- Majjhima Nikāya 130
Devadūtasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Devadūtasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà viên), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 3—Ví như, này các Tỷ-kheo, có hai nhà có cửa; ở đây, một người có mắt đứng chính giữa có thể thấy những người đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi qua, đi lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy các chúng hữu tình chết đi sanh lại, hạ liệt, cao sang, đẹp trai, xấu hình, thiện thú, ác thú, tùy theo hạnh nghiệp của họ, và Ta nghĩ: “Các bậc hữu tình này do thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không công kích các bậc Thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp phù hợp chánh kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, Thiên giới, ở đời này. Hay các vị hữu tình này, do thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không công kích các bậc Thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp phù hợp với chánh kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh ra giữa loài Người. Còn các hữu tình, do thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, công kích các bậc Thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp phù hợp với tà kiến, các vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi ngạ quỹ (pettivisaya). Hay các hữu tình này, do thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, công kích các bậc Thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp phù hợp tà kiến, các hữu tình ấy sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào các loại bàng sanh. Hay các hữu tình này, do thành tựu thân ác hành … Sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, Ðịa ngục”.
SC 4Này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục, sau khi bắt giữ người ấy với nhiều cánh tay, dẫn người ấy đến trước vua Yāma và thưa:
SC 5“—Tâu Ðại vương, người này không có từ tâm, không xứng là Sa-môn, không xứng là Bà-la-môn, không kính trọng các vị lớn tuổi trong gia đình. Ðại vương hãy trừng phạt nó! ”
SC 6Này các Tỷ-kheo, vua Yāma, chất vấn người ấy, cật vấn, thẩm vấn người ấy về Thiên sứ thứ nhất: “Này người kia, Ngươi có thấy Thiên sứ thứ nhất đã hiện ra giữa loài Người không?”
SC 7Người ấy nói: “Thưa Ngài, không thấy”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người có đứa con nít nhỏ, yếu ớt, nằm ngửa, nằm rơi vào giữa phân và nước tiểu của nó hay không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, có thấy”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: “Ta bị sanh chi phối, ta không thoát khỏi sanh; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý”. Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, nếu vì phóng dật nên Ngươi không làm điều thiện về thân, khẩu, ý; chắc chắn chúng sẽ làm cho Ngươi, này Người kia, tùy theo sự phóng dật ấy của Ngươi. Vì rằng đây là một ác nghiệp của Ngươi, không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn và thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư Thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do Ngươi làm, chính Người phải cảm thọ quả báo việc làm ấy”.
SC 8Này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn và thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ nhất, vua Yāma mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ hai: “Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ hai hiện ra không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, không thấy”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người kia: “Này Người kia, Ngươi có thấy người đàn bà hay người đàn ông tám mươi tuổi, hay chín mươi tuổi, hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run, bệnh hoạn, tuổi trẻ đã qua mất, răng rụng, tóc sói, da nhăn, run rẩy, với tay chân bạc màu?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, có thấy”.
SC 9Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: “Ta bị già chi phối, ta không thoát khỏi già; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý”. Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này Người kia, nếu vì phóng dật nên Ngươi không làm điều thiện về thân, khẩu, ý; chắc chắn chúng sẽ làm cho Ngươi, này Người kia, tùy theo sự phóng dật của Ngươi. Vì rằng đây là một ác nghiệp của Ngươi, không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn và thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư Thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do Ngươi làm, chính Ngươi phải cảm thọ quả báo sự làm ấy”.
SC 10Này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ hai, vua Yāma mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ ba: “Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ ba hiện ra không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài không thấy”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người kia: “Này Người kia, Người có thấy người đàn bà hay người đàn ông bị bệnh hoạn, khổ não, bị bệnh trầm trọng nằm rơi vào trong nước tiểu và phân của mình, cần người khác nâng dậy, cần người khác dìu nằm xuống?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, có thấy”.
SC 11Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với nó: “Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: “Ta bị bệnh chi phối, ta không thoát khỏi bệnh; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý”. Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này Người kia, nếu vì phóng dật nên Ngươi không làm điều thiện, về thân, khẩu, ý; chắc chắn chúng sẽ làm cho Ngươi, này Người kia, tùy theo sự phóng dật của Ngươi. Vì rằng đây là một ác nghiệp của Ngươi, không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư Thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do Ngươi làm, chính Ngươi phải cảm thọ quả báo việc làm ấy”.
SC 12Này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ ba, vua Yāma mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ tư: “Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ tư hiện ra không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, không thấy”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người kia: “Này người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, các vua chúa sau khi bắt được tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy … họ lấy gươm chặt đầu?”. Người ấy nói: “Thưa Ngài, có thấy”.
SC 13Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: “Thật sự những ai làm các ác nghiệp, họ phải chịu những hình phạt sai khác, ngay trong hiện tại như vậy, huống nữa là về đời sau! Ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu, ý”. Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với nó: “Này Người kia, nếu vì phóng dật nên Ngươi không làm điều thiện về thân, khẩu, ý; chắc chắn chúng sẽ làm cho Ngươi, này người kia, tùy theo sự phóng dật của Ngươi. Vì rằng đây là một ác nghiệp của Ngươi, không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư Thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do Ngươi làm, chính Ngươi phải cảm thọ quả báo việc làm ấy”.
SC 14Này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, thẩm vấn người kia về Thiên sứ thứ tư, vua Yāma mới chất vấn, cật vấn, thẩm vấn về Thiên sứ thứ năm: “Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ năm hiện ra không? “Người ấy đáp: “Thưa Ngài, không thấy”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này Người kia, Ngươi có thấy giữa loài Người, người đàn bà hay người đàn ông chết đã được một ngày, hai ngày hay ba ngày, sưng phồng lên, xanh xám lại, rữa nát ra?” Người ấy nói: “Thưa Ngài, có thấy”.
