa được tạo ra, hơi nóng được làm cho xuất hiện bởi những người sinh ra từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, dòng dõi Bà-la-môn, dòng dõi vương tộc, bằng cách lấy que cọ xát phía trên làm bằng gỗ tếch, hoặc gỗ sala, hoặc gỗ thông, hoặc gỗ chiên-đàn, hoặc gỗ sen, ngọn lửa ấy cũng có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, và với ngọn lửa ấy cũng có thể làm được các công việc cần đến lửa. Và ngọn lửa được tạo ra, hơi nóng được làm cho xuất hiện bởi những người sinh ra từ dòng dõi Chiên-đà-la, dòng dõi thợ săn, dòng dõi thợ đan, dòng dõi thợ làm xe, dòng dõi người đổ rác, bằng cách lấy que cọ xát phía trên làm bằng máng ăn của chó, hoặc máng ăn của heo, hoặc máng giặt của thợ nhuộm, hoặc gỗ thầu dầu, ngọn lửa ấy cũng có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, và với ngọn lửa ấy cũng có thể làm được các công việc cần đến lửa. Thưa Tôn giả Gotama, tất cả mọi ngọn lửa đều có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng, và với tất cả mọi ngọn lửa đều có thể làm được các công việc cần đến lửa.” “Này Assalāyana, trong trường hợp này, sức mạnh của các Bà-la-môn là gì, sự tin tưởng của họ là gì, khi họ nói rằng: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao quý nhất, các giai cấp khác là thấp hèn; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là trắng, các giai cấp khác là đen; chỉ có các Bà-la-môn mới thanh tịnh, không phải Bà-la-môn thì không thanh tịnh; chỉ có các Bà-la-môn là con của Phạm Thiên, sinh ra từ ngực, sinh ra từ miệng, do Phạm Thiên sinh, do Phạm Thiên tạo, là những người thừa tự của Phạm Thiên’?” “Thưa Tôn giả Gotama, mặc dù Tôn giả nói như vậy, nhưng trong trường hợp này, các Bà-la-môn vẫn nghĩ rằng: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao quý nhất, các giai cấp khác là thấp hèn... là những người thừa tự của Phạm Thiên’.”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, idha khattiyakumāro brāhmaṇakaññāya saddhiṁ saṁvāsaṁ kappeyya, tesaṁ saṁvāsamanvāya putto jāyetha; yo so khattiyakumārena brāhmaṇakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti?
“Yo so, bho gotama, khattiyakumārena brāhmaṇakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti.
“What do you think, Assalāyana? Suppose an aristocrat boy was to sleep with a brahmin girl, and they had a child. Would that child be called an aristocrat after the father or a brahmin after the mother?”
“They could be called either.”
409. “Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Giả sử ở đây, một thanh niên Sát-đế-lỵ chung sống với một thiếu nữ Bà-la-môn, do sự chung sống của họ mà một người con trai được sinh ra. Người con trai được sinh ra từ thanh niên Sát-đế-lỵ và thiếu nữ Bà-la-môn ấy, có thể giống cả mẹ lẫn cha, có nên được gọi là ‘Sát-đế-lỵ’ và cũng được gọi là ‘Bà-la-môn’ không?” “Thưa Tôn giả Gotama, người con trai được sinh ra từ thanh niên Sát-đế-lỵ và thiếu nữ Bà-la-môn ấy, có thể giống cả mẹ lẫn cha, nên được gọi là ‘Sát-đế-lỵ’ và cũng được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, idha brāhmaṇakumāro khattiyakaññāya saddhiṁ saṁvāsaṁ kappeyya, tesaṁ saṁvāsamanvāya putto jāyetha; yo so brāhmaṇakumārena khattiyakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti?
“Yo so, bho gotama, brāhmaṇakumārena khattiyakaññāya putto uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘khattiyo’tipi vattabbo ‘brāhmaṇo’tipi vattabbo”ti.
“What do you think, Assalāyana? Suppose a brahmin boy was to sleep with an aristocrat girl, and they had a child. Would that child be called an aristocrat after the mother or a brahmin after the father?”
“They could be called either.”
“Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Giả sử ở đây, một thanh niên Bà-la-môn chung sống với một thiếu nữ Sát-đế-lỵ, do sự chung sống của họ mà một người con trai được sinh ra. Người con trai được sinh ra từ thanh niên Bà-la-môn và thiếu nữ Sát-đế-lỵ ấy, có thể giống cả mẹ lẫn cha, có nên được gọi là ‘Sát-đế-lỵ’ và cũng được gọi là ‘Bà-la-môn’ không?” “Thưa Tôn giả Gotama, người con trai được sinh ra từ thanh niên Bà-la-môn và thiếu nữ Sát-đế-lỵ ấy, có thể giống cả mẹ lẫn cha, nên được gọi là ‘Sát-đế-lỵ’ và cũng được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, idha vaḷavaṁ gadrabhena sampayojeyyuṁ, tesaṁ sampayogamanvāya kisoro jāyetha; yo so vaḷavāya gadrabhena kisoro uppanno, siyā so mātupi sadiso pitupi sadiso, ‘asso’tipi vattabbo ‘gadrabho’tipi vattabbo”ti?
“Kuṇḍañhi so, bho gotama, assataro hoti. Idaṁ hissa, bho gotama, nānākaraṇaṁ passāmi; amutra ca panesānaṁ na kiñci nānākaraṇaṁ passāmī”ti.
“What do you think, Assalāyana? Suppose a mare were to couple with a donkey, and she gave birth to a mule. Would that mule be called a horse after the mother or a donkey after the father?”
“It’s a mule, as it is a crossbreed. I see the difference in this case, but not in the previous cases.”
“Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, giả sử người ta cho ngựa cái giao phối với lừa đực, và do sự giao phối của chúng, một con non được sinh ra. Con non ấy, được sinh ra từ ngựa cái và lừa đực, nó giống mẹ và cũng giống cha. Nó có nên được gọi là ‘ngựa’ hay nên được gọi là ‘lừa’ không?” – “Thưa Tôn giả Gotama, nó là con la, một giống lai tạp. Thưa Tôn giả Gotama, đối với nó, con thấy có sự khác biệt này. Còn đối với trường hợp trước đây của họ, con không thấy có bất kỳ sự khác biệt nào.”
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana, idhāssu dve māṇavakā bhātaro sodariyā, eko ajjhāyako upanīto eko anajjhāyako anupanīto. Kamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā”ti?
“Yo so, bho gotama, māṇavako ajjhāyako upanīto tamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā. Kiñhi, bho gotama, anajjhāyake anupanīte dinnaṁ mahapphalaṁ bhavissatī”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, assalāyana,
“What do you think, Assalāyana? Suppose there were two young students who were brothers who had shared a womb. One was an educated reciter, while the other was not an educated reciter. Who would the brahmins feed first at an offering of food for ancestors, an offering of a dish of milk-rice, a sacrifice, or a feast for guests?”
“They’d first feed the young student who was an educated reciter. For how could an offering to someone who is not an educated reciter be very fruitful?”
“What do you think, Assalāyana?
“Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có hai thanh niên là anh em cùng một mẹ; một người học tập và thông thạo Vệ-đà, một người không học tập và không thông thạo Vệ-đà. Giữa hai người này, các Bà-la-môn sẽ mời ai dùng bữa trước tiên, trong một lễ cúng cho người đã khuất, hay trong một bữa tiệc, hay trong một lễ tế tự, hay trong một buổi đãi khách?” – “Thưa Tôn giả Gotama, người thanh niên nào học tập và thông thạo Vệ-đà, các Bà-la-môn sẽ mời người ấy dùng bữa trước tiên, trong một lễ cúng cho người đã khuất, hay trong một bữa tiệc, hay trong một lễ tế tự, hay trong một buổi đãi khách. Thưa Tôn giả Gotama, vì cúng dường cho người không học tập, không thông thạo Vệ-đà thì làm sao có được quả lớn?”
“Yo so, bho gotama, māṇavako anajjhāyako anupanīto sīlavā kalyāṇadhammo tamettha brāhmaṇā paṭhamaṁ bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā. Kiñhi, bho gotama, dussīle pāpadhamme dinnaṁ mahapphalaṁ bhavissatī”ti?
“They’d first feed the young student who was not an educated reciter, but was ethical and of good character. For how could an offering to someone who is unethical and of bad character be very fruitful?”
“Này Assalāyana, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Ở đây, có hai thanh niên là anh em cùng một mẹ; một người học tập và thông thạo Vệ-đà, nhưng ác giới, theo ác pháp; một người không học tập và không thông thạo Vệ-đà, nhưng có giới hạnh, theo thiện pháp. Giữa hai người này, các Bà-la-môn sẽ mời ai dùng bữa trước tiên, trong một lễ cúng cho người đã khuất, hay trong một bữa tiệc, hay trong một lễ tế tự, hay trong một buổi đãi khách?” – “Thưa Tôn giả Gotama, người thanh niên nào không học tập và không thông thạo Vệ-đà, nhưng có giới hạnh, theo thiện pháp, các Bà-la-môn sẽ mời người ấy dùng bữa trước tiên, trong một lễ cúng cho người đã khuất, hay trong một bữa tiệc, hay trong một lễ tế tự, hay trong một buổi đãi khách. Thưa Tôn giả Gotama, vì cúng dường cho người ác giới, theo ác pháp thì làm sao có được quả lớn?”
“Pubbe kho tvaṁ, assalāyana, jātiṁ agamāsi; jātiṁ gantvā mante agamāsi; mante gantvā tape agamāsi; tape gantvā cātuvaṇṇiṁ suddhiṁ paccāgato, yamahaṁ paññapemī”ti. Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
“Firstly you relied on birth, Assalāyana, then you switched to education, then you switched to abstemious behavior. Now you’ve come around to believing in purification for the four classes, just as I advocate.” When he said this, Assalāyana sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say.
“Này Assalāyana, trước hết ngươi đã đi đến (lập luận về) giai cấp. Từ giai cấp, ngươi đã đi đến (lập luận về) các câu thần chú. Từ các câu thần chú, ngươi đã đi đến (lập luận về) khổ hạnh. Từ khổ hạnh, ngươi đã quay trở lại với sự thanh tịnh của bốn giai cấp mà ta tuyên bố.” Khi được nói như vậy, thanh niên Assalāyana ngồi im lặng, bối rối, vai rũ xuống, mặt cúi gằm, trầm tư, không thể đối đáp.
Atha kho bhagavā assalāyanaṁ māṇavaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā assalāyanaṁ māṇavaṁ etadavoca:
“bhūtapubbaṁ, assalāyana, sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantānaṁ evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo … pe… brahmadāyādā’ti.
Assosi kho, assalāyana, asito devalo isi: ‘sattannaṁ kira brāhmaṇisīnaṁ araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantānaṁ evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo …pe… brahmadāyādā’ti. Atha kho, assalāyana, asito devalo isi kesamassuṁ kappetvā mañjiṭṭhavaṇṇāni dussāni nivāsetvā paṭaliyo upāhanā āruhitvā jātarūpamayaṁ daṇḍaṁ gahetvā sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ patthaṇḍile pāturahosi. Atha kho, assalāyana, asito devalo isi sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ patthaṇḍile caṅkamamāno evamāha: ‘handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatā; handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatā’ti?
Atha kho, assalāyana, sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ etadahosi: ‘ko nāyaṁ gāmaṇḍalarūpo viya sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ patthaṇḍile caṅkamamāno evamāha: “handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatā; handa ko nu kho ime bhavanto brāhmaṇisayo gatāti? Handa naṁ abhisapāmā”’ti.
Atha kho, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitaṁ devalaṁ isiṁ abhisapiṁsu: ‘bhasmā, vasala, hohi; bhasmā, vasala, hohī’ti. Yathā yathā kho, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitaṁ devalaṁ isiṁ abhisapiṁsu tathā tathā asito devalo isi abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro ca.
Atha kho, assalāyana, sattannaṁ brāhmaṇisīnaṁ etadahosi: ‘moghaṁ vata no tapo, aphalaṁ brahmacariyaṁ. Mayañhi pubbe yaṁ abhisapāma—bhasmā, vasala, hohi; bhasmā, vasala, hohīti bhasmāva bhavati ekacco. Imaṁ pana mayaṁ yathā yathā abhisapāma tathā tathā abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro cā’ti.
‘Na bhavantānaṁ moghaṁ tapo, nāphalaṁ brahmacariyaṁ. Iṅgha bhavanto, yo mayi manopadoso taṁ pajahathā’ti.
‘Yo bhavati manopadoso taṁ pajahāma. Ko nu bhavaṁ hotī’ti?
‘Suto nu bhavataṁ—asito devalo isī’ti?
‘Evaṁ, bho’.
‘So khvāhaṁ, bho, homī’ti. Atha kho, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitaṁ devalaṁ isiṁ abhivādetuṁ upakkamiṁsu.
Knowing this, the Buddha said to him:
“Once upon a time, Assalāyana, seven brahmin seers settled in leaf huts in a wilderness region. They had the following harmful misconception: ‘Only brahmins are the best class; other classes are inferior. Only brahmins are the light class; other classes are dark. Only brahmins are purified, not others. Only brahmins are the Divinity’s bosom sons, born from his mouth, born of the Divinity, created by the Divinity, heirs of the Divinity.’
The seer Devala the Dark heard about this. So he did up his hair and beard, dressed in magenta robes, put on his lined sandals, grasped a golden staff, and appeared in the courtyard of the seven brahmin seers. Then he wandered about the yard saying, ‘Where, oh where have those brahmin seers gone? Where, oh where have those brahmin seers gone?’
Then those brahmin seers said, ‘Who’s this wandering about our courtyard like a village lout? Let’s curse him!’
So they cursed Devala the Dark, ‘Be ashes, lowlife! Be ashes, lowlife!’ But the more the seers cursed him, the more attractive, good-looking, and lovely Devala the Dark became.
Then those brahmin seers said, ‘Our fervor is in vain! Our spiritual path is fruitless! For when we used to curse someone to become ashes, ashes they became. But the more we curse this one, the more attractive, good-looking, and lovely he becomes.’
‘Worthy sirs, your fervor is not in vain; your spiritual path is not fruitless. Please let go of your malevolence toward me.’
‘We let go of our malevolence toward you. But who are you, worthy sir?’
‘Have you heard of the seer Devala the Dark?’
‘Yes, worthy sir.’
‘I am he, worthy sir.’ Then they approached Devala and bowed to him.
410. Bấy giờ, Thế Tôn, khi thấy thanh niên Assalāyana im lặng, bối rối, vai rũ xuống, mặt cúi gằm, trầm tư, không thể đối đáp, đã nói với thanh niên Assalāyana điều này: “Này Assalāyana, thuở xưa, có bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn đang cùng nhau thảo luận trong các am lá giữa rừng, và một tà kiến như sau đã khởi lên nơi họ: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng nhất, các giai cấp khác là hạ liệt... là những người thừa tự của Phạm Thiên.’ Này Assalāyana, ẩn sĩ Asita Devala đã nghe được rằng: ‘Có bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn đang cùng nhau thảo luận trong các am lá giữa rừng, và một tà kiến như sau đã khởi lên nơi họ: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng nhất... là những người thừa tự của Phạm Thiên.’’ Bấy giờ, này Assalāyana, ẩn sĩ Asita Devala cạo râu tóc, mặc y phục màu đỏ son, mang đôi dép nhiều lớp, cầm cây gậy bằng vàng, và xuất hiện tại khuôn viên của bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn. Bấy giờ, này Assalāyana, ẩn sĩ Asita Devala, trong khi đi kinh hành trong khuôn viên của bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn, đã nói như sau: ‘Nào, các Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đã đi đâu cả rồi? Nào, các Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đã đi đâu cả rồi?’ Bấy giờ, này Assalāyana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Kẻ này là ai, trông như một tên nhà quê, lại dám đi kinh hành trong khuôn viên của bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn và nói rằng: ‘Nào, các Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đã đi đâu cả rồi? Nào, các Tôn giả ẩn sĩ Bà-la-môn này đã đi đâu cả rồi?’ Nào, chúng ta hãy nguyền rủa hắn!’ Bấy giờ, này Assalāyana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn đã nguyền rủa ẩn sĩ Asita Devala: ‘Hãy thành tro bụi, hỡi kẻ hạ tiện! Hãy thành tro bụi, hỡi kẻ hạ tiện!’ Nhưng này Assalāyana, càng bị bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn nguyền rủa, ẩn sĩ Asita Devala lại càng trở nên đẹp đẽ hơn, ưa nhìn hơn, và khả ái hơn. Bấy giờ, này Assalāyana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Ôi, khổ hạnh của chúng ta thật vô ích, phạm hạnh của chúng ta thật vô quả! Vì trước đây, khi chúng ta nguyền rủa ai: ‘Hãy thành tro bụi, hỡi kẻ hạ tiện! Hãy thành tro bụi, hỡi kẻ hạ tiện!’ thì kẻ đó liền thành tro bụi. Nhưng người này, chúng ta càng nguyền rủa, hắn lại càng trở nên đẹp đẽ hơn, ưa nhìn hơn, và khả ái hơn.’ – ‘Khổ hạnh của các Tôn giả không vô ích, phạm hạnh của các ngài không vô quả. Nào, các Tôn giả, hãy từ bỏ tâm sân hận đối với tôi.’ – ‘Chúng tôi từ bỏ tâm sân hận đối với ngài. Nhưng Tôn giả là ai?’ – ‘Các Tôn giả có từng nghe về ẩn sĩ Asita Devala không?’ – ‘Thưa vâng, có nghe.’ – ‘Thưa các ngài, chính tôi là người ấy.’ Bấy giờ, này Assalāyana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn đã tiến đến để đảnh lễ ẩn sĩ Asita Devala.
Atha kho, assalāyana, asito devalo isi satta brāhmaṇisayo etadavoca: ‘sutaṁ metaṁ, bho, sattannaṁ kira brāhmaṇisīnaṁ araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammantānaṁ evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīno añño vaṇṇo; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇho añño vaṇṇo; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
‘Evaṁ, bho’.
Devala said to them, ‘I heard that when the seven brahmin seers had settled in leaf huts in a wilderness region, they had the following harmful misconception: “Only brahmins are the best class; other classes are inferior. Only brahmins are the light class; other classes are dark. Only brahmins are purified, not others. Only brahmins are the Divinity’s bosom sons, born from his mouth, born of the Divinity, created by the Divinity, heirs of the Divinity.”’
‘That’s right, worthy sir.’
411. Này Assalāyana, khi ấy, ẩn sĩ Asita Devala đã nói với bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn như sau: ‘Thưa các ngài, tôi đã nghe rằng bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn, trong khi đang hội họp ở trong các am lá tại chốn rừng sâu, đã khởi lên tà kiến xấu ác như thế này: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao thượng, các giai cấp khác là hạ tiện; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là trong trắng, các giai cấp khác là đen tối; chỉ có các người Bà-la-môn được thanh tịnh, không phải những người không phải Bà-la-môn; chỉ có các người Bà-la-môn là những người con của Phạm Thiên, được sinh ra từ ngực, được sinh ra từ miệng, là con của Phạm Thiên, do Phạm Thiên hóa sanh, là những người thừa tự của Phạm Thiên.’ ‘Thưa ngài, đúng vậy.’
‘Jānanti pana bhonto—yā janikā mātā brāhmaṇaṁyeva agamāsi, no abrāhmaṇan’ti?
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
‘But do you know whether your birth mother only had relations with a brahmin and not with a non-brahmin?’
‘We don’t know that.’
‘But do you know
‘Thưa các ngài, các ngài có biết rằng: ‘Người mẹ đã sanh ra (chúng ta) chỉ đi đến với người Bà-la-môn, không phải người không phải Bà-la-môn’ không?’ ‘Thưa ngài, chúng tôi không biết điều này.’
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
‘We don’t know that.’
‘But do you know
‘Thưa các ngài, các ngài có biết rằng: ‘Người mẹ của người mẹ đã sanh ra (chúng ta), cho đến bảy đời tổ mẫu, chỉ đi đến với người Bà-la-môn, không phải người không phải Bà-la-môn’ không?’ ‘Thưa ngài, chúng tôi không biết điều này.’
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
‘We don’t know that.’
‘But do you know
‘Thưa các ngài, các ngài có biết rằng: ‘Người cha đã sanh ra (chúng ta) chỉ đi đến với người nữ Bà-la-môn, không phải người nữ không phải Bà-la-môn’ không?’ ‘Thưa ngài, chúng tôi không biết điều này.’
‘No hidaṁ, bho’.
‘Jānanti pana bhonto—
‘We don’t know that.’
‘But do you know
‘Thưa các ngài, các ngài có biết rằng: ‘Người cha của người cha đã sanh ra (chúng ta), cho đến bảy đời tổ phụ, chỉ đi đến với người nữ Bà-la-môn, không phải người nữ không phải Bà-la-môn’ không?’ ‘Thưa ngài, chúng tôi không biết điều này.’
‘Jānāma mayaṁ, bho—yathā gabbhassa avakkanti hoti. Idha mātāpitaro ca sannipatitā honti, mātā ca utunī hoti, gandhabbo ca paccupaṭṭhito hoti; evaṁ tiṇṇaṁ sannipātā gabbhassa avakkanti hotī’ti.
‘We do know that, worthy sir. An embryo is conceived when these three things come together—the mother and father come together, the mother is in the fertile phase of her menstrual cycle, and the virile spirit is ready.’
‘Thưa các ngài, các ngài có biết về cách thức sự nhập thai được diễn ra không?’ ‘Thưa ngài, chúng tôi biết về cách thức sự nhập thai được diễn ra. Ở đây, có sự giao hợp của cha và mẹ, người mẹ đang trong thời kỳ (kinh nguyệt), và có sự hiện diện của thần thức; do sự hội đủ của ba yếu tố này nên sự nhập thai được diễn ra.’
‘Jānanti pana bhonto—taggha, so gandhabbo khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā’ti?
‘Na mayaṁ, bho, jānāma—taggha so gandhabbo khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā’ti.
‘Evaṁ sante, bho, jānātha—ke tumhe hothā’ti?
‘Evaṁ sante, bho, na mayaṁ jānāma—ke mayaṁ homā’ti.
Te hi nāma, assalāyana, satta brāhmaṇisayo asitena devalena isinā sake jātivāde samanuyuñjīyamānā samanuggāhīyamānā samanubhāsīyamānā na sampāyissanti; kiṁ pana tvaṁ etarahi mayā sakasmiṁ jātivāde samanuyuñjīyamāno samanuggāhīyamāno samanubhāsīyamāno sampāyissasi, yesaṁ tvaṁ sācariyako na puṇṇo dabbigāho”ti.
‘But do you know for sure whether that virile spirit is an aristocrat, a brahmin, a peasant, or a menial?’
‘We don’t know that.’
‘In that case, worthy sir, don’t you know what you are?’
‘In that case, worthy sir, we don’t know what we are.’
Given that even those seven brahmin seers could not prevail when pursued, pressed, and grilled by the seer Devala on their own genealogy, how could you prevail now being grilled by me on your own genealogy when you and your denomination do not so much as pick up the last spoonful?”
‘Thưa các ngài, các ngài có biết rằng: ‘Chắc chắn thần thức ấy là người Sát-đế-lỵ, hoặc là người Bà-la-môn, hoặc là người Phệ-xá, hoặc là người Thủ-đà-la’ không?’ ‘Thưa ngài, chúng tôi không biết rằng: ‘Chắc chắn thần thức ấy là người Sát-đế-lỵ, hoặc là người Bà-la-môn, hoặc là người Phệ-xá, hoặc là người Thủ-đà-la.’ ‘Thưa các ngài, nếu vậy, các ngài có biết: ‘Các ngài là ai’ không?’ ‘Thưa ngài, nếu vậy, chúng tôi không biết: ‘Chúng tôi là ai.’ Này Assalāyana, bảy vị ẩn sĩ Bà-la-môn ấy, khi được ẩn sĩ Asita Devala gạn hỏi, chất vấn, và thẩm tra về chủ thuyết giai cấp của chính họ, đã không thể trả lời được. Huống nữa là ngươi, vào lúc này, khi được ta gạn hỏi, chất vấn, và thẩm tra về chủ thuyết giai cấp của chính mình, làm sao có thể trả lời được? Ngươi, cùng với thầy của ngươi, còn không bằng Puṇṇa, người cầm muỗng của các vị ấy.’
Evaṁ vutte, assalāyano māṇavo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, Assalāyana said to him, “Excellent, worthy Gotama! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, thanh niên Assalāyana đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, thưa ngài Gotama! ... (cho đến) ... Kể từ hôm nay, mong ngài Gotama hãy xem con là người cận sự nam đã đi đến nơi nương tựa cho đến trọn đời.’
Assalāyanasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Assalāyana thứ ba đã chấm dứt.