- Majjhima Nikāya 137
Saḷāyatanavibhaṅgasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Saḷāyatanavibhaṅgasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” —“ Bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông phân biệt sáu xứ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
SC 3—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 4Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 5—Có sáu nội xứ cần phải biết. Có sáu ngoại xứ cần phải biết. Có sáu thức thân cần phải biết. Có sáu xúc thân cần phải biết. Có mười tám ý hành cần phải biết. Có ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết. Tại đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này, có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng. Trong các bậc Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là bậc Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục các hạng người đáng được điều phục. Ðây là tổng thuyết về phân biệt sáu xứ.
SC 6Khi được nói đến “Sáu nội xứ cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 7Khi được nói đến “Sáu ngoại xứ cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 8Khi được nói đến “Sáu thức thân cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 9Khi được nói đến “Sáu xúc thân cần phải biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 10Khi được nói đến “Mười tám ý hành cần phải biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Sau khi mắt thấy sắc, ý chạy theo sắc trú xứ của hỷ, chạy theo sắc trú xứ của ưu, chạy theo sắc trú xứ của xả; sau khi tai nghe tiếng …; sau khi mũi ngửi hương … sau khi lưỡi nếm vị … sau khi thân cảm xúc … sau khi ý nhận thức pháp, ý chạy theo pháp khởi lên hỷ, chạy theo pháp khởi lên ưu, chạy theo pháp khởi lên xả. Như vậy, có sáu hỷ hành, có sáu ưu hành, có sáu xả hành. Khi được nói đến “Mười tám ý hành cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 11Khi được nói đến “Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Sáu hỷ liên hệ tại gia, sáu hỷ liên hệ xuất ly, sáu ưu liên hệ tại gia, sáu ưu liên hệ xuất ly, sáu xả liên hệ tại gia, sáu xả liên hệ xuất ly.
SC 12Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ tại gia? Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận được hay thấy sự nhận được các sắc do con mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ tại gia. Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận được hay thấy sự nhận được các tiếng do tai nhận thức … các hương do mũi nhận thức … các vị do lưỡi nhận thức … các xúc do thân nhận thức … các pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến tại gia. Sáu hỷ này liên hệ đến tại gia.
SC 13Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sau khi biết được các tiếng … các hương … các vị … các xúc … các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt và nghĩ rằng: “Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sáu hỷ này liên hệ đến xuất ly.
SC 14Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ tại gia? Có ưu khởi lên; hoặc do không nhận được hay thấy sự không nhận được các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì không nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ tại gia. Có ưu khởi lên, hoặc do không nhận được hay thấy sự không nhận được các tiếng do tai nhận thức … các hương do mũi nhận thức … các vị do lưỡi nhận thức … các xúc do thân nhận thức … các pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì không nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ đến tại gia. Sáu ưu này liên hệ đến tại gia.
SC 15Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết được các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: “Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (āyatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?” Như vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các tiếng … các hương … các vị … các xúc … các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt và nghĩ rằng: “Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi sự thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: “Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (āyatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?” Như vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Sáu ưu này liên hệ xuất ly.
SC 16Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ tại gia? Khi một người ngu si, ám độn, phàm phu thấy sắc với con mắt, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không chinh phục được (phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy sự nguy hiểm. Loại xả như vậy không vượt khỏi sắc pháp. Do vậy, đây được gọi là xả liên hệ tại gia. Khi một người ngu si, ám độn, phàm phu nghe tiếng với tai … ngửi hương với mũi … nếm vị với lưỡi … cảm xúc với thân … nhận thức pháp với ý, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không chinh phục được (phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy sự nguy hiểm. Loại xả như vậy không vượt khỏi các pháp. Do vậy, đây được gọi là xả liên hệ tại gia. Sáu xả này liên hệ tại gia.
SC 17Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ xuất ly? Sau khi biết sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt, nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi lên. Loại xả như vậy được gọi là xả liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các tiếng … các hương … các vị … các xúc … các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt, nghĩ rằng: “Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi lên. Loại xả như vậy được gọi là xả liên hệ xuất ly. Sáu xả này liên hệ xuất ly.
SC 18Khi được nói đến “Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 19Khi được nói đến “Ở đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu ưu liên hệ xuất ly; đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu xả liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng.
SC 20Này các Tỷ-kheo, có xả đa diện, y cứ đa diện; có xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Này các Tỷ-kheo, thế nào là xả đa diện, y cứ đa diện? Này các Tỷ-kheo, có xả đối với các sắc pháp, có xả đối với các tiếng, có xả đối với các hương, có xả đối với các vị, có xả đối với các xúc. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả đa diện, y cứ đa diện. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện? Có xả y cứ Hư không vô biên xứ, có xả y cứ Thức vô biên xứ, có xả y cứ Vô sở hữu xứ, có xả y cứ Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Ở đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện, đoạn tận vượt qua xả đa diện, xả y cứ đa diện. Như vậy là sự đoạn tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua (xả) này. Này các Tỷ-kheo, do y cứ không tham dục, do duyên không tham dục, đoạn tận, vượt qua xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện ấy. Như vậy là sự đoạn tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua (xả) này. Khi được nói đến: “Tại đây do y cứ cái này, đoạn tận cái này”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 21Khi được nói đến: “Có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Một số đệ tử của bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm giác hoan hỷ, nhưng sống không có dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ thứ nhất, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng.
SC 22Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Một số đệ tử bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Có một số đệ tử khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí, và không hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm giác hoan hỷ, không có không hoan hỷ, không có cảm giác không hoan hỷ; sau khi đoạn bỏ cả hai, hoan hỷ và không hoan hỷ, Như Lai trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ hai, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng.
SC 23Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có bậc Ðạo Sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Ðệ tử của bậc Ðạo Sư ấy khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí và không đi ngược lời dạy của bậc Ðạo Sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như lai hoan hỷ, và cảm giác hoan hỷ, sống không dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ thứ ba, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho đồ chúng.
SC 24Khi được nói đến: “Có ba niệm xứ, một bậc Thánh phải thực hành, và có (thực hành) niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng đáng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho đồ chúng”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 25Khi được nói đến: “Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là vị Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng được điều phục”, do duyên gì được nói đến như vậy? Này các Tỷ-kheo, một con voi được điều phục do một vị điều ngự tượng sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con ngựa được điều phục do một vị điều ngự mã sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con bò được điều phục do một vị điều ngự sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam.