SC 15Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này Người kia, tuy Ngươi là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Ngươi không có nghĩ: “Ta bị chết chi phối, ta không thoát khỏi chết; ta hãy làm điều thiện về thân, khẩu và ý”. Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không có thể làm, vì tôi phóng dật, thưa Ngài”. Rồi này các Tỷ-kheo, vua Yāma nói với người ấy: “Này Người kia, nếu vì phóng dật nên Ngươi không làm điều thiện về thân, khẩu ý; chắc chắn chúng sẽ làm cho Ngươi, này Người kia, tùy theo sự phóng dật của Ngươi. Vì rằng đây là một ác nghiệp của Ngươi, không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư Thiên làm. Ác nghiệp ấy chính là Ngươi làm, chính Ngươi phải cảm thọ quả báo việc làm ấy”.
SC 16Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi chất vấn, cật vấn, thẩm vấn, người ấy về Thiên sứ thứ năm, vua Yāma giữ im lặng.
SC 17Rồi này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc (Pancavidhabandhanam), họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực, Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 18Này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 19Này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây cảm thọ. Chưa tiêu trừ.
SC 20Này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới chạy lui trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ … chưa được tiêu trừ.
SC 21Rồi này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ … chưa được tiêu trừ.
SC 22Rồi này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, khi thì trôi nổi lên trên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 23Rồi này các Tỷ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ðại địa ngục ấy có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau, xung quanh có tường sắt, mái sắt lợp lên trên. Nền Ðịa ngục bằng sắt nung đỏ, chảy đỏ rực, đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần.
SC 24Này các Tỷ-kheo, từ tường phía Ðông của Ðại địa ngục ấy, những ngọn lửa bừng cháy lên được thổi tạt đến tường phía Tây. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Tây được thổi tạt đến tường phía Ðông. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Bắc được thổi tạt đến tường phía Nam. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Nam được thổi tạt đến tường phía Bắc. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Dưới, được thổi tạt lên phía Trên. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Trên, được thổi tạt xuống phía Dưới. Người ấy ở đây cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 25Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông của Ðại địa ngục được mở ra. Người ấy chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỷ-kheo, dù cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 26Rồi này các Tỷ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Tây được mở ra … cửa phía Bắc được mở ra … cửa phía Nam được mở ra. Người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỷ-kheo, dầu cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi các ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 27Rồi này các Tỷ-kheo, có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông được mở ra, người ấy liền chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ … sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Người ấy đi ra khỏi cửa Ðịa ngục ấy.
SC 28Nhưng này các Tỷ-kheo, cận sát Ðại địa ngục là Ðại Phấn nị Ðịa ngục (Guthaniraya). Người ấy rơi vào Ðịa ngục này. Này các Tỷ-kheo, tại Phấn nị Ðịa ngục ấy, các chúng sanh với miệng như mũi kim cắt đứt da ngoài; sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong; sau khi cắt dứt da trong, chúng cắt đứt thịt; sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân; sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương; sau khi cắt đứt xương, chúng cắt đứt xương tủy. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 29Nhưng này các Tỷ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Phấn nị ấy là Ðại địa ngục Nhiệt khôi (Than hừng—Kukkulaniraya). Người ấy rơi vào ở đấy. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 30Nhưng này các Tỷ-kheo, cận sát Ðại địa ngục Nhiệt khôi là Ðại Châm thọ lâm (Sambalivanam) cao một do tuần, với những gai nhọn dài mười sáu ngón tay, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Họ bắt người ấy leo lên, leo xuống. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 31Nhưng này các Tỷ-kheo, cận sát Đại Châm thọ lâm là Ðại Kiếm diệp lâm (Rừng lá gươm—Asipattavanta). Người ấy vào trong ấy. Ở đấy, các lá cây, do gió lay động, cắt đứt tay của người ấy, cắt đứt chân, cắt đứt tay chân, cắt đứt tai, cắt đứt mũi, cắt đứt tai mũi. Ở đây, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 32Nhưng này các Tỷ-kheo, cận sát Đại Kiếm diệp lâm là Ðại Khôi hà (Sông vôi—Kharodakanadi). Người ấy rơi vào trong ấy. Tại đấy, người ấy bị trôi thuận theo dòng nước, người ấy bị trôi ngược lại dòng nước, người ấy trôi thuận theo, ngược lại dòng nước. Tại đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 33Rồi này các Tỷ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục, câu người ấy lên với móc câu, đặt người ấy trên đất và nói với người ấy: “Này Người kia, Ngươi muốn gì?” Người ấy nói: “Thưa các Ngài, tôi đói bụng”. Rồi này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy và nhét vào miệng người ấy những cục đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi người ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo một ruột lớn, ruột nhỏ, các cục đồng ấy rơi ra ngoài từ phía dưới. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 34Rồi này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục nói với người ấy: “Này Người kia, Ngươi muốn gì?” Người ấy nói: “Thưa các Ngài, tôi khát nước”. Rồi này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy ra, và đổ vào miệng người ấy nước đồng nấu sôi, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi ngươi ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo ruột lớn, ruột nhỏ, nước đồng sôi ấy chảy ra ngoài từ phía dưới. Người ấy ở đấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
SC 35Rồi này các Tỷ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lại quăng người ấy vào Ðại địa ngục.
SC 36Một thời xưa lắm, này các Tỷ-kheo, vua Yāma suy nghĩ như sau: “Những ai làm ác nghiệp ở đời, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy. Mong rằng ta được làm người, và Như lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và ta có thể hầu hạ Thế Tôn, và Thế Tôn thuyết pháp cho ta, và ta có thể thông hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng”.
SC 37Này các Tỷ-kheo, điều Ta đang nói không phải Ta nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác; nhưng điều Ta đang nói chỉ được Ta biết mà thôi, chỉ được Ta thấy mà thôi, chỉ được Ta hiểu mà thôi.
SC 38Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi Thiện thệ nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm như sau:
SC 39Dầu Thiên sứ báo động,
Thanh niên vẫn phóng dật,
Họ ưu buồn lâu dài,
Sanh làm người hạ liệt.SC 40Ở đây bậc Chân nhân,
Ðược Thiên sứ báo động,
Không bao giờ phóng dật,
Trong diệu pháp bậc Thánh.SC 41Thấy sợ trong chấp thủ,
Trong hiện hữu sanh tử.
Ðược giải thoát chấp thủ,
Sanh tử được đoạn trừ,
Ðược yên ổn an lạc,
Ngay hiện tại tịch tịnh,
Mọi oán hận sợ hãi,
Các vị ấy vượt qua,
Mọi đau đớn sầu khổ,
Họ đều được siêu thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Thiên Sứ
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
261. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu.’ ‘Bạch Thế Tôn,’ các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Seyyathāpi, bhikkhave, dve agārā sadvārā, tattha cakkhumā puriso majjhe ṭhito passeyya manusse gehaṁ pavisantepi nikkhamantepi anucaṅkamantepi anuvicarantepi;
evameva kho ahaṁ, bhikkhave, dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāmi: ‘ime vata bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussesu upapannā. Ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā’ti.
“Mendicants, suppose there were two houses with doors. A person with clear eyes standing in between them would see humans entering and leaving a house and wandering to and fro.
In the same way, with clairvoyance that is purified and superhuman, I see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. I understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm, or among humans. These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in the ghost realm, the animal realm, or in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.’
“Này các tỳ khưu, ví như có hai ngôi nhà có cửa, ở đấy người có mắt đứng ở giữa có thể thấy những người đi vào nhà, đi ra, đi kinh hành, đi tới đi lui. Cũng vậy, này các tỳ khưu, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú, Ta biết rõ các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ: ‘Chắc chắn những chúng sanh này thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp trì hành động theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Hoặc chắc chắn những chúng sanh này thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp trì hành động theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào cõi người. Chắc chắn những chúng sanh này thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp trì hành động theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào cảnh giới ngạ quỷ. Hoặc chắc chắn những chúng sanh này thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp trì hành động theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào bàng sanh giới. Hoặc chắc chắn những chúng sanh này thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp trì hành động theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục’.”
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā nānābāhāsu gahetvā yamassa rañño dassenti: ‘ayaṁ, deva, puriso amatteyyo apetteyyo asāmañño abrāhmañño, na kule jeṭṭhāpacāyī. Imassa devo daṇḍaṁ paṇetū’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā paṭhamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu paṭhamaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha: ‘nāddasaṁ, bhante’ti.
The wardens of hell take them by the arms and present them to King Yama, saying, ‘Your Majesty, this person did not pay due respect to their mother and father, ascetics and brahmins, or honor the elders in the family. May Your Majesty punish them!’
King Yama pursues, presses, and grills them about the first messenger of the gods: ‘My man, did you not see the first messenger of the gods that appeared among human beings?’
He says, ‘I saw nothing, sir.’
262. “Này các tỳ khưu, các người canh địa ngục nắm lấy người ấy ở nhiều cánh tay khác nhau rồi dẫn đến trình vua Yama rằng: ‘Tâu Thiên vương, người này không hiếu kính mẹ, không hiếu kính cha, không tôn trọng Sa-môn, không tôn trọng Bà-la-môn, không kính trọng người lớn trong gia tộc. Xin Thiên vương hãy trừng phạt người này.’ Này các tỳ khưu, vua Yama thẩm vấn, tra hỏi, gạn hỏi người ấy về thiên sứ thứ nhất: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy thiên sứ thứ nhất xuất hiện ở cõi người sao?’ Người ấy nói như sau: ‘Thưa ngài, tôi đã không thấy.’”
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu daharaṁ kumāraṁ mandaṁ uttānaseyyakaṁ sake muttakarīse palipannaṁ semānan’ti?
So evamāha: ‘addasaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did you not see among human beings a little baby collapsed in their own urine and feces?’
He says, ‘I saw that, sir.’
“Này các tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như sau: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy ở cõi người một đứa bé trai non nớt, yếu ớt, nằm ngửa, đang nằm vấy bẩn trong nước tiểu và phân của chính nó sao?’ Người ấy nói như sau: ‘Thưa ngài, tôi đã thấy.’”
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—ahampi khomhi jātidhammo, jātiṁ anatīto. Handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā’ti?
So evamāha: ‘nāsakkhissaṁ, bhante, pamādassaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did it not occur to you—being sensible and mature—“I, too, am liable to be born. I’m not exempt from rebirth. I’d better do good by way of body, speech, and mind”?’
He says, ‘I couldn’t, sir. I was negligent.’
“Này các tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như sau: ‘Này người kia, đối với ngươi là người có trí, trưởng thành, đã không có ý nghĩ này khởi lên: “Ta cũng có sanh pháp, chưa vượt qua sanh. Thôi nào, ta hãy làm điều thiện bằng thân, khẩu, ý”? Người ấy nói như sau: ‘Thưa ngài, tôi đã không thể làm được. Thưa ngài, tôi đã phóng dật.’”
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, pamādavatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā. Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ. Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ na pitarā kataṁ na bhātarā kataṁ na bhaginiyā kataṁ na mittāmaccehi kataṁ na ñātisālohitehi kataṁ na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ na devatāhi kataṁ, tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā paṭhamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā dutiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati:
King Yama says to them, ‘My man, because you were negligent, you didn’t do good by way of body, speech, and mind. Well, they’ll definitely punish you to fit your negligence. That bad deed wasn’t done by your mother, father, brother, or sister. It wasn’t done by friends and colleagues, by relatives and kin, by ascetics and brahmins, or by the deities. That bad deed was done by you alone, and you alone will experience the result.’
Then King Yama grills them about the second messenger of the gods:
“Này các tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như sau: ‘Này người kia, vì sự phóng dật, ngươi đã không làm điều thiện bằng thân, khẩu, ý. Chắc chắn vậy, này người kia, họ sẽ xử ngươi đúng như cách ngươi đã phóng dật. Và ác nghiệp này của ngươi không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh em làm, không phải do chị em làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do quyến thuộc huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư thiên làm, mà ác nghiệp này chính do ngươi đã làm, và chính ngươi sẽ phải gánh chịu quả báo của nó.’”
So evamāha: ‘nāddasaṁ, bhante’ti.
He says, ‘I saw nothing, sir.’
263. “Này các tỳ khưu, sau khi đã thẩm vấn, tra hỏi, gạn hỏi người ấy về thiên sứ thứ nhất, vua Yama thẩm vấn, tra hỏi, gạn hỏi về thiên sứ thứ hai: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy thiên sứ thứ hai xuất hiện ở cõi người sao?’ Người ấy nói như sau: ‘Thưa ngài, tôi đã không thấy.’”
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā (…) jiṇṇaṁ gopānasivaṅkaṁ bhoggaṁ daṇḍaparāyanaṁ pavedhamānaṁ gacchantaṁ āturaṁ gatayobbanaṁ khaṇḍadantaṁ palitakesaṁ vilūnaṁ khalitasiraṁ valinaṁ tilakāhatagattan’ti?
So evamāha: ‘addasaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did you not see among human beings an elderly woman or a man—eighty, ninety, or a hundred years old—bent double, crooked, leaning on a staff, trembling as they walk, ailing, past their prime, with teeth broken, hair grey and scanty or bald, skin wrinkled, and limbs blotchy?’
He says, ‘I saw that, sir.’
“Này các tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như sau: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy ở cõi người một người đàn bà hay đàn ông già nua, lưng còng như nóc nhà, cong queo, phải chống gậy, đi run rẩy, bệnh hoạn, tuổi xuân đã qua, răng rụng, tóc bạc, tóc rụng, đầu hói, da nhăn, thân thể lốm đốm tàn nhang sao?’ Người ấy nói như sau: ‘Thưa ngài, tôi đã thấy.’”
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—ahampi khomhi jarādhammo, jaraṁ anatīto. Handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā’ti?
So evamāha: ‘nāsakkhissaṁ, bhante, pamādassaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did it not occur to you—being sensible and mature—“I, too, am liable to grow old. I’m not exempt from old age. I’d better do good by way of body, speech, and mind”?’
He says, ‘I couldn’t, sir. I was negligent.’
“Này các tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như sau: ‘Này người kia, đối với ngươi là người có trí, trưởng thành, đã không có ý nghĩ này khởi lên: “Ta cũng có già pháp, chưa vượt qua già. Thôi nào, ta hãy làm điều thiện bằng thân, khẩu, ý”? Người ấy nói như sau: ‘Thưa ngài, tôi đã không thể làm được. Thưa ngài, tôi đã phóng dật.’”
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, pamādavatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā. Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ. Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ na pitarā kataṁ na bhātarā kataṁ na bhaginiyā kataṁ na mittāmaccehi kataṁ na ñātisālohitehi kataṁ na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ na devatāhi kataṁ, tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
King Yama says to them, ‘My man, because you were negligent, you didn’t do good by way of body, speech, and mind. Well, they’ll definitely punish you to fit your negligence. That bad deed wasn’t done by your mother, father, brother, or sister. It wasn’t done by friends and colleagues, by relatives and kin, by ascetics and brahmins, or by the deities. That bad deed was done by you alone, and you alone will experience the result.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, do sự dể duôi, ngươi đã không làm điều thiện qua thân, khẩu, ý. Này người kia, chắc chắn họ sẽ xử ngươi tương xứng với sự dể duôi của ngươi. Việc ác này của ngươi không phải do mẹ ngươi làm, không phải do cha ngươi làm, không phải do anh em ngươi làm, không phải do chị em ngươi làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư thiên làm; chính ngươi đã làm việc ác này, và chính ngươi sẽ phải gánh chịu kết quả của nó.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā dutiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā tatiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu tatiyaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha: ‘nāddasaṁ, bhante’ti.
Then King Yama grills them about the third messenger of the gods: ‘My man, did you not see the third messenger of the gods that appeared among human beings?’
He says, ‘I saw nothing, sir.’
264. Này các Tỳ khưu, vua Yama, sau khi đã tra hỏi, thẩm vấn, gạn hỏi về thiên sứ thứ hai, liền tra hỏi, thẩm vấn, gạn hỏi về thiên sứ thứ ba: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy thiên sứ thứ ba xuất hiện giữa loài người sao?’ Người ấy thưa rằng: ‘Thưa ngài, con đã không thấy.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā ābādhikaṁ dukkhitaṁ bāḷhagilānaṁ sake muttakarīse palipannaṁ semānaṁ aññehi vuṭṭhāpiyamānaṁ aññehi saṁvesiyamānan’ti?
So evamāha: ‘addasaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did you not see among human beings a woman or a man, sick, suffering, gravely ill, collapsed in their own urine and feces, being picked up by some and put down by others?’
He says, ‘I saw that, sir.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy giữa loài người một người đàn bà hay một người đàn ông bị bệnh, đau khổ, ốm nặng, nằm vấy bẩn trong phân và nước tiểu của chính mình, phải nhờ người khác đỡ dậy, phải nhờ người khác đặt nằm xuống sao?’ Người ấy thưa rằng: ‘Thưa ngài, con đã thấy.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—ahampi khomhi byādhidhammo, byādhiṁ anatīto. Handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā’ti? So evamāha: ‘nāsakkhissaṁ, bhante, pamādassaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did it not occur to you—being sensible and mature—“I, too, am liable to become sick. I’m not exempt from sickness. I’d better do good by way of body, speech, and mind”?’ He says, ‘I couldn’t, sir. I was negligent.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, là người có hiểu biết, có tuổi, ý nghĩ này đã không khởi lên nơi ngươi sao: ‘Ta cũng có bản chất bị bệnh, không thoát khỏi bệnh tật. Vậy thì, ta hãy làm điều thiện qua thân, khẩu, ý’? Người ấy thưa rằng: ‘Thưa ngài, con đã không thể làm được. Thưa ngài, con đã dể duôi.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, pamādavatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā. Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ. Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ na pitarā kataṁ na bhātarā kataṁ na bhaginiyā kataṁ na mittāmaccehi kataṁ na ñātisālohitehi kataṁ na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ na devatāhi kataṁ, tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
King Yama says to them, ‘My man, because you were negligent, you didn’t do good by way of body, speech, and mind. Well, they’ll definitely punish you to fit your negligence. That bad deed wasn’t done by your mother, father, brother, or sister. It wasn’t done by friends and colleagues, by relatives and kin, by ascetics and brahmins, or by the deities. That bad deed was done by you alone, and you alone will experience the result.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, do sự dể duôi, ngươi đã không làm điều thiện qua thân, khẩu, ý. Này người kia, chắc chắn họ sẽ xử ngươi tương xứng với sự dể duôi của ngươi. Việc ác này của ngươi không phải do mẹ ngươi làm, không phải do cha ngươi làm, không phải do anh em ngươi làm, không phải do chị em ngươi làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư thiên làm; chính ngươi đã làm việc ác này, và chính ngươi sẽ phải gánh chịu kết quả của nó.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā tatiyaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā catutthaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu catutthaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha: ‘nāddasaṁ, bhante’ti.
Then King Yama grills them about the fourth messenger of the gods: ‘My man, did you not see the fourth messenger of the gods that appeared among human beings?’
He says, ‘I saw nothing, sir.’
265. Này các Tỳ khưu, vua Yama, sau khi đã tra hỏi, thẩm vấn, gạn hỏi về thiên sứ thứ ba, liền tra hỏi, thẩm vấn, gạn hỏi về thiên sứ thứ tư: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy thiên sứ thứ tư xuất hiện giữa loài người sao?’ Người ấy thưa rằng: ‘Thưa ngài, con đã không thấy.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu rājāno coraṁ āgucāriṁ gahetvā vividhā kammakāraṇā kārente—kasāhipi tāḷente vettehipi tāḷente addhadaṇḍakehipi tāḷente hatthampi chindante pādampi chindante hatthapādampi chindante kaṇṇampi chindante nāsampi chindante kaṇṇanāsampi chindante bilaṅgathālikampi karonte saṅkhamuṇḍikampi karonte rāhumukhampi karonte jotimālikampi karonte hatthapajjotikampi karonte erakavattikampi karonte cīrakavāsikampi karonte eṇeyyakampi karonte baḷisamaṁsikampi karonte kahāpaṇikampi karonte khārāpatacchikampi karonte palighaparivattikampi karonte palālapīṭhakampi karonte tattenapi telena osiñcante sunakhehipi khādāpente jīvantampi sūle uttāsente asināpi sīsaṁ chindante’ti?
So evamāha: ‘addasaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did you not see among human beings when the rulers arrested a bandit, a criminal, and subjected them to various punishments—whipping, caning, and clubbing; cutting off hands or feet, or both; cutting off ears or nose, or both; the ‘porridge pot’, the ‘shell-shave’, the ‘Rāhu’s mouth’, the ‘garland of fire’, the ‘burning hand’, the ‘bulrush twist’, the ‘bark dress’, the ‘antelope’, the ‘meat hook’, the ‘coins’, the ‘caustic pickle’, the ‘twisting bar’, the ‘straw mat’; being splashed with hot oil, being fed to the hounds, being impaled alive, and being beheaded?’
He says, ‘I saw that, sir.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy giữa loài người các vị vua bắt giữ kẻ trộm, kẻ làm ác, rồi áp dụng nhiều hình phạt khác nhau sao – đánh bằng roi, đánh bằng gậy mây, đánh bằng dùi cui; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai mũi; thực hiện hình phạt ‘nồi cháo’; thực hiện hình phạt ‘vỏ ốc láng bóng’; thực hiện hình phạt ‘miệng Rāhu’; thực hiện hình phạt ‘vòng hoa lửa’; thực hiện hình phạt ‘ngọn đuốc tay’; thực hiện hình phạt ‘bện cỏ lau’; thực hiện hình phạt ‘áo vỏ cây’; thực hiện hình phạt ‘con nai’; thực hiện hình phạt ‘móc câu thịt’; thực hiện hình phạt ‘cắt thịt bằng đồng xu’; thực hiện hình phạt ‘tẩm nước tro’; thực hiện hình phạt ‘xoay trên cọc’; thực hiện hình phạt ‘đệm rơm’; và họ còn dội dầu sôi lên người, cho chó ăn thịt, xiên cọc lúc còn sống, và dùng gươm chặt đầu?’ Người ấy thưa rằng: ‘Thưa ngài, con đã thấy.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—ye kira, bho, pāpakāni kammāni karonti te diṭṭheva dhamme evarūpā vividhā kammakāraṇā karīyanti, kimaṅgaṁ pana parattha. Handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā’ti?
So evamāha: ‘nāsakkhissaṁ, bhante, pamādassaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did it not occur to you—being sensible and mature—“It seems that one who does bad deeds receives such punishment in this very life. What must happen to them in the next? I’d better do good by way of body, speech, and mind”?’
He says, ‘I couldn’t, sir. I was negligent.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, là người có hiểu biết, có tuổi, ý nghĩ này đã không khởi lên nơi ngươi sao: ‘Này các bạn, những ai làm các nghiệp ác thì ngay trong đời này phải chịu những hình phạt đa dạng như vậy, huống nữa là ở đời sau! Vậy thì, ta hãy làm điều thiện qua thân, khẩu, ý’? Người ấy thưa rằng: ‘Thưa ngài, con đã không thể làm được. Thưa ngài, con đã dể duôi.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, pamādavatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā. Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ. Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ na pitarā kataṁ na bhātarā kataṁ na bhaginiyā kataṁ na mittāmaccehi kataṁ na ñātisālohitehi kataṁ na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ na devatāhi kataṁ, tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
King Yama says to them, ‘My man, because you were negligent, you didn’t do good by way of body, speech, and mind. Well, they’ll definitely punish you to fit your negligence. That bad deed wasn’t done by your mother, father, brother, or sister. It wasn’t done by friends and colleagues, by relatives and kin, by ascetics and brahmins, or by the deities. That bad deed was done by you alone, and you alone will experience the result.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, do sự dể duôi, ngươi đã không làm điều thiện qua thân, khẩu, ý. Này người kia, chắc chắn họ sẽ xử ngươi tương xứng với sự dể duôi của ngươi. Việc ác này của ngươi không phải do mẹ ngươi làm, không phải do cha ngươi làm, không phải do anh em ngươi làm, không phải do chị em ngươi làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư thiên làm; chính ngươi đã làm việc ác này, và chính ngươi sẽ phải gánh chịu kết quả của nó.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā catutthaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā pañcamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjati samanugāhati samanubhāsati: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu pañcamaṁ devadūtaṁ pātubhūtan’ti?
So evamāha: ‘nāddasaṁ, bhante’ti.
Then King Yama grills them about the fifth messenger of the gods: ‘My man, did you not see the fifth messenger of the gods that appeared among human beings?’
He says, ‘I saw nothing, sir.’
266. Này các Tỳ khưu, vua Yama, sau khi đã tra hỏi, thẩm vấn, gạn hỏi về thiên sứ thứ tư, liền tra hỏi, thẩm vấn, gạn hỏi về thiên sứ thứ năm: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy thiên sứ thứ năm xuất hiện giữa loài người sao?’ Người ấy thưa rằng: ‘Thưa ngài, con đã không thấy.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, na tvaṁ addasa manussesu itthiṁ vā purisaṁ vā ekāhamataṁ vā dvīhamataṁ vā tīhamataṁ vā uddhumātakaṁ vinīlakaṁ vipubbakajātan’ti?
So evamāha: ‘addasaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did you not see among human beings a woman or a man, dead for one, two, or three days, bloated, livid, and festering?’
He says, ‘I saw that, sir.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, ngươi đã không thấy giữa loài người một người đàn bà hay một người đàn ông đã chết một ngày, hoặc chết hai ngày, hoặc chết ba ngày, thân thể trương phồng, xanh mét, và chảy mủ sao?’ Người ấy thưa rằng: ‘Thưa ngài, con đã thấy.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, tassa te viññussa sato mahallakassa na etadahosi—ahampi khomhi maraṇadhammo, maraṇaṁ anatīto. Handāhaṁ kalyāṇaṁ karomi kāyena vācāya manasā’ti?
So evamāha: ‘nāsakkhissaṁ, bhante, pamādassaṁ, bhante’ti.
King Yama says to them, ‘My man, did it not occur to you—being sensible and mature—“I, too, am liable to die. I’m not exempt from death. I’d better do good by way of body, speech, and mind”?’
He says, ‘I couldn’t, sir. I was negligent.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, ngươi là người có trí, đã lớn tuổi, sao ngươi không nghĩ rằng: ‘Ta cũng có bản chất phải chết, không thể vượt qua cái chết. Thôi nào! Ta hãy làm điều thiện bằng thân, khẩu, ý’? Người ấy nói như vầy: ‘Thưa ngài, con đã không thể làm được. Thưa ngài, con đã phóng dật.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā evamāha: ‘ambho purisa, pamādavatāya na kalyāṇamakāsi kāyena vācāya manasā. Taggha tvaṁ, ambho purisa, tathā karissanti yathā taṁ pamattaṁ. Taṁ kho pana te etaṁ pāpakammaṁ neva mātarā kataṁ na pitarā kataṁ na bhātarā kataṁ na bhaginiyā kataṁ na mittāmaccehi kataṁ na ñātisālohitehi kataṁ na samaṇabrāhmaṇehi kataṁ na devatāhi kataṁ, tayāvetaṁ pāpakammaṁ kataṁ, tvaññevetassa vipākaṁ paṭisaṁvedissasī’ti.
King Yama says to them, ‘My man, because you were negligent, you didn’t do good by way of body, speech, and mind. Well, they’ll definitely punish you to fit your negligence. That bad deed wasn’t done by your mother, father, brother, or sister. It wasn’t done by friends and colleagues, by relatives and kin, by ascetics and brahmins, or by the deities. That bad deed was done by you alone, and you alone will experience the result.’
Này các Tỳ khưu, vua Yama nói với người ấy như vầy: ‘Này người kia, vì phóng dật nên ngươi đã không làm điều thiện bằng thân, khẩu, ý. Này người kia, chắc chắn họ sẽ xử ngươi tương xứng với sự phóng dật ấy. Việc ác này của ngươi không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh em làm, không phải do chị em làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn làm, không phải do chư thiên làm, mà chính ngươi đã làm việc ác này, và chính ngươi sẽ phải gánh chịu kết quả của nó.’
Tamenaṁ, bhikkhave, yamo rājā pañcamaṁ devadūtaṁ samanuyuñjitvā samanugāhitvā samanubhāsitvā tuṇhī hoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā pañcavidhabandhanaṁ nāma kammakāraṇaṁ karonti—tattaṁ ayokhilaṁ hatthe gamenti, tattaṁ ayokhilaṁ dutiye hatthe gamenti, tattaṁ ayokhilaṁ pāde gamenti, tattaṁ ayokhilaṁ dutiye pāde gamenti, tattaṁ ayokhilaṁ majjheurasmiṁ gamenti. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā saṁvesetvā kuṭhārīhi tacchanti …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā uddhampādaṁ adhosiraṁ gahetvā vāsīhi tacchanti …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā rathe yojetvā ādittāya pathaviyā sampajjalitāya sajotibhūtāya sārentipi, paccāsārentipi …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā mahantaṁ aṅgārapabbataṁ ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ āropentipi oropentipi …pe…
tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā uddhampādaṁ adhosiraṁ gahetvā tattāya lohakumbhiyā pakkhipanti ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya. So tattha pheṇuddehakaṁ paccati. So tattha pheṇuddehakaṁ paccamāno sakimpi uddhaṁ gacchati, sakimpi adho gacchati, sakimpi tiriyaṁ gacchati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā mahāniraye pakkhipanti. So kho pana, bhikkhave, mahānirayo—
After grilling them about the fifth messenger of the gods, King Yama falls silent.
The wardens of hell punish them with the five-fold crucifixion. They drive red-hot stakes through the hands and feet, and another in the middle of the chest. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
The wardens of hell throw them down and hack them with axes. …
They hang them upside-down and hack them with hatchets. …
They harness them to a chariot, and drive them back and forth across burning ground, blazing and glowing. …
They make them climb up and down a big mountain of burning coals, blazing and glowing. …
The wardens of hell turn them upside down and throw them in a red-hot copper pot, burning, blazing, and glowing. There they’re seared in boiling scum, and they’re swept up and down and round and round. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
The wardens of hell toss them into the Great Hell. Now, about that Great Hell:
267. Này các Tỳ khưu, sau khi thẩm vấn, tra hỏi, chất vấn về vị thiên sứ thứ năm, vua Yama liền im lặng. Này các Tỳ khưu, các lính canh địa ngục thực hiện một hình phạt gọi là sự trói buộc năm chi: họ đóng một cọc sắt nung đỏ vào tay, đóng một cọc sắt nung đỏ vào tay thứ hai, đóng một cọc sắt nung đỏ vào chân, đóng một cọc sắt nung đỏ vào chân thứ hai, đóng một cọc sắt nung đỏ vào giữa ngực. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, nhức nhối, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy được trả hết. Này các Tỳ khưu, các lính canh địa ngục cho người ấy nằm xuống rồi dùng rìu để đẽo gọt... Này các Tỳ khưu, các lính canh địa ngục nắm lấy người ấy, chân hướng lên, đầu chúc xuống, rồi dùng búa để đẽo gọt... Này các Tỳ khưu, các lính canh địa ngục thắng người ấy vào cỗ xe rồi kéo tới kéo lui trên mặt đất rực cháy, bốc lửa, ngùn ngụt... Này các Tỳ khưu, các lính canh địa ngục bắt người ấy leo lên rồi đi xuống một ngọn núi than hồng vĩ đại, rực cháy, bốc lửa, ngùn ngụt... Này các Tỳ khưu, các lính canh địa ngục nắm lấy người ấy, chân hướng lên, đầu chúc xuống, rồi ném vào một cái vạc bằng sắt đang nóng, rực cháy, bốc lửa, ngùn ngụt. Ở đó, người ấy bị nấu sôi sùng sục như bọt nước. Trong khi bị nấu sôi sùng sục như bọt nước, có lúc người ấy trồi lên, có lúc chìm xuống, có lúc đi ngang. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, nhức nhối, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy được trả hết. Này các Tỳ khưu, các lính canh địa ngục ném người ấy vào đại địa ngục. Này các Tỳ khưu, đại địa ngục ấy thì –
Catukkaṇṇo catudvāro, vibhatto bhāgaso mito; Ayopākārapariyanto, ayasā paṭikujjito.
‘Four are its corners, four its doors, neatly divided section by section. Surrounded by an iron wall, of iron is its roof.
‘Có bốn góc, bốn cửa, được phân chia thành các phần đều nhau; được bao quanh bởi một bức tường sắt, được lợp bằng sắt.’
Tassa ayomayā bhūmi, jalitā tejasāyutā; Samantā yojanasataṁ, pharitvā tiṭṭhati sabbadā.
The ground is even made of iron, it burns with fierce fire. The heat forever radiates a hundred leagues around.’
‘Nền của nó làm bằng sắt, rực cháy, đầy lửa nóng; trải rộng một trăm do-tuần khắp bốn phía, tồn tại mãi mãi.’
Tassa kho pana, bhikkhave, mahānirayassa puratthimāya bhittiyā acci uṭṭhahitvā pacchimāya bhittiyā paṭihaññati, pacchimāya bhittiyā acci uṭṭhahitvā puratthimāya bhittiyā paṭihaññati, uttarāya bhittiyā acci uṭṭhahitvā dakkhiṇāya bhittiyā paṭihaññati, dakkhiṇāya bhittiyā acci uṭṭhahitvā uttarāya bhittiyā paṭihaññati, heṭṭhā acci uṭṭhahitvā upari paṭihaññati, uparito acci uṭṭhahitvā heṭṭhā paṭihaññati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Now in the Great Hell, flames surge out of the walls and crash into the opposite wall: from east to west, from west to east, from north to south, from south to north, from bottom to top, from top to bottom. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
268. Này các Tỳ khưu, ngọn lửa bốc lên từ bức tường phía đông của đại địa ngục ấy đập vào bức tường phía tây. Ngọn lửa bốc lên từ bức tường phía tây đập vào bức tường phía đông. Ngọn lửa bốc lên từ bức tường phía bắc đập vào bức tường phía nam. Ngọn lửa bốc lên từ bức tường phía nam đập vào bức tường phía bắc. Ngọn lửa bốc lên từ phía dưới đập vào phía trên. Ngọn lửa bốc lên từ phía trên đập vào phía dưới. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, nhức nhối, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy được trả hết.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena tassa mahānirayassa puratthimaṁ dvāraṁ apāpurīyati. So tattha sīghena javena dhāvati. Tassa sīghena javena dhāvato chavimpi ḍayhati, cammampi ḍayhati, maṁsampi ḍayhati, nhārumpi ḍayhati, aṭṭhīnipi sampadhūpāyanti, ubbhataṁ tādisameva hoti. Yato ca kho so, bhikkhave, bahusampatto hoti, atha taṁ dvāraṁ pidhīyati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
There comes a time when, after a very long period has passed, the eastern gate of the Great Hell is opened. So they run there as fast as they can. And as they run, their outer skin, inner skin, flesh, and sinews burn and even their bones smoke. Such is their escape; but when they’ve managed to make it most of the way, the gate is slammed shut. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
Này các Tỳ khưu, có lúc, sau một thời gian dài, cửa phía đông của đại địa ngục ấy được mở ra. Người ấy chạy đến đó với tốc độ nhanh chóng. Khi người ấy chạy với tốc độ nhanh chóng, lớp da ngoài của người ấy bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương bốc khói. Khi chân được nhấc lên, nó cũng bị thiêu đốt y như vậy. Này các Tỳ khưu, khi người ấy gần đến nơi, thì cánh cửa ấy đóng lại. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, nhức nhối, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy được trả hết.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena tassa mahānirayassa pacchimaṁ dvāraṁ apāpurīyati …pe… uttaraṁ dvāraṁ apāpurīyati …pe… dakkhiṇaṁ dvāraṁ apāpurīyati. So tattha sīghena javena dhāvati. Tassa sīghena javena dhāvato chavimpi ḍayhati, cammampi ḍayhati, maṁsampi ḍayhati, nhārumpi ḍayhati, aṭṭhīnipi sampadhūpāyanti, ubbhataṁ tādisameva hoti. Yato ca kho so, bhikkhave, bahusampatto hoti, atha taṁ dvāraṁ pidhīyati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
There comes a time when, after a very long period has passed, the western gate … northern gate … southern gate of the Great Hell is opened. So they run there as fast as they can. And as they run, their outer skin, inner skin, flesh, and sinews burn and even their bones smoke. Such is their escape; but when they’ve managed to make it most of the way, the gate is slammed shut. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
Này các Tỳ khưu, có lúc, sau một thời gian dài, cửa phía tây của đại địa ngục ấy được mở ra... cửa phía bắc được mở ra... cửa phía nam được mở ra. Người ấy chạy đến đó với tốc độ nhanh chóng. Khi người ấy chạy với tốc độ nhanh chóng, lớp da ngoài của người ấy bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương bốc khói. Khi chân được nhấc lên, nó cũng bị thiêu đốt y như vậy. Này các Tỳ khưu, khi người ấy gần đến nơi, thì cánh cửa ấy đóng lại. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt, nhức nhối, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy được trả hết.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena tassa mahānirayassa puratthimaṁ dvāraṁ apāpurīyati. So tattha sīghena javena dhāvati. Tassa sīghena javena dhāvato chavimpi ḍayhati, cammampi ḍayhati, maṁsampi ḍayhati, nhārumpi ḍayhati, aṭṭhīnipi sampadhūpāyanti, ubbhataṁ tādisameva hoti. So tena dvārena nikkhamati.
There comes a time when, after a very long period has passed, the eastern gate of the Great Hell is opened. So they run there as fast as they can. And as they run, their outer skin, inner skin, flesh, and sinews burn and even their bones smoke. Such is their escape; and they make it out that door.
“Này các tỳ khưu, có lúc, đôi khi, sau một thời gian dài, cánh cửa phía đông của đại địa ngục ấy được mở ra. Người ấy chạy đến đó với tốc độ nhanh chóng. Khi người ấy đang chạy với tốc độ nhanh chóng, lớp da mỏng bị cháy, lớp da dày cũng bị cháy, thịt cũng bị cháy, gân cũng bị cháy, xương cũng bốc khói, (bước chân) được nhấc lên cũng giống như thế. Người ấy thoát ra bằng cánh cửa ấy.”
Tassa kho pana, bhikkhave, mahānirayassa samanantarā sahitameva mahanto gūthanirayo. So tattha patati. Tasmiṁ kho pana, bhikkhave, gūthaniraye sūcimukhā pāṇā chaviṁ chindanti, chaviṁ chetvā cammaṁ chindanti, cammaṁ chetvā maṁsaṁ chindanti, maṁsaṁ chetvā nhāruṁ chindanti, nhāruṁ chetvā aṭṭhiṁ chindanti, aṭṭhiṁ chetvā aṭṭhimiñjaṁ khādanti. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Immediately adjacent to the Great Hell is the vast Dung Hell. And that’s where they fall. In that Dung Hell there are needle-mouthed creatures that bore through the outer skin, the inner skin, the flesh, sinews, and bones, until they reach the marrow and devour it. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
269. “Này các tỳ khưu, ngay bên cạnh đại địa ngục ấy là địa ngục phân uế rộng lớn. Người ấy rơi vào đó. Này các tỳ khưu, trong địa ngục phân uế ấy, có các loài sinh vật miệng nhọn như kim cắt lớp da mỏng, sau khi cắt lớp da mỏng chúng cắt lớp da dày, sau khi cắt lớp da dày chúng cắt thịt, sau khi cắt thịt chúng cắt gân, sau khi cắt gân chúng cắt xương, sau khi cắt xương chúng ăn tủy xương. Người ấy ở đó cảm nhận những cảm thọ đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết.”
Tassa kho pana, bhikkhave, gūthanirayassa samanantarā sahitameva mahanto kukkulanirayo. So tattha patati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Immediately adjacent to the Dung Hell is the vast Hell of Burning Chaff. And that’s where they fall. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
“Này các tỳ khưu, ngay bên cạnh địa ngục phân uế ấy là địa ngục tro nóng rộng lớn. Người ấy rơi vào đó. Người ấy ở đó cảm nhận những cảm thọ đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết.”
Tassa kho pana, bhikkhave, kukkulanirayassa samanantarā sahitameva mahantaṁ simbalivanaṁ uddhaṁ yojanamuggataṁ soḷasaṅgulakaṇṭakaṁ ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ. Tattha āropentipi oropentipi. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Immediately adjacent to the Hell of Burning Chaff is the vast Red Silk-Cotton Forest. It’s a league high, full of sixteen