- Majjhima Nikāya 139
Araṇavibhaṅgasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Araṇavibhaṅgasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 3—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về Vô tránh phân biệt. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 4—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 5Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 6—Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp. Nên biết phán xét về lạc. Sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc. Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng. Nên nói thật từ từ, không có vội vàng. Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng. Như vậy là tổng thuyết về Vô tránh phân biệt.
SC 7Khi được nói đến: “Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích”, do duyên gì được nói đến như vậy?
SC 8Phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy là có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm lạc gì liên kết với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo.
SC 9Phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh nào, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm không hành trì khổ hạnh nào, đau khổ không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo.
SC 10Khi được nói đến: “Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 11Khi được nói đến: “Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, do duyên gì được nói đến như vậy? Ðây là con đường Thánh tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Khi được nói đến: “Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 12Khi được nói đến: “Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp”, do duyên gì được nói đến như vậy?
SC 13Này các Tỷ-kheo, thế nào là tán thán, thế nào là chỉ trích, nhưng không thuyết pháp? Vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những người ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.
SC 14Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc về tà đạo”. Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh; đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.
SC 15Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có tán thán và có chỉ trích nhưng không thuyết pháp.
SC 16Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không có tán thán và không có chỉ trích, nhưng có thuyết pháp? Vị ấy không nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy không nói: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Không đam mê là một pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.
SC 17Vị ấy không nói: “Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. “Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy không nói: “Những ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự không đam mê là không đau khổ, pháp này không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc về chánh đạo”.
SC 18Vị ấy không có nói: “Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Khi hữu kiết sử chưa đoạn tận, hữu chưa đoạn tận”. Vị ấy không nói như sau: “Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Và khi hữu kiết sử được đoạn tận, hữu được đoạn tận”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không tán thán, không chỉ trích, nhưng chỉ thuyết pháp.
SC 19Khi được nói đến: “Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, chớ có tán thán, chớ có chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp”, chính do duyên này được nói đến như vậy.
SC 20Khi được nói đến: “Nên biết phán xét về lạc; sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc”, do duyên gì được nói đến như vậy?
SC 21Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức, …; các hương do mũi nhận thức, …; các vị do lưỡi nhận thức …; các xúc do thân cảm giác, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, như vậy là năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và hỷ, như vậy gọi là dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc. Ta nói loại lạc này không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi.
SC 22Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Ðình chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm … Thiền thứ ba … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Như vậy gọi là xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc. Ta nói loại lạc này nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi.
SC 23Khi được nói đến: “Nên biết phán xét về lạc; sau khi phán xét về lạc, hãy chú tâm vào nội lạc”, do chính duyên này được nói đến như vậy.
SC 24Khi được nói đến: “Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng”, do duyên gì được nói đến như vậy?
SC 25Tại đây, này các Tỷ-kheo, biết được một lời bí mật là không thực, hư vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, chớ nói lên lời bí mật ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tự tập đừng nói lời ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời bí mật ấy.
SC 26Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là không thực, hư vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, mặt đối mặt; chớ có nói lên lời nói mất lòng ấy. Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tập chớ nói lên lời ấy. Và nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời mất lòng ấy.
SC 27Khi được nói đến: “Không nên nói lên lời bí mật, mặt đối mặt (với ai), không nên nói lên lời mất lòng”, do chính duyên này được nói đến như vậy.
SC 28Khi được nói đến: “Nên nói thật từ từ, chớ có vội vàng”, do duyên gì được nói đến như vậy?
SC 29Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu nói vội vàng, thời thân mệt mỏi, tâm bị tổn hại, tiếng bị tổn hại và cổ họng bị đau. Lời nói một người vội vàng không được rõ ràng và không được nhận hiểu.
SC 30Tại đây, này các Tỷ-kheo, nói lời từ từ, thân không mệt mỏi, tâm không tổn hại, tiếng không tổn hại và cổ họng không bị đau. Lời nói một người nói từ từ được rõ ràng và được nhận hiểu. Khi được nói đến: “Nên nói thật từ từ, chớ có nói vội vàng ”, chính do duyên này được nói đến như vậy.
SC 31Khi được nói đến: “Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng,” do duyên gì được nói đến như vậy? Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ thường dùng?
SC 32Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết (những chữ) Pati … Patta … Vittha. Sarava. Dharopa. Pona … Pisila. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy những chữ là như vậy, như vậy, có người lại làm như vậy, kiên trì chấp thủ, chấp trước và nói: “Chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp trước địa phương ngữ, là đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.
SC 33Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết những chữ Pati. Patta … Vittha. Sarava … Dharopa … Pona. Pisila. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy, những chữ là như vậy, như vậy, một người không chấp thủ mà giải thích: “Các vị ấy y cứ như thế này, giải thích như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.
SC 34Khi được nói đến: “Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng”, do chính duyên này được nói đến như vậy.
SC 35Ở đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng có đam mê loại hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 36Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì, liên kết với dục, nhưng không có đam mê loại hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
SC 37Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 38Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm không có hành trì tự kỷ khổ hạnh, không đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
SC 39Tại đây, này các Tỷ-kheo, đây là Trung đạo đã được Thế Tôn giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết—bàn. Pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
SC 40Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp tán thán và chỉ trích nhưng không thuyết pháp này, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có phiền não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 41Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp không tán thán, cũng không chỉ trích, chỉ có thuyết pháp, pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
SC 42Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp dục lạc này là uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 43Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, pháp này là pháp không đau khổ, không phiền lao, không ưu não, không nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
SC 44Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào không thật, hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 45Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 46Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư vọng, có liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
SC 47Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai), không chân thật, hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 48Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai) là chân thật, không hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 49Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai) là chân thật, không hư vọng, liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
SC 50Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách vội vàng, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 51Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách từ từ, pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
SC 52Tại đây, này các Tỷ-kheo, chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ thường dùng, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
SC 53Tại đây, này các Tỷ-kheo, không chấp trước địa phương ngữ và không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng, pháp này là pháp không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
SC 54Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu học như sau: “Chúng ta sẽ biết hữu tránh pháp và chúng ta sẽ biết vô tránh pháp. Sau khi biết hữu tránh pháp và sau khi biết vô tránh pháp, chúng ta sẽ hành trì vô tránh đạo”. Và này các Tỷ-kheo, Thiện gia nam tử Subhūti (Tu-bồ-đề) đã hành trì vô tránh pháp.
SC 55Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Phân Tích Về Vô Tranh
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“araṇavibhaṅgaṁ vo, bhikkhave, desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I shall teach you the analysis of no strife. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
323. Tôi nghe như vầy—một thời đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu.” “Bạch Thế Tôn,” các tỳ khưu ấy vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này: “Này các tỳ khưu, ta sẽ giảng cho các ngươi về Phân Tích Vô Tranh. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; ta sẽ nói.” “Vâng, bạch ngài,” các tỳ khưu ấy vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này:
“Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ. Ete kho, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyya. Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyya. Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe. Ataramānova bhāseyya, no taramāno. Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyāti—ayamuddeso araṇavibhaṅgassa.
‘Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitan’ti—
“Don’t indulge in sensual pleasure, which is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And don’t indulge in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless. Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment. Know what it means to flatter and to rebuke. Knowing these, avoid them, and just teach Dhamma. Know how to evaluate different kinds of pleasure. Knowing this, pursue inner pleasure. Don’t talk behind people’s backs, and don’t speak sharply in their presence. Don’t speak hurriedly. Don’t insist on popular definitions and don’t overstep normal labels. This is the summary recital for the analysis of no strife.
‘Don’t indulge in sensual pleasure, which is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And don’t indulge in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless.’
“Không nên thực hành sự hưởng thụ dục lạc, là điều hạ liệt, quê mùa, của phàm phu, không phải của bậc thánh, không liên hệ đến lợi ích; và cũng không nên thực hành sự khổ hạnh ép xác, là điều đau khổ, không phải của bậc thánh, không liên hệ đến lợi ích. Này các tỳ khưu, sau khi từ bỏ hai cực đoan này, con đường trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tạo ra mắt, tạo ra trí, đưa đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết sự tán dương, và nên biết sự chê bai; sau khi biết sự tán dương và biết sự chê bai, không nên tán dương, không nên chê bai, chỉ nên thuyết giảng Chánh pháp. Nên biết sự xác định về lạc; sau khi biết sự xác định về lạc, nên thực hành lạc ở nội tâm. Không nên nói lời sau lưng, không nên nói lời chỉ trích trước mặt. Nên nói không vội vã, không nên nói vội vã. Không nên cố chấp vào phương ngữ của địa phương, không nên vượt qua cách dùng thông thường. Đây là lời dạy tóm tắt của Phân Tích Vô Tranh.”
344. “‘Này tỳ khưu, con người này có sáu giới’ – điều này đã được nói như vậy. Duyên vào đâu mà điều này được nói? Này tỳ khưu, có sáu giới này: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, và thức giới. ‘Này tỳ khưu, con người này có sáu giới’ – điều đã được nói đó là duyên vào điều này mà nói.”
324. “‘Không nên thực hành sự sung sướng trong dục lạc, là thấp hèn, thô tục, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích; và không nên thực hành sự tự hành hạ khổ hạnh, là khổ đau, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích.’ – Lời này đã được nói như vậy. Lời này được nói ra do duyên vào điều gì? Sự thực hành hỷ lạc của người có sự sung sướng liên quan đến dục, là thấp hèn, thô tục, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, pháp ấy có khổ, có sự tổn hại, có sự mệt nhọc, có sự phiền não; là tà đạo. Sự không thực hành hỷ lạc của người có sự sung sướng liên quan đến dục, là thấp hèn, thô tục, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, pháp ấy không có khổ, không có sự tổn hại, không có sự mệt nhọc, không có sự phiền não; là chánh đạo. Sự thực hành tự hành hạ khổ hạnh, là khổ đau, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, pháp ấy có khổ, có sự tổn hại, có sự mệt nhọc, có sự phiền não; là tà đạo. Sự không thực hành tự hành hạ khổ hạnh, là khổ đau, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, pháp ấy không có khổ, không có sự tổn hại, không có sự mệt nhọc, không có sự phiền não; là chánh đạo. ‘Không nên thực hành sự sung sướng trong dục lạc, là thấp hèn, thô tục, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích; và không nên thực hành sự tự hành hạ khổ hạnh, là khổ đau, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích.’ – Lời đã được nói ấy là do duyên vào điều này mà được nói.
‘Ete kho ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi. ‘Ete kho ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.’ That’s what I said, but why did I say it? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. ‘Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.’ That’s what I said, and this is why I said it.
325. “‘Không đi đến hai cực đoan này, con đường trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, làm phát sanh tuệ nhãn, làm phát sanh trí tuệ, đưa đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Níp-bàn.’ – Lời này đã được nói như vậy. Lời này được nói ra do duyên vào điều gì? Chính là Bát Thánh Đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. ‘Không đi đến hai cực đoan này, con đường trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, làm phát sanh tuệ nhãn, làm phát sanh trí tuệ, đưa đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Níp-bàn.’ – Lời đã được nói ấy là do duyên vào điều này mà được nói.
‘Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyyā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Kathañca, bhikkhave, ussādanā ca hoti apasādanā ca, no ca dhammadesanā? ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ anuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—
‘Know what it means to flatter and to rebuke. Knowing these, avoid them, and just teach Dhamma.’ That’s what I said, but why did I say it?
And how is there flattering and rebuking without teaching Dhamma? ‘All those who indulge in the happiness of the pleasure linked to sensuality—low, crude, ordinary, ignoble, and pointless—are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’
326. “‘Nên biết sự tán dương, và nên biết sự chê bai; sau khi biết sự tán dương và biết sự chê bai, không nên tán dương, không nên chê bai, chỉ nên thuyết Pháp.’ – Lời này đã được nói như vậy. Lời này được nói ra do duyên vào điều gì? Này các Tỳ khưu, thế nào là có sự tán dương và có sự chê bai, mà không phải là thuyết Pháp? ‘Những ai thực hành sự hỷ lạc của người có sự sung sướng liên quan đến dục, là thấp hèn, thô tục, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, tất cả họ đều có khổ, có sự tổn hại, có sự mệt nhọc, có sự phiền não, là những người thực hành tà đạo.’ – Khi nói như vậy, là chê bai một số người ở đây.
‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—
‘All those who have broken off indulging in the happiness of the pleasure linked to sensuality are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’
“‘Những ai thực hành sự tự hành hạ khổ hạnh, là khổ đau, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, tất cả họ đều có khổ, có sự tổn hại, có sự mệt nhọc, có sự phiền não, là những người thực hành tà đạo.’ – Khi nói như vậy, là chê bai một số người ở đây.
‘Ye attakilamathānuyogaṁ anuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—iti vadaṁ ittheke apasādeti.
‘Ye attakilamathānuyogaṁ ananuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—iti vadaṁ ittheke ussādeti.
‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ appahīnaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—iti vadaṁ ittheke apasādeti.
‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ pahīnaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—iti vadaṁ ittheke ussādeti. Evaṁ kho, bhikkhave, ussādanā ca hoti apasādanā ca, no ca dhammadesanā.
Kathañca, bhikkhave, nevussādanā hoti na apasādanā, dhammadesanā ca? ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ anuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—na evamāha. ‘Anuyogo ca kho sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā’ti—iti vadaṁ dhammameva deseti.
‘All those who indulge in self-mortification—painful, ignoble, and pointless—are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’ In speaking like this, one rebukes some here.
‘All those who have broken off indulging in self-mortification are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’ In speaking like this, one flatters some here.
‘All those who have not given up the fetter of continued existence are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’ In speaking like this, one rebukes some here.
‘All those who have given up the fetter of continued existence are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’ In speaking like this, one flatters some here. That’s how there is flattering and rebuking without teaching Dhamma.
And how is there neither flattering nor rebuking, and just teaching Dhamma? You don’t say: ‘All those who indulge in the happiness of the pleasure linked to sensuality—low, crude, ordinary, ignoble, and pointless—are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’ Rather, by saying this you just teach Dhamma: ‘The indulgence is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.’
“‘Bất kỳ ai mà hữu kiết sử đã được đoạn trừ, tất cả họ đều không có khổ, không có sự tổn hại, không có sự mệt nhọc, không có sự phiền não, là những người thực hành chánh đạo.’ – Khi nói như vậy, là tán dương một số người ở đây. Này các Tỳ khưu, như vậy là có sự tán dương và có sự chê bai, mà không phải là thuyết Pháp.
‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—na evamāha.
You don’t say: ‘All those who have broken off indulging in the happiness of the pleasure linked to sensuality are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’ Rather, by saying this you just teach Dhamma:
327. “Này các Tỳ khưu, thế nào là không có sự tán dương, không có sự chê bai, mà là thuyết Pháp? Vị ấy không nói như vầy: ‘Những ai thực hành sự hỷ lạc của người có sự sung sướng liên quan đến dục, là thấp hèn, thô tục, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, tất cả họ đều có khổ, có sự tổn hại, có sự mệt nhọc, có sự phiền não, là những người thực hành tà đạo.’ Mà nói rằng: ‘Sự thực hành này, pháp này có khổ, có sự tổn hại, có sự mệt nhọc, có sự phiền não; là tà đạo.’ – Khi nói như vậy, là chỉ thuyết Pháp.
“Vị ấy không nói như vầy: ‘Những ai không thực hành sự hỷ lạc của người có sự sung sướng liên quan đến dục, là thấp hèn, thô tục, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, tất cả họ đều không có khổ, không có sự tổn hại, không có sự mệt nhọc, không có sự phiền não, là những người thực hành chánh đạo.’ Mà nói rằng: ‘Sự không thực hành này, pháp này không có khổ, không có sự tổn hại, không có sự mệt nhọc, không có sự phiền não; là chánh đạo.’ – Khi nói như vậy, là chỉ thuyết Pháp.
‘Ye attakilamathānuyogaṁ anuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—na evamāha. ‘Anuyogo ca kho sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā’ti—iti vadaṁ dhammameva deseti.
You don’t say: ‘All those who indulge in self-mortification—painful, ignoble, and pointless—are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’ Rather, by saying this you just teach Dhamma: ‘The indulgence is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.’
“Vị ấy không nói như vầy: ‘Những ai thực hành sự tự hành hạ khổ hạnh, là khổ đau, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, tất cả họ đều có khổ, có sự tổn hại, có sự mệt nhọc, có sự phiền não, là những người thực hành tà đạo.’ Mà nói rằng: ‘Sự thực hành này, pháp này có khổ, có sự tổn hại, có sự mệt nhọc, có sự phiền não; là tà đạo.’ – Khi nói như vậy, là chỉ thuyết Pháp.
‘Ye attakilamathānuyogaṁ ananuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—na evamāha. ‘Ananuyogo ca kho adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā’ti—iti vadaṁ dhammameva deseti.
You don’t say: ‘All those who have broken off indulging in self-mortification are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’ Rather, by saying this you just teach Dhamma: ‘Breaking off the indulgence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.’
‘Những ai không chuyên tâm vào sự hành hạ bản thân, vốn là khổ đau, không phải của bậc Thánh, không liên hệ đến lợi ích, thì tất cả những vị ấy không có khổ đau, không bị tổn hại, không bị mệt mỏi, không bị phiền muộn, là người thực hành chân chánh’ – không nên nói như vậy. ‘Sự không chuyên tâm này, quả thật, là pháp không khổ đau, không tổn hại, không mệt mỏi, không phiền muộn; là sự thực hành chân chánh’ – người nói như vậy là chỉ thuyết giảng Chánh pháp.
‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ appahīnaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—na evamāha. ‘Bhavasaṁyojane ca kho appahīne bhavopi appahīno hotī’ti—iti vadaṁ dhammameva deseti.
You don’t say: ‘All those who have not given up the fetter of continued existence are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’ Rather, by saying this you just teach Dhamma: ‘When the fetter of continued existence is not given up, continued existence is also not given up.’
‘Bất cứ ai mà kiết sử hữu chưa được đoạn trừ, thì tất cả những vị ấy có khổ đau, có bị tổn hại, có bị mệt mỏi, có bị phiền muộn, là người thực hành tà vạy’ – không nên nói như vậy. ‘Quả thật, khi kiết sử hữu chưa được đoạn trừ, thì sự hiện hữu cũng chưa được đoạn trừ’ – người nói như vậy là chỉ thuyết giảng Chánh pháp.
‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ pahīnaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—na evamāha. ‘Bhavasaṁyojane ca kho pahīne bhavopi pahīno hotī’ti—iti vadaṁ dhammameva deseti. Evaṁ kho, bhikkhave, nevussādanā hoti na apasādanā, dhammadesanā ca. ‘Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyyā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
You don’t say: ‘All those who have given up the fetter of continued existence are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’ Rather, by saying this you just teach Dhamma: ‘When the fetter of continued existence is given up, continued existence is also given up.’ That’s how there is neither flattering nor rebuking, and just teaching Dhamma. ‘Know what it means to flatter and to rebuke. Knowing these, avoid them, and just teach Dhamma.’ That’s what I said, and this is why I said it.
‘Bất cứ ai mà kiết sử hữu đã được đoạn trừ, thì tất cả những vị ấy không có khổ đau, không bị tổn hại, không bị mệt mỏi, không bị phiền muộn, là người thực hành chân chánh’ – không nên nói như vậy. ‘Quả thật, khi kiết sử hữu đã được đoạn trừ, thì sự hiện hữu cũng được đoạn trừ’ – người nói như vậy là chỉ thuyết giảng Chánh pháp. Này các Tỳ khưu, như vậy là không có sự tán dương, cũng không có sự chê bai, mà chỉ là sự thuyết giảng Chánh pháp. ‘Nên biết sự tán dương, và nên biết sự chê bai; sau khi đã biết sự tán dương và đã biết sự chê bai, không nên tán dương, không nên chê bai, mà chỉ nên thuyết giảng Chánh pháp’ – điều đã được nói đến ấy là do duyên vào điều này mà được nói đến.
‘Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyyā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā … ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ mīḷhasukhaṁ puthujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ. ‘Na āsevitabbaṁ, na bhāvetabbaṁ, na bahulīkātabbaṁ, bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi. Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ vuccati nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ. ‘Āsevitabbaṁ, bhāvetabbaṁ, bahulīkātabbaṁ, na bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi. ‘Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyyā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Know how to evaluate different kinds of pleasure. Knowing this, pursue inner pleasure.’ That’s what I said, but why did I say it? There are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation. The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure—a filthy, common, ignoble pleasure. Such pleasure should not be cultivated or developed, but should be feared, I say. Now, take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption … third absorption … fourth absorption. This is called the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening. Such pleasure should be cultivated and developed, and should not be feared, I say. ‘Know how to evaluate different kinds of pleasure. Knowing this, pursue inner pleasure.’ That’s what I said, and this is why I said it.
328. ‘Nên biết sự phân định về lạc; sau khi đã biết sự phân định về lạc, nên chuyên tâm vào lạc nội tại’ – điều này đã được nói đến. Và do duyên vào điều gì mà điều này được nói đến? Này các Tỳ khưu, có năm loại dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc pháp do nhãn thức nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính chất quyến rũ; các thanh âm do nhĩ thức nhận biết… các hương khí do tỷ thức nhận biết… các vị nếm do thiệt thức nhận biết… các đối tượng xúc chạm do thân thức nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính chất quyến rũ – này các Tỳ khưu, đây là năm loại dục trưởng dưỡng. Này các Tỳ khưu, do duyên vào năm loại dục trưởng dưỡng này, lạc và hỷ nào sanh khởi, đây được gọi là dục lạc, là uế lạc, là phàm phu lạc, là phi thánh lạc. Ta nói rằng: ‘Không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi đối với loại lạc này’. Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly sanh, có tầm, có tứ. Do làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Do ly hỷ, vị ấy trú xả…v.v… thiền thứ ba… thiền thứ tư. Đây được gọi là xuất ly lạc, là viễn ly lạc, là tịch tịnh lạc, là giác ngộ lạc. Ta nói rằng: ‘Nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi đối với loại lạc này’. ‘Nên biết sự phân định về lạc; sau khi đã biết sự phân định về lạc, nên chuyên tâm vào lạc nội tại’ – điều đã được nói đến ấy là do duyên vào điều này mà được nói đến.
‘Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tatra, bhikkhave, yaṁ jaññā rahovādaṁ abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sasakkaṁ taṁ rahovādaṁ na bhāseyya. Yampi jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ tassapi sikkheyya avacanāya. Yañca kho jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ tatra kālaññū assa tassa rahovādassa vacanāya. Tatra, bhikkhave, yaṁ jaññā sammukhā khīṇavādaṁ abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sasakkaṁ taṁ sammukhā khīṇavādaṁ na bhāseyya. Yampi jaññā sammukhā khīṇavādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ tassapi sikkheyya avacanāya. Yañca kho jaññā sammukhā khīṇavādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ tatra kālaññū assa tassa sammukhā khīṇavādassa vacanāya. ‘Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Don’t talk behind people’s backs, and don’t speak sharply in their presence.’ That’s what I said, but why did I say it? When you know that what you say behind someone’s back is untrue, false, and pointless, then to the best of your ability you should not speak. When you know that what you say behind someone’s back is true and correct, but pointless, then you should train yourself not to speak. When you know that what you say behind someone’s back is true, correct, and beneficial, then you should know the right time to speak. When you know that your sharp words in someone’s presence are untrue, false, and pointless, then to the best of your ability you should not speak. When you know that your sharp words in someone’s presence are true and correct, but pointless, then you should train yourself not to speak. When you know that your sharp words in someone’s presence are true, correct, and beneficial, then you should know the right time to speak. ‘Don’t talk behind people’s backs, and don’t speak sharply in their presence.’ That’s what I said, and this is why I said it.
329. ‘Không nên nói lời chỉ trích ở nơi vắng vẻ, không nên nói lời ác độc ở trước mặt’ – điều này đã được nói đến. Và do duyên vào điều gì mà điều này được nói đến? Này các Tỳ khưu, ở đây, lời chỉ trích ở nơi vắng vẻ nào mà vị ấy biết là không có thật, không đúng sự thật, không liên hệ đến lợi ích, thì không nên nói lời chỉ trích ở nơi vắng vẻ ấy. Lời chỉ trích ở nơi vắng vẻ nào mà vị ấy biết là có thật, đúng sự thật, nhưng không liên hệ đến lợi ích, đối với lời ấy cũng nên học tập để không nói ra. Và lời chỉ trích ở nơi vắng vẻ nào mà vị ấy biết là có thật, đúng sự thật, và liên hệ đến lợi ích, ở đây vị ấy nên là người biết thời để nói lời chỉ trích ở nơi vắng vẻ ấy. Này các Tỳ khưu, ở đây, lời nói ác độc ở trước mặt nào mà vị ấy biết là không có thật, không đúng sự thật, không liên hệ đến lợi ích, thì không nên nói lời ác độc ở trước mặt ấy. Lời nói ác độc ở trước mặt nào mà vị ấy biết là có thật, đúng sự thật, nhưng không liên hệ đến lợi ích, đối với lời ấy cũng nên học tập để không nói ra. Và lời nói ác độc ở trước mặt nào mà vị ấy biết là có thật, đúng sự thật, và liên hệ đến lợi ích, ở đây vị ấy nên là người biết thời để nói lời ác độc ở trước mặt ấy. ‘Không nên nói lời chỉ trích ở nơi vắng vẻ, không nên nói lời ác độc ở trước mặt’ – điều đã được nói đến ấy là do duyên vào điều này mà được nói đến.
‘Ataramānova bhāseyya no taramāno’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tatra, bhikkhave, taramānassa bhāsato kāyopi kilamati, cittampi upahaññati, saropi upahaññati, kaṇṭhopi āturīyati, avisaṭṭhampi hoti aviññeyyaṁ taramānassa bhāsitaṁ. Tatra, bhikkhave, ataramānassa bhāsato kāyopi na kilamati, cittampi na upahaññati, saropi na upahaññati, kaṇṭhopi na āturīyati, visaṭṭhampi hoti viññeyyaṁ ataramānassa bhāsitaṁ. ‘Ataramānova bhāseyya, no taramāno’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Don’t speak hurriedly.’ That’s what I said, but why did I say it? When speaking hurriedly, your body gets tired, your mind gets stressed, your voice gets stressed, your throat gets sore, and your words become unclear and hard to understand. When not speaking hurriedly, your body doesn’t get tired, your mind doesn’t get stressed, your voice doesn’t get stressed, your throat doesn’t get sore, and your words are clear and easy to understand. ‘Don’t speak hurriedly.’ That’s what I said, and this is why I said it.
330. ‘Nên nói không vội vã, không nên nói vội vã’ – điều này đã được nói đến. Và do duyên vào điều gì mà điều này được nói đến? Này các Tỳ khưu, ở đây, khi một người nói vội vã, thân cũng mệt mỏi, tâm cũng bị tổn hại, giọng nói cũng bị tổn hại, cổ họng cũng bị đau, lời nói trở nên không rõ ràng và khó hiểu. Này các Tỳ khưu, ở đây, khi một người nói không vội vã, thân cũng không mệt mỏi, tâm cũng không bị tổn hại, giọng nói cũng không bị tổn hại, cổ họng cũng không bị đau, lời nói trở nên rõ ràng và dễ hiểu. ‘Nên nói không vội vã, không nên nói vội vã’ – điều đã được nói đến ấy là do duyên vào điều này mà được nói đến.
‘Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Kathañca, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca abhiniveso hoti samaññāya ca atisāro? Idha, bhikkhave, tadevekaccesu janapadesu ‘pātī’ti sañjānanti, ‘pattan’ti sañjānanti, ‘vittan’ti sañjānanti, ‘sarāvan’ti sañjānanti ‘dhāropan’ti sañjānanti, ‘poṇan’ti sañjānanti, ‘pisīlavan’ti sañjānanti. Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti tathā tathā thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati: ‘idameva saccaṁ, moghamaññan’ti. Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca abhiniveso hoti samaññāya ca atisāro.
‘Don’t insist on popular definitions and don’t overstep normal labels.’ That’s what I said, but why did I say it? And how do you insist on popular definitions and overstep normal labels? It’s when among different populations they label the same thing as a ‘cup’, a ‘bowl’, a ‘jar’, a ‘scoop’, a ‘vessel’, a ‘dish’, or a ‘plate’. And however it is known among those various populations, you speak accordingly, obstinately sticking to that and insisting: ‘This is the only truth, anything else is futile.’ That’s how you insist on popular definitions and overstep normal labels.
331. “‘Không nên cố chấp vào phương ngữ địa phương, không nên vượt quá quy ước thông thường.’ – Điều này đã được nói như vậy. Và điều này được nói ra dựa vào điều gì? Này các Tỳ khưu, thế nào là có sự cố chấp vào phương ngữ địa phương và có sự vượt quá quy ước thông thường? Này các Tỳ khưu, ở đây, cùng một vật ấy, ở một số địa phương, họ nhận biết là ‘pāti’, họ nhận biết là ‘patta’, họ nhận biết là ‘vitta’, họ nhận biết là ‘sarāva’, họ nhận biết là ‘dhāropa’, họ nhận biết là ‘poṇa’, họ nhận biết là ‘pisīlava’. Như vậy, họ nhận biết vật ấy ở các địa phương ấy như thế nào, thì người ấy lại nói một cách mạnh mẽ, bám víu, khăng khăng rằng: ‘Chỉ có điều này là sự thật, cái khác là vô ích.’ Này các Tỳ khưu, như vậy là có sự cố chấp vào phương ngữ địa phương và có sự vượt quá quy ước thông thường.
Kathañca, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca anabhiniveso hoti samaññāya ca anatisāro? Idha, bhikkhave, tadevekaccesu janapadesu ‘pātī’ti sañjānanti, ‘pattan’ti sañjānanti, ‘vittan’ti sañjānanti, ‘sarāvan’ti sañjānanti, ‘dhāropan’ti sañjānanti, ‘poṇan’ti sañjānanti, ‘pisīlavan’ti sañjānanti. Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti ‘idaṁ kira me āyasmanto sandhāya voharantī’ti tathā tathā voharati aparāmasaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca anabhiniveso hoti, samaññāya ca anatisāro. ‘Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya samaññaṁ nātidhāveyyā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
And how do you not insist on popular definitions and overstep normal labels? It’s when among different populations they label the same thing as a ‘cup’, a ‘bowl’, a ‘jar’, a ‘scoop’, a ‘vessel’, a ‘dish’, or a ‘plate’. And however it is known among those various populations, you speak accordingly, thinking: ‘It seems that the venerables are referring to this.’ That’s how you don’t insist on popular definitions and don’t overstep normal labels. ‘Don’t insist on popular definitions and don’t overstep normal labels.’ That’s what I said, and this is why I said it.
332. “Và này các Tỳ khưu, thế nào là không có sự cố chấp vào phương ngữ địa phương và không có sự vượt quá quy ước thông thường? Này các Tỳ khưu, ở đây, cùng một vật ấy, ở một số địa phương, họ nhận biết là ‘pāti’, họ nhận biết là ‘patta’, họ nhận biết là ‘vitta’, họ nhận biết là ‘sarāva’, họ nhận biết là ‘dhāropa’, họ nhận biết là ‘poṇa’, họ nhận biết là ‘pisīlava’. Như vậy, họ nhận biết vật ấy ở các địa phương ấy như thế nào, thì người ấy nói theo như thế ấy, không bám víu, (nghĩ rằng): ‘Quả thật, các vị hiền giả này đang nói về vật này.’ Này các Tỳ khưu, như vậy là không có sự cố chấp vào phương ngữ địa phương và không có sự vượt quá quy ước thông thường. ‘Không nên cố chấp vào phương ngữ địa phương, không nên vượt quá quy ước thông thường.’ – Điều đã được nói ra ấy, là được nói ra dựa vào điều này.
Tatra, bhikkhave, yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyogo hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Now, mendicants, indulging in the happiness of the pleasure linked to sensuality is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. It is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. Breaking off such indulgence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way. That’s why this is a principle free of strife.
333. “Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, sự thực hành theo đuổi hỷ lạc của người có hạnh phúc liên quan đến dục vọng, là thấp kém, thô tục, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, pháp này có khổ, có phiền não, có tuyệt vọng, có nhiệt não; là tà đạo. Do đó, pháp này có bụi bặm. Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, sự không thực hành theo đuổi hỷ lạc của người có hạnh phúc liên quan đến dục vọng, là thấp kém, thô tục, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, pháp này không có khổ, không có phiền não, không có tuyệt vọng, không có nhiệt não; là chánh đạo. Do đó, pháp này không có bụi bặm.
Tatra, bhikkhave, yo attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yo attakilamathānuyogaṁ ananuyogo dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Indulging in self-mortification is painful, ignoble, and pointless. It is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. Breaking off such indulgence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way. That’s why this is a principle free of strife.
334. “Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, sự thực hành khổ hạnh ép xác, là đau khổ, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, pháp này có khổ, có phiền não, có tuyệt vọng, có nhiệt não; là tà đạo. Do đó, pháp này có bụi bặm. Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, sự không thực hành khổ hạnh ép xác, là đau khổ, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, pháp này không có khổ, không có phiền não, không có tuyệt vọng, không có nhiệt não; là chánh đạo. Do đó, pháp này không có bụi bặm.
Tatra, bhikkhave, yāyaṁ majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
The middle way of practice that was understood by the Realized One gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment. It is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way. That’s why this is a principle free of strife.
335. “Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, con đường trung đạo này đã được Như Lai giác ngộ, tạo ra tuệ nhãn, tạo ra trí tuệ, đưa đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, pháp này không có khổ, không có phiền não, không có tuyệt vọng, không có nhiệt não; là chánh đạo. Do đó, pháp này không có bụi bặm.
Tatra, bhikkhave, yāyaṁ ussādanā ca apasādanā ca no ca dhammadesanā, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yāyaṁ nevussādanā ca na apasādanā ca dhammadesanā ca, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Flattering and rebuking without teaching Dhamma is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. Neither flattering nor rebuking, and just teaching Dhamma is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way. That’s why this is a principle free of strife.
336. “Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, sự tán dương và sự chê bai này, và không phải là sự thuyết Pháp, pháp này có khổ, có phiền não, có tuyệt vọng, có nhiệt não; là tà đạo. Do đó, pháp này có bụi bặm. Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, sự không tán dương và không chê bai này, và là sự thuyết Pháp, pháp này không có khổ, không có phiền não, không có tuyệt vọng, không có nhiệt não; là chánh đạo. Do đó, pháp này không có bụi bặm.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ kāmasukhaṁ mīḷhasukhaṁ pothujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yamidaṁ nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Sensual pleasure—a filthy, common, ignoble pleasure—is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. The pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way. That’s why this is a principle free of strife.
337. “Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, lạc thú này là dục lạc, lạc thú bẩn thỉu, lạc thú của phàm phu, lạc thú không phải của bậc Thánh, pháp này có khổ, có phiền não, có tuyệt vọng, có nhiệt não; là tà đạo. Do đó, pháp này có bụi bặm. Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, lạc thú này là lạc thú xuất ly, lạc thú viễn ly, lạc thú an tịnh, lạc thú giác ngộ, pháp này không có khổ, không có phiền não, không có tuyệt vọng, không có nhiệt não; là chánh đạo. Do đó, pháp này không có bụi bặm.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo abhūto ataccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo bhūto taccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo bhūto taccho atthasaṁhito, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Saying untrue, false, and pointless things behind someone’s back is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. Saying true and correct, but pointless things behind someone’s back is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. Saying true, correct, and beneficial things behind someone’s back is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way. That’s why this is a principle free of strife.
338. “Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, lời nói sau lưng này là không có thật, không đúng sự thật, không liên quan đến lợi ích, pháp này có khổ, có phiền não, có tuyệt vọng, có nhiệt não; là tà đạo. Do đó, pháp này có bụi bặm. Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, lời nói sau lưng này là có thật, đúng sự thật, không liên quan đến lợi ích, pháp này có khổ, có phiền não, có tuyệt vọng, có nhiệt não; là tà đạo. Do đó, pháp này có bụi bặm. Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, lời nói sau lưng này là có thật, đúng sự thật, liên quan đến lợi ích, pháp này không có khổ, không có phiền não, không có tuyệt vọng, không có nhiệt não; là chánh đạo. Do đó, pháp này không có bụi bặm.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo abhūto ataccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo bhūto taccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo bhūto taccho atthasaṁhito, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Saying untrue, false, and pointless things in someone’s presence is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. Saying true and correct, but pointless things in someone’s presence is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. Saying true, correct, and beneficial things in someone’s presence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way. That’s why this is a principle free of strife.
339. “Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, lời nói ác độc trước mặt này là không có thật, không đúng sự thật, không liên quan đến lợi ích, pháp này có khổ, có phiền não, có tuyệt vọng, có nhiệt não; là tà đạo. Do đó, pháp này có bụi bặm. Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, lời nói ác độc trước mặt này là có thật, đúng sự thật, không liên quan đến lợi ích, pháp này có khổ, có phiền não, có tuyệt vọng, có nhiệt não; là tà đạo. Do đó, pháp này có bụi bặm. Này các Tỳ khưu, trong các pháp ấy, lời nói ác độc trước mặt này là có thật, đúng sự thật, liên quan đến lợi ích, pháp này không có khổ, không có phiền não, không có tuyệt vọng, không có nhiệt não; là chánh đạo. Do đó, pháp này không có bụi bặm.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ taramānassa bhāsitaṁ, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yamidaṁ ataramānassa bhāsitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Speaking hurriedly is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. Speaking unhurriedly is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way. That’s why this is a principle free of strife.
340. “Này các tỳ khưu, ở đây, lời nói của người vội vàng, pháp ấy có sự đau khổ, có sự tổn hại, có sự phiền não, có sự nhiệt não; là tà đạo. Do vậy, pháp ấy có bụi bặm (phiền não). Này các tỳ khưu, ở đây, lời nói của người không vội vàng, pháp ấy không có sự đau khổ, không có sự tổn hại, không có sự phiền não, không có sự nhiệt não; là chánh đạo. Do vậy, pháp ấy không có bụi bặm (phiền não).”
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ janapadaniruttiyā ca abhiniveso samaññāya ca atisāro, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ janapadaniruttiyā ca anabhiniveso samaññāya ca anatisāro, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Insisting on popular definitions and overriding common usage is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way. That’s why this is a principle beset by strife. Not insisting on popular definitions and not overriding common usage is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way. That’s why this is a principle free of strife.
341. “Này các tỳ khưu, ở đây, sự chấp thủ vào phương ngữ và sự vượt quá quy ước, pháp ấy có sự đau khổ, có sự tổn hại, có sự phiền não, có sự nhiệt não; là tà đạo. Do vậy, pháp ấy có bụi bặm (phiền não). Này các tỳ khưu, ở đây, sự không chấp thủ vào phương ngữ và sự không vượt quá quy ước, pháp ấy không có sự đau khổ, không có sự tổn hại, không có sự phiền não, không có sự nhiệt não; là chánh đạo. Do vậy, pháp ấy không có bụi bặm (phiền não).”
Tasmātiha, bhikkhave, ‘saraṇañca dhammaṁ jānissāma, araṇañca dhammaṁ jānissāma; saraṇañca dhammaṁ ñatvā araṇañca dhammaṁ ñatvā araṇapaṭipadaṁ paṭipajjissāmā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Subhūti ca pana, bhikkhave, kulaputto araṇapaṭipadaṁ paṭipanno”ti.
So you should train like this: ‘We shall know the principles beset by strife and the principles free of strife. Knowing this, we will practice the way free of strife.’
And, mendicants, the gentleman Subhūti practices the way free of strife.”
“Này các tỳ khưu, do vậy, ở đây, các ngươi phải học tập như sau: ‘Chúng ta sẽ biết pháp có bụi bặm (phiền não) và chúng ta sẽ biết pháp không có bụi bặm (phiền não). Sau khi đã biết pháp có bụi bặm (phiền não) và đã biết pháp không có bụi bặm (phiền não), chúng ta sẽ thực hành con đường không có bụi bặm (phiền não)’. Này các tỳ khưu, thiện nam tử Subhūti đã thực hành con đường không có bụi bặm (phiền não).”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói điều này. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Araṇavibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Phân Tích Vô Tranh thứ chín đã kết thúc.