SC 26Này các Tỷ-kheo, một người được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp cả tám phương.
SC 27Có sắc, thấy các sắc pháp; đó là phương thứ nhất. Không có tưởng nội sắc, thấy các ngoại sắc; đó là phương thứ hai. Nghĩ đến thanh tịnh, chú tâm trên ấy; đó là phương thứ ba. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, diệt trừ đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng; và nghĩ rằng “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ; đó là phương thứ tư. Vượt qua một cách hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ; đó là phương thứ năm. Vượt qua một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có gì cả”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ; đó là phương thứ sáu. Vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ; chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là phương thứ bảy. Vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng (định); đó là phương thứ tám.
SC 28Này các Tỷ-kheo, một người đáng được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp tám phương này.
SC 29Khi được nói đến: “Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng điều phục”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
SC 30Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Phân Biệt Sáu Xứ
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“saḷāyatanavibhaṅgaṁ vo, bhikkhave, desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, I shall teach you the analysis of the six sense fields. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
304. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu'. 'Bạch Thế Tôn', các vị Tỳ khưu ấy vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau: 'Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi về Phân Biệt Sáu Xứ. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói'. 'Vâng, bạch Thế Tôn', các vị Tỳ khưu ấy vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau:
“‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbāni, cha bāhirāni āyatanāni veditabbāni, cha viññāṇakāyā veditabbā, cha phassakāyā veditabbā, aṭṭhārasa manopavicārā veditabbā, chattiṁsa sattapadā veditabbā, tatra idaṁ nissāya idaṁ pajahatha, tayo satipaṭṭhānā yadariyo sevati yadariyo sevamāno satthā gaṇamanusāsitumarahati, so vuccati yoggācariyānaṁ anuttaro purisadammasārathī’ti—ayamuddeso saḷāyatanavibhaṅgassa.
“‘The six interior sense fields should be understood. The six exterior sense fields should be understood. The six classes of consciousness should be understood. The six classes of contact should be understood. The eighteen mental preoccupations should be understood. The thirty-six positions of sentient beings should be understood. Therein, relying on this, give up that. The Noble One cultivates the establishment of mindfulness in three cases, by virtue of which they are a Teacher worthy to instruct a group. Of all meditation tutors, it is he that is called the supreme guide for those fit for training.’ This is the summary recital for the analysis of the six sense fields.
'Sáu nội xứ cần được biết, sáu ngoại xứ cần được biết, sáu thân thức cần được biết, sáu thân xúc cần được biết, mười tám sự thẩm sát của ý cần được biết, ba mươi sáu nền tảng của chúng sanh cần được biết. Ở đây, y cứ vào điều này, hãy từ bỏ điều này. Có ba niệm xứ mà bậc Thánh thực hành, và khi thực hành, bậc Thánh, vị Đạo Sư, xứng đáng giáo huấn hội chúng. Vị ấy được gọi là bậc Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu' – đây là phần đề cương của kinh Phân Biệt Sáu Xứ.
‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? ‘Cakkhāyatanaṁ sotāyatanaṁ ghānāyatanaṁ jivhāyatanaṁ kāyāyatanaṁ manāyatanaṁ—cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘The six interior sense fields should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? There are the sense fields of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. ‘The six interior sense fields should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it.
305. 'Sáu nội xứ cần được biết' – điều này đã được nói như vậy. Duyên vào đâu mà điều này được nói? Đó là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. 'Sáu nội xứ cần được biết' – điều đã được nói như vậy là duyên vào điều này mà được nói.
‘Cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? ‘Rūpāyatanaṁ saddāyatanaṁ gandhāyatanaṁ rasāyatanaṁ phoṭṭhabbāyatanaṁ dhammāyatanaṁ—cha bāhirāni āyatanāni veditabbānī’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘The six exterior sense fields should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? There are the sense fields of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. ‘The six exterior sense fields should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it.
'Sáu ngoại xứ cần được biết' – điều này đã được nói như vậy. Duyên vào đâu mà điều này được nói? Đó là sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. 'Sáu ngoại xứ cần được biết' – điều đã được nói như vậy là duyên vào điều này mà được nói.
‘Cha viññāṇakāyā veditabbā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? ‘Cakkhuviññāṇaṁ sotaviññāṇaṁ ghānaviññāṇaṁ jivhāviññāṇaṁ kāyaviññāṇaṁ manoviññāṇaṁ—cha viññāṇakāyā veditabbā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘The six classes of consciousness should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? There are eye, ear, nose, tongue, body, and mind consciousness. ‘The six classes of consciousness should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it.
‘Sáu thân thức cần phải được biết rõ’, điều này đã được nói đến. Và điều này được nói đến là do duyên vào đâu? ‘Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. – Sáu thân thức cần phải được biết rõ’, điều đã được nói đến là do duyên vào điều này.
‘Cha phassakāyā veditabbā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? ‘Cakkhusamphasso sotasamphasso ghānasamphasso jivhāsamphasso kāyasamphasso manosamphasso—cha phassakāyā veditabbā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘The six classes of contact should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? There is contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. ‘The six classes of contact should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it.
‘Sáu thân xúc cần phải được biết rõ’, điều này đã được nói đến. Và điều này được nói đến là do duyên vào đâu? ‘Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. – Sáu thân xúc cần phải được biết rõ’, điều đã được nói đến là do duyên vào điều này.
‘Aṭṭhārasa manopavicārā veditabbā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? ‘Cakkhunā rūpaṁ disvā somanassaṭṭhānīyaṁ rūpaṁ upavicarati, domanassaṭṭhānīyaṁ rūpaṁ upavicarati, upekkhāṭṭhānīyaṁ rūpaṁ upavicarati. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya somanassaṭṭhānīyaṁ dhammaṁ upavicarati, domanassaṭṭhānīyaṁ dhammaṁ upavicarati, upekkhāṭṭhānīyaṁ dhammaṁ upavicarati. Iti cha somanassūpavicārā, cha domanassūpavicārā, cha upekkhūpavicārā, aṭṭhārasa manopavicārā veditabbā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘The eighteen mental preoccupations should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? Seeing a sight with their eyes, one is preoccupied with a sight that’s a basis for happiness or sadness or equanimity. Hearing a sound with their ears … Smelling an odor with their nose … Tasting a flavor with their tongue …
Encountering a touch with their body … Becoming conscious of an idea with their mind, one is preoccupied with an idea that’s a basis for happiness or sadness or equanimity. So there are six preoccupations with happiness, six preoccupations with sadness, and six preoccupations with equanimity. ‘The eighteen mental preoccupations should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it.
‘Mười tám sự thẩm sát của ý cần phải được biết rõ’, điều này đã được nói đến. Và điều này được nói đến là do duyên vào đâu? ‘Sau khi dùng mắt thấy sắc, vị ấy thẩm sát sắc là đối tượng của hỷ, thẩm sát sắc là đối tượng của ưu, thẩm sát sắc là đối tượng của xả. Sau khi dùng tai nghe tiếng... v.v... sau khi dùng mũi ngửi hương... sau khi dùng lưỡi nếm vị... sau khi dùng thân cảm xúc... sau khi dùng ý biết pháp, vị ấy thẩm sát pháp là đối tượng của hỷ, thẩm sát pháp là đối tượng của ưu, thẩm sát pháp là đối tượng của xả. Như vậy có sáu sự thẩm sát về hỷ, sáu sự thẩm sát về ưu, sáu sự thẩm sát về xả. – Mười tám sự thẩm sát của ý cần phải được biết rõ’, điều đã được nói đến là do duyên vào điều này.
‘Chattiṁsa sattapadā veditabbā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Cha gehasitāni somanassāni, cha nekkhammasitāni somanassāni, cha gehasitāni domanassāni, cha nekkhammasitāni domanassāni, cha gehasitā upekkhā, cha nekkhammasitā upekkhā.
Tattha katamāni cha gehasitāni somanassāni? Cakkhuviññeyyānaṁ rūpānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ manoramānaṁ lokāmisapaṭisaṁyuttānaṁ paṭilābhaṁ vā paṭilābhato samanupassato pubbe vā paṭiladdhapubbaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ samanussarato uppajjati somanassaṁ. Yaṁ evarūpaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati gehasitaṁ somanassaṁ. Sotaviññeyyānaṁ saddānaṁ … ghānaviññeyyānaṁ gandhānaṁ … jivhāviññeyyānaṁ rasānaṁ … kāyaviññeyyānaṁ phoṭṭhabbānaṁ … manoviññeyyānaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ …pe… somanassaṁ. Yaṁ evarūpaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati gehasitaṁ somanassaṁ. Imāni cha gehasitāni somanassāni.
‘The thirty-six positions of sentient beings should be understood.’ That’s what I said, but why did I say it? There are six kinds of domestic happiness and six kinds of renunciate happiness. There are six kinds of domestic sadness and six kinds of renunciate sadness. There are six kinds of domestic equanimity and six kinds of renunciate equanimity.
And in this context what are the six kinds of domestic happiness? There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasing, connected with the worldly pleasures of the flesh. Happiness arises when you regard it as a gain to obtain such sights, or when you recollect sights you formerly obtained that have passed, ceased, and perished. Such happiness is called domestic happiness. There are sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body … Ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasing, connected with the worldly pleasures of the flesh. Happiness arises when you regard it as a gain to obtain such ideas, or when you recollect ideas you formerly obtained that have passed, ceased, and perished. Such happiness is called domestic happiness. These are the six kinds of domestic happiness.
306. ‘Ba mươi sáu trạng thái của chúng sanh cần phải được biết rõ’, điều này đã được nói đến. Và điều này được nói đến là do duyên vào đâu? Có sáu hỷ y cứ tại gia, sáu hỷ y cứ xuất gia, sáu ưu y cứ tại gia, sáu ưu y cứ xuất gia, sáu xả y cứ tại gia, và sáu xả y cứ xuất gia. Trong ấy, thế nào là sáu hỷ y cứ tại gia? Do sự thành tựu hoặc trong khi đang quán xét sự thành tựu các sắc khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp lòng, liên hệ đến vật chất thế gian, được nhận biết qua nhãn thức; hoặc trong khi hồi tưởng lại các sắc đã thành tựu trong quá khứ, đã diệt, đã biến hoại, hỷ khởi lên. Hỷ nào như vậy, đây được gọi là hỷ y cứ tại gia. (Tương tự) đối với các tiếng được nhận biết qua nhĩ thức... các hương được nhận biết qua tỷ thức... các vị được nhận biết qua thiệt thức... các đối tượng xúc chạm được nhận biết qua thân thức... các pháp khả ái, khả hỷ, khả ý... v.v... được nhận biết qua ý thức... hỷ (khởi lên). Hỷ nào như vậy, đây được gọi là hỷ y cứ tại gia. Đây là sáu hỷ y cứ tại gia.
Tattha katamāni cha nekkhammasitāni somanassāni? Rūpānaṁ tveva aniccataṁ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṁ, ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato uppajjati somanassaṁ. Yaṁ evarūpaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati nekkhammasitaṁ somanassaṁ. Saddānaṁ tveva … gandhānaṁ tveva … rasānaṁ tveva … phoṭṭhabbānaṁ tveva … dhammānaṁ tveva aniccataṁ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṁ, ‘pubbe ceva dhammā etarahi ca sabbe te dhammā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato uppajjati somanassaṁ. Yaṁ evarūpaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati nekkhammasitaṁ somanassaṁ. Imāni cha nekkhammasitāni somanassāni.
And in this context what are the six kinds of renunciate happiness? When you’ve understood the impermanence of sights—their perishing, fading away, and cessation—happiness arises as you truly understand through right understanding that both formerly and now all those sights are impermanent, suffering, and perishable. Such happiness is called renunciate happiness. When you’ve understood the impermanence of sounds … smells … tastes … touches … ideas—their perishing, fading away, and cessation—happiness arises as you truly understand through right understanding that both formerly and now all those ideas are impermanent, suffering, and perishable. Such happiness is called renunciate happiness. These are the six kinds of renunciate happiness.
Trong ấy, thế nào là sáu hỷ y cứ xuất gia? Sau khi biết được sự vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt của chính các sắc, và khi thấy với chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Cả các sắc trong quá khứ lẫn hiện tại, tất cả các sắc ấy đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, hỷ khởi lên. Hỷ nào như vậy, đây được gọi là hỷ y cứ xuất gia. (Tương tự) đối với chính các tiếng... chính các hương... chính các vị... chính các đối tượng xúc chạm... sau khi biết được sự vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt của chính các pháp, và khi thấy với chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Cả các pháp trong quá khứ lẫn hiện tại, tất cả các pháp ấy đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, hỷ khởi lên. Hỷ nào như vậy, đây được gọi là hỷ y cứ xuất gia. Đây là sáu hỷ y cứ xuất gia.
Tattha katamāni cha gehasitāni domanassāni? Cakkhuviññeyyānaṁ rūpānaṁ … pe… sotaviññeyyānaṁ saddānaṁ … ghānaviññeyyānaṁ gandhānaṁ … jivhāviññeyyānaṁ rasānaṁ … kāyaviññeyyānaṁ phoṭṭhabbānaṁ … manoviññeyyānaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ manoramānaṁ lokāmisapaṭisaṁyuttānaṁ appaṭilābhaṁ vā appaṭilābhato samanupassato pubbe vā appaṭiladdhapubbaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ samanussarato uppajjati domanassaṁ. Yaṁ evarūpaṁ domanassaṁ idaṁ vuccati gehasitaṁ domanassaṁ. Imāni cha gehasitāni domanassāni.
And in this context what are the six kinds of domestic sadness? There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasing, connected with the worldly pleasures of the flesh. Sadness arises when you regard it as a loss to lose such sights, or when you recollect sights you formerly lost that have passed, ceased, and perished. Such sadness is called domestic sadness. There are sounds known by the ear … There are smells known by the nose … There are tastes known by the tongue … There are touches known by the body … There are ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasing, connected with the worldly pleasures of the flesh. Sadness arises when you regard it as a loss to lose such ideas, or when you recollect ideas you formerly lost that have passed, ceased, and perished. Such sadness is called domestic sadness. These are the six kinds of domestic sadness.
307. Trong ấy, thế nào là sáu ưu y cứ tại gia? (Tương tự) đối với các sắc được nhận biết qua nhãn thức... v.v... các tiếng được nhận biết qua nhĩ thức... các hương được nhận biết qua tỷ thức... các vị được nhận biết qua thiệt thức... các đối tượng xúc chạm được nhận biết qua thân thức... do sự không thành tựu hoặc trong khi đang quán xét sự không thành tựu các pháp khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp lòng, liên hệ đến vật chất thế gian, được nhận biết qua ý thức; hoặc trong khi hồi tưởng lại các pháp đã không thành tựu trong quá khứ, đã diệt, đã biến hoại, ưu khởi lên. Ưu nào như vậy, đây được gọi là ưu y cứ tại gia. Đây là sáu ưu y cứ tại gia.
Tattha katamāni cha nekkhammasitāni domanassāni? Rūpānaṁ tveva aniccataṁ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṁ, ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anuttaresu vimokkhesu pihaṁ upaṭṭhāpeti: ‘kudāssu nāmāhaṁ tadāyatanaṁ upasampajja viharissāmi yadariyā etarahi āyatanaṁ upasampajja viharantī’ti iti anuttaresu vimokkhesu pihaṁ upaṭṭhāpayato uppajjati pihapaccayā domanassaṁ. Yaṁ evarūpaṁ domanassaṁ idaṁ vuccati nekkhammasitaṁ domanassaṁ. Saddānaṁ tveva …pe… gandhānaṁ tveva … rasānaṁ tveva … phoṭṭhabbānaṁ tveva … dhammānaṁ tveva aniccataṁ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṁ, ‘pubbe ceva dhammā etarahi ca sabbe te dhammā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anuttaresu vimokkhesu pihaṁ upaṭṭhāpeti: ‘kudāssu nāmāhaṁ tadāyatanaṁ upasampajja viharissāmi yadariyā etarahi āyatanaṁ upasampajja viharantī’ti iti anuttaresu vimokkhesu pihaṁ upaṭṭhāpayato uppajjati pihapaccayā domanassaṁ. Yaṁ evarūpaṁ domanassaṁ idaṁ vuccati nekkhammasitaṁ domanassaṁ. Imāni cha nekkhammasitāni domanassāni.
And in this context what are the six kinds of renunciate sadness? When you’ve understood the impermanence of sights—their perishing, fading away, and cessation—you truly understand through right understanding that both formerly and now all those sights are impermanent, suffering, and perishable. Upon seeing this, you give rise to longing for the supreme liberations: ‘Oh, when will I enter and remain in the same dimension that the noble ones enter and remain in today?’ When you give rise to longing for the supreme liberations like this, sadness arises because of the longing. Such sadness is called renunciate sadness. When you’ve understood the impermanence of sounds … smells … tastes … touches … ideas—their perishing, fading away, and cessation—you truly understand through right understanding that both formerly and now all those ideas are impermanent, suffering, and perishable. Upon seeing this, you give rise to longing for the supreme liberations: ‘Oh, when will I enter and remain in the same dimension that the noble ones enter and remain in today?’ When you give rise to longing for the supreme liberations like this, sadness arises because of the longing. Such sadness is called renunciate sadness. These are the six kinds of renunciate sadness.
“Trong ấy, sáu ưu liên hệ xuất ly là gì? Sau khi biết rõ tính vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt của chính các sắc, sau khi thấy với chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Các sắc trong quá khứ và hiện tại, tất cả các sắc ấy đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, vị ấy khởi lên lòng khao khát đối với các giải thoát vô thượng: ‘Khi nào ta sẽ thành tựu và an trú trong cảnh giới ấy, cảnh giới mà các bậc Thánh hiện đang thành tựu và an trú?’ Do khởi lên lòng khao khát đối với các giải thoát vô thượng như vậy, ưu sanh khởi do duyên khao khát. Ư như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Đối với chính các thanh… đối với chính các hương… đối với chính các vị… đối với chính các xúc… đối với chính các pháp, sau khi biết rõ tính vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt, sau khi thấy với chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Các pháp trong quá khứ và hiện tại, tất cả các pháp ấy đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, vị ấy khởi lên lòng khao khát đối với các giải thoát vô thượng: ‘Khi nào ta sẽ thành tựu và an trú trong cảnh giới ấy, cảnh giới mà các bậc Thánh hiện đang thành tựu và an trú?’ Do khởi lên lòng khao khát đối với các giải thoát vô thượng như vậy, ưu sanh khởi do duyên khao khát. Ư như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Đây là sáu ưu liên hệ xuất ly.”
Tattha katamā cha gehasitā upekkhā? Cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjati upekkhā bālassa mūḷhassa puthujjanassa anodhijinassa avipākajinassa anādīnavadassāvino assutavato puthujjanassa. Yā evarūpā upekkhā, rūpaṁ sā nātivattati. Tasmā sā upekkhā ‘gehasitā’ti vuccati.
And in this context what are the six kinds of domestic equanimity? When seeing a sight with their eyes, equanimity arises for the unlearned ordinary person—a foolish ordinary person who has not overcome their limitations and the results of deeds, and is blind to the drawbacks. Such equanimity does not transcend the sight. That’s why it’s called domestic equanimity.
308. “Trong ấy, sáu xả liên hệ thế tục là gì? Do mắt thấy sắc, xả sanh khởi nơi kẻ ngu si, mê muội, phàm phu, người chưa chinh phục được giới hạn, chưa chinh phục được quả báo, người không thấy sự nguy hại, kẻ phàm phu ít nghe. Xả như vậy không vượt qua được sắc. Vì thế, xả ấy được gọi là ‘liên hệ thế tục’. Do tai nghe tiếng… do mũi ngửi mùi… do lưỡi nếm vị… do thân cảm xúc… do ý biết pháp, xả sanh khởi nơi kẻ ngu si, mê muội, phàm phu, người chưa chinh phục được giới hạn, chưa chinh phục được quả báo, người không thấy sự nguy hại, kẻ phàm phu ít nghe. Xả như vậy không vượt qua được pháp. Vì thế, xả ấy được gọi là ‘liên hệ thế tục’. Đây là sáu xả liên hệ thế tục.”
316. Này chư hiền, thế nào được gọi là thức bị phân tán, bị phân tán ra bên ngoài? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, thức chạy theo tướng của sắc, tham đắm vị ngọt của tướng sắc, bị trói buộc bởi vị ngọt của tướng sắc, bị tương ưng với kiết sử vị ngọt của tướng sắc, (như vậy) được gọi là thức bị phân tán, bị phân tán ra bên ngoài. Sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi mùi bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận xúc chạm bằng thân... sau khi biết pháp bằng ý, thức chạy theo tướng của pháp; tham đắm vị ngọt của tướng pháp, bị trói buộc bởi vị ngọt của tướng pháp, bị tương ưng với kiết sử vị ngọt của tướng pháp, (như vậy) được gọi là thức bị phân tán, bị phân tán ra bên ngoài. Này chư hiền, như vậy được gọi là thức bị phân tán, bị phân tán ra bên ngoài.
Tattha katamā cha nekkhammasitā upekkhā? Rūpānaṁ tveva aniccataṁ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṁ, ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato uppajjati upekkhā. Yā evarūpā upekkhā, rūpaṁ sā ativattati. Tasmā sā upekkhā ‘nekkhammasitā’ti vuccati. Saddānaṁ tveva … gandhānaṁ tveva … rasānaṁ tveva … phoṭṭhabbānaṁ tveva … dhammānaṁ tveva aniccataṁ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṁ, ‘pubbe ceva dhammā etarahi ca sabbe te dhammā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato uppajjati upekkhā. Yā evarūpā upekkhā, dhammaṁ sā ativattati. Tasmā sā upekkhā ‘nekkhammasitā’ti vuccati. Imā cha nekkhammasitā upekkhā. ‘Chattiṁsa sattapadā veditabbā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
And in this context what are the six kinds of renunciate equanimity? When you’ve understood the impermanence of sights—their perishing, fading away, and cessation—equanimity arises as you truly understand through right understanding that both formerly and now all those sights are impermanent, suffering, and perishable. Such equanimity transcends the sight. That’s why it’s called renunciate equanimity. When you’ve understood the impermanence of sounds … smells … tastes … touches … ideas—their perishing, fading away, and cessation—equanimity arises as you truly understand through right understanding that both formerly and now all those ideas are impermanent, suffering, and perishable. Such equanimity transcends the idea. That’s why it’s called renunciate equanimity. These are the six kinds of renunciate equanimity. ‘The thirty-six positions of sentient beings should be understood.’ That’s what I said, and this is why I said it.
“Trong ấy, sáu xả liên hệ xuất ly là gì? Sau khi biết rõ tính vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt của chính các sắc, đối với người thấy với chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Các sắc trong quá khứ và hiện tại, tất cả các sắc ấy đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, xả sanh khởi. Xả như vậy vượt qua được sắc. Vì thế, xả ấy được gọi là ‘liên hệ xuất ly’. Đối với chính các thanh… các hương… các vị… các xúc… đối với chính các pháp, sau khi biết rõ tính vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt, đối với người thấy với chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Các pháp trong quá khứ và hiện tại, tất cả các pháp ấy đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, xả sanh khởi. Xả như vậy vượt qua được pháp. Vì thế, xả ấy được gọi là ‘liên hệ xuất ly’. Đây là sáu xả liên hệ xuất ly. ‘Ba mươi sáu dòng hữu tình cần được biết rõ’, lời dạy ấy được nói ra là y vào điều này.”
‘Tatra idaṁ nissāya idaṁ pajahathā’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ; Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tatra, bhikkhave, yāni cha nekkhammasitāni somanassāni tāni nissāya tāni āgamma yāni cha gehasitāni somanassāni tāni pajahatha, tāni samatikkamatha. Evametesaṁ pahānaṁ hoti, evametesaṁ samatikkamo hoti.
‘Therein, relying on this, give up that.’ That’s what I said, but why did I say it?
Therein, by relying and depending on the six kinds of renunciate happiness, give up and go beyond the six kinds of domestic happiness. That’s how they are given up.
309. “‘Ở đây, hãy y vào điều này mà từ bỏ điều này’, lời dạy ấy được nói ra; và lời ấy được nói ra là y vào điều gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, sáu hỷ liên hệ xuất ly nào có mặt, hãy y vào chúng, hãy nương vào chúng mà từ bỏ sáu hỷ liên hệ thế tục, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.”
Tatra, bhikkhave, yāni cha nekkhammasitāni domanassāni tāni nissāya tāni āgamma yāni cha gehasitāni domanassāni tāni pajahatha, tāni samatikkamatha. Evametesaṁ pahānaṁ hoti, evametesaṁ samatikkamo hoti.
Therein, by relying on the six kinds of renunciate sadness, give up the six kinds of domestic sadness. That’s how they are given up.
“Này các Tỳ khưu, ở đây, sáu ưu liên hệ xuất ly nào có mặt, hãy y vào chúng, hãy nương vào chúng mà từ bỏ sáu ưu liên hệ thế tục, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.”
Tatra, bhikkhave, yā cha nekkhammasitā upekkhā tā nissāya tā āgamma, yā cha gehasitā upekkhā tā pajahatha tā samatikkamatha. Evametāsaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ samatikkamo hoti.
Therein, by relying on the six kinds of renunciate equanimity, give up the six kinds of domestic equanimity. That’s how they are given up.
“Này các Tỳ khưu, ở đây, sáu xả liên hệ xuất ly nào có mặt, hãy y vào chúng, hãy nương vào chúng mà từ bỏ sáu xả liên hệ thế tục, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.”
Tatra, bhikkhave, yāni cha nekkhammasitāni somanassāni tāni nissāya tāni āgamma yāni cha nekkhammasitāni domanassāni tāni pajahatha, tāni samatikkamatha. Evametesaṁ pahānaṁ hoti, evametesaṁ samatikkamo hoti.
Therein, by relying on the six kinds of renunciate happiness, give up the six kinds of renunciate sadness. That’s how they are given up.
“Này các Tỳ khưu, ở đây, sáu hỷ liên hệ xuất ly nào có mặt, hãy y vào chúng, hãy nương vào chúng mà từ bỏ sáu ưu liên hệ xuất ly, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.”
Tatra, bhikkhave, yā cha nekkhammasitā upekkhā tā nissāya tā āgamma yāni cha nekkhammasitāni somanassāni tāni pajahatha, tāni samatikkamatha. Evametesaṁ pahānaṁ hoti, evametesaṁ samatikkamo hoti.
Therein, by relying on the six kinds of renunciate equanimity, give up the six kinds of renunciate happiness. That’s how they are given up.
“Này các Tỳ khưu, ở đây, sáu xả liên hệ xuất ly nào có mặt, hãy y vào chúng, hãy nương vào chúng mà từ bỏ sáu hỷ liên hệ xuất ly, hãy vượt qua chúng. Như vậy là sự từ bỏ chúng, như vậy là sự vượt qua chúng.”
Atthi, bhikkhave, upekkhā nānattā nānattasitā, atthi upekkhā ekattā ekattasitā.
Katamā ca, bhikkhave, upekkhā nānattā nānattasitā? Atthi, bhikkhave, upekkhā rūpesu, atthi saddesu, atthi gandhesu, atthi rasesu, atthi phoṭṭhabbesu—ayaṁ, bhikkhave, upekkhā nānattā nānattasitā.
Katamā ca, bhikkhave, upekkhā ekattā ekattasitā? Atthi, bhikkhave, upekkhā ākāsānañcāyatananissitā, atthi viññāṇañcāyatananissitā, atthi ākiñcaññāyatananissitā, atthi nevasaññānāsaññāyatananissitā—ayaṁ, bhikkhave, upekkhā ekattā ekattasitā.
There is equanimity that is diversified, based on diversity, and equanimity that is unified, based on unity.
And what is equanimity based on diversity? There is equanimity toward sights, sounds, smells, tastes, and touches. This is equanimity based on diversity.
And what is equanimity based on unity? There is equanimity based on the dimensions of infinite space, infinite consciousness, nothingness, and neither perception nor non-perception. This is equanimity based on unity.
310. “Này các Tỳ khưu, có tâm xả dị biệt, y cứ vào sự dị biệt; có tâm xả đồng nhất, y cứ vào sự đồng nhất. Và này các Tỳ khưu, thế nào là tâm xả dị biệt, y cứ vào sự dị biệt? Này các Tỳ khưu, có tâm xả đối với các sắc, có tâm xả đối với các tiếng, có tâm xả đối với các mùi, có tâm xả đối với các vị, có tâm xả đối với các xúc – này các Tỳ khưu, đây là tâm xả dị biệt, y cứ vào sự dị biệt. Và này các Tỳ khưu, thế nào là tâm xả đồng nhất, y cứ vào sự đồng nhất? Này các Tỳ khưu, có tâm xả y cứ vào Không Vô Biên Xứ, có tâm xả y cứ vào Thức Vô Biên Xứ, có tâm xả y cứ vào Vô Sở Hữu Xứ, có tâm xả y cứ vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ – này các Tỳ khưu, đây là tâm xả đồng nhất, y cứ vào sự đồng nhất.”
Tatra, bhikkhave, yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā taṁ nissāya taṁ āgamma yāyaṁ upekkhā nānattā nānattasitā taṁ pajahatha, taṁ samatikkamatha. Evametissā pahānaṁ hoti, evametissā samatikkamo hoti.
Therein, relying on equanimity based on unity, give up equanimity based on diversity. That’s how it is given up.
“Này các Tỳ khưu, ở đây, đối với tâm xả đồng nhất, y cứ vào sự đồng nhất, hãy y cứ vào nó, hãy nương vào nó, mà từ bỏ, mà vượt qua tâm xả dị biệt, y cứ vào sự dị biệt. Như vậy là sự từ bỏ nó, như vậy là sự vượt qua nó.”
Atammayataṁ, bhikkhave, nissāya atammayataṁ āgamma yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā taṁ pajahatha, taṁ samatikkamatha. Evametissā pahānaṁ hoti, evametissā samatikkamo hoti. ‘Tatra idaṁ nissāya idaṁ pajahathā’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Relying on not being determined by that, give up equanimity based on unity. That’s how it is given up. ‘Therein, relying on this, give up that.’ That’s what I said, and this is why I said it.
“Này các Tỳ khưu, hãy y cứ vào sự không đồng hóa, hãy nương vào sự không đồng hóa, mà từ bỏ, mà vượt qua tâm xả đồng nhất, y cứ vào sự đồng nhất. Như vậy là sự từ bỏ nó, như vậy là sự vượt qua nó. ‘Ở đây, y cứ vào cái này, hãy từ bỏ cái này’ – điều đã được nói như vậy là duyên vào điều này mà nói.”
‘Tayo satipaṭṭhānā yadariyo sevati, yadariyo sevamāno satthā gaṇamanusāsitumarahatī’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ; kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, satthā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti anukampako hitesī anukampaṁ upādāya: ‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti. Tassa sāvakā na sussūsanti, na sotaṁ odahanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, vokkamma ca satthusāsanā vattanti. Tatra, bhikkhave, tathāgato na ceva anattamano hoti, na ca anattamanataṁ paṭisaṁvedeti, anavassuto ca viharati sato sampajāno. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ satipaṭṭhānaṁ yadariyo sevati, yadariyo sevamāno satthā gaṇamanusāsitumarahati.
‘The Noble One cultivates the establishment of mindfulness in three cases, by virtue of which they are a Teacher worthy to instruct a group.’ That’s what I said, but why did I say it?
The first case is when the Teacher teaches Dhamma to his disciples out of kindness and sympathy: ‘This is for your welfare. This is for your happiness.’ But their disciples don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They proceed having turned away from the Teacher’s instruction. In this case the Realized One is not unhappy, he does not feel unhappiness. He remains unfestering, mindful and aware. This is the first case in which the Noble One cultivates the establishment of mindfulness.
311. “‘Có ba niệm xứ mà bậc Thánh thực hành, và khi thực hành, bậc Thánh là Đạo Sư xứng đáng giáo huấn hội chúng’ – điều này đã được nói; và duyên vào điều gì mà được nói như vậy? Này các Tỳ khưu, ở đây, bậc Đạo Sư, người có lòng bi mẫn, tìm cầu lợi ích, do lòng bi mẫn mà thuyết pháp cho các đệ tử: ‘Điều này vì lợi ích cho các con, điều này vì hạnh phúc cho các con.’ Các đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lắng tai nghe, không hướng tâm đến sự liễu tri, và hành động xa rời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Này các Tỳ khưu, trong trường hợp đó, Như Lai không bất mãn, không cảm thọ sự bất mãn, và trú với tâm không bị rò rỉ, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỳ khưu, đây là niệm xứ thứ nhất mà bậc Thánh thực hành, và khi thực hành, bậc Thánh là Đạo Sư xứng đáng giáo huấn hội chúng.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, satthā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti anukampako hitesī anukampaṁ upādāya: ‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti. Tassa ekacce sāvakā na sussūsanti, na sotaṁ odahanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, vokkamma ca satthusāsanā vattanti; ekacce sāvakā sussūsanti, sotaṁ odahanti, aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, na ca vokkamma satthusāsanā vattanti. Tatra, bhikkhave, tathāgato na ceva anattamano hoti, na ca anattamanataṁ paṭisaṁvedeti; na ca attamano hoti, na ca attamanataṁ paṭisaṁvedeti. Anattamanatā ca attamanatā ca—tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dutiyaṁ satipaṭṭhānaṁ yadariyo sevati, yadariyo sevamāno satthā gaṇamanusāsitumarahati.
The next case is when the Teacher teaches Dhamma to his disciples out of kindness and sympathy: ‘This is for your welfare. This is for your happiness.’ And some of their disciples don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They proceed having turned away from the Teacher’s instruction. But some of their disciples do want to listen. They actively listen and try to understand. They don’t proceed having turned away from the Teacher’s instruction. In this case the Realized One is not unhappy, nor is he happy. Shunning both unhappiness and happiness, he remains equanimous, mindful and aware. This is the second case in which the Noble One cultivates the establishment of mindfulness.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, bậc Đạo Sư, người có lòng bi mẫn, tìm cầu lợi ích, do lòng bi mẫn mà thuyết pháp cho các đệ tử: ‘Điều này vì lợi ích cho các con, điều này vì hạnh phúc cho các con.’ Một số đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lắng tai nghe, không hướng tâm đến sự liễu tri, và hành động xa rời giáo huấn của bậc Đạo Sư; một số đệ tử khác thì muốn nghe, lắng tai nghe, hướng tâm đến sự liễu tri, và không hành động xa rời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Này các Tỳ khưu, trong trường hợp đó, Như Lai không bất mãn, không cảm thọ sự bất mãn; cũng không hài lòng, không cảm thọ sự hài lòng. Tránh xa cả hai điều bất mãn và hài lòng ấy, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là niệm xứ thứ hai mà bậc Thánh thực hành, và khi thực hành, bậc Thánh là Đạo Sư xứng đáng giáo huấn hội chúng.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, satthā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti anukampako hitesī anukampaṁ upādāya: ‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti. Tassa sāvakā sussūsanti, sotaṁ odahanti, aññācittaṁ upaṭṭhapenti, na ca vokkamma satthusāsanā vattanti. Tatra, bhikkhave, tathāgato attamano ceva hoti, attamanatañca paṭisaṁvedeti, anavassuto ca viharati sato sampajāno. Idaṁ vuccati, bhikkhave, tatiyaṁ satipaṭṭhānaṁ yadariyo sevati, yadariyo sevamāno satthā gaṇamanusāsitumarahati. ‘Tayo satipaṭṭhānā yadariyo sevati, yadariyo sevamāno satthā gaṇamanusāsitumarahatī’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
The next case is when the Teacher teaches Dhamma to his disciples out of kindness and sympathy: ‘This is for your welfare. This is for your happiness.’ And their disciples want to listen. They actively listen and try to understand. They don’t proceed having turned away from the Teacher’s instruction. In this case the Realized One is happy, he does feel happiness. He remains unfestering, mindful and aware. This is the third case in which the Noble One cultivates the establishment of mindfulness. ‘The Noble One cultivates the establishment of mindfulness in three cases, by virtue of which they are a Teacher worthy to instruct a group.’ That’s what I said, and this is why I said it.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, bậc Đạo Sư, người có lòng bi mẫn, tìm cầu lợi ích, do lòng bi mẫn mà thuyết pháp cho các đệ tử: ‘Điều này vì lợi ích cho các con, điều này vì hạnh phúc cho các con.’ Các đệ tử của vị ấy muốn nghe, lắng tai nghe, hướng tâm đến sự liễu tri, và không hành động xa rời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Này các Tỳ khưu, trong trường hợp đó, Như Lai hài lòng, cảm thọ sự hài lòng, và trú với tâm không bị rò rỉ, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là niệm xứ thứ ba mà bậc Thánh thực hành, và khi thực hành, bậc Thánh là Đạo Sư xứng đáng giáo huấn hội chúng. ‘Có ba niệm xứ mà bậc Thánh thực hành, và khi thực hành, bậc Thánh là Đạo Sư xứng đáng giáo huấn hội chúng’ – điều đã được nói như vậy là duyên vào điều này mà nói.”
‘So vuccati yoggācariyānaṁ anuttaro purisadammasārathī’ti—iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Hatthidamakena, bhikkhave, hatthidammo sārito ekaṁyeva disaṁ dhāvati—puratthimaṁ vā pacchimaṁ vā uttaraṁ vā dakkhiṇaṁ vā.
Assadamakena, bhikkhave, assadammo sārito ekaññeva disaṁ dhāvati—puratthimaṁ vā pacchimaṁ vā uttaraṁ vā dakkhiṇaṁ vā. Godamakena, bhikkhave, godammo sārito ekaññeva disaṁ dhāvati—puratthimaṁ vā pacchimaṁ vā uttaraṁ vā dakkhiṇaṁ vā. Tathāgatena hi, bhikkhave, arahatā sammāsambuddhena purisadammo sārito aṭṭha disā vidhāvati.
Rūpī rūpāni passati—ayaṁ ekā disā; ajjhattaṁ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passati—ayaṁ dutiyā disā; subhantveva adhimutto hoti—ayaṁ tatiyā disā; sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati—ayaṁ catutthī disā; sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati—ayaṁ pañcamī disā; sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati—ayaṁ chaṭṭhī disā; sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati—ayaṁ sattamī disā; sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati—ayaṁ aṭṭhamī disā. Tathāgatena, bhikkhave, arahatā sammāsambuddhena purisadammo sārito imā aṭṭha disā vidhāvati.
So vuccati: ‘yoggācariyānaṁ anuttaro purisadammasārathī’ti—iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
‘Of all meditation tutors, it is he that is called the supreme guide for those fit for training.’ That’s what I said, but why did I say it? Driven by an elephant trainer, an elephant in training proceeds in just one direction: east, west, north, or south.
Driven by a horse trainer, a horse in training proceeds in just one direction: east, west, north, or south. Driven by an ox trainer, an ox in training proceeds in just one direction: east, west, north, or south. But driven by the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, a person in training proceeds in eight directions:
Having physical form, they see forms. This is the first direction. Not perceiving physical form internally, they see forms externally. This is the second direction. They’re focused only on beauty. This is the third direction. Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. This is the fourth direction. Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. This is the fifth direction. Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. This is the sixth direction. Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. This is the seventh direction. Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling. This is the eighth direction. Driven by the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, a person in training proceeds in these eight directions.
‘Of all meditation tutors, it is he that is called the supreme guide for those fit for training.’ That’s what I said, and this is why I said it.”
312. ‘Vị ấy được gọi là bậc Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu, người huấn luyện những người đáng được huấn luyện.’ – Lời nói này đã được nói ra. Do duyên vào đâu mà lời này được nói ra? Này các Tỳ khưu, con voi đã được thuần hóa, sau khi được người nài voi huấn luyện, nó chỉ chạy về một hướng – hoặc hướng đông, hoặc hướng tây, hoặc hướng bắc, hoặc hướng nam. Này các Tỳ khưu, con ngựa đã được thuần hóa, sau khi được người nài ngựa huấn luyện, nó chỉ chạy về một hướng – hoặc hướng đông, hoặc hướng tây, hoặc hướng bắc, hoặc hướng nam. Này các Tỳ khưu, con bò đã được thuần hóa, sau khi được người chăn bò huấn luyện, nó chỉ chạy về một hướng – hoặc hướng đông, hoặc hướng tây, hoặc hướng bắc, hoặc hướng nam. Còn này các Tỳ khưu, người đáng được điều phục, sau khi được Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác huấn luyện, vị ấy chạy theo tám hướng. Vị có sắc thấy các sắc – đây là hướng thứ nhất; vị không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài – đây là hướng thứ hai; vị ấy chỉ chuyên chú vào ‘tịnh’ – đây là hướng thứ ba; do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do làm cho các đối ngại tưởng biến mất, do không tác ý đến các tưởng về sự đa dạng, vị ấy nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên,’ và chứng đạt rồi an trú vào Không Vô Biên Xứ – đây là hướng thứ tư; do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, vị ấy nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên,’ và chứng đạt rồi an trú vào Thức Vô Biên Xứ – đây là hướng thứ năm; do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, vị ấy nghĩ rằng: ‘Không có gì cả,’ và chứng đạt rồi an trú vào Vô Sở Hữu Xứ – đây là hướng thứ sáu; do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy chứng đạt rồi an trú vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ – đây là hướng thứ bảy; do vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy chứng đạt rồi an trú vào Diệt Thọ Tưởng Định – đây là hướng thứ tám. Này các Tỳ khưu, người đáng được điều phục, sau khi được Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác huấn luyện, vị ấy chạy theo tám hướng này. ‘Vị ấy được gọi là bậc Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu, người huấn luyện những người đáng được huấn luyện.’ – Lời nói này đã được nói ra là do duyên vào điều này.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói điều này. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Saḷāyatanavibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Phân Biệt Sáu Xứ, bài kinh thứ bảy, đã chấm dứt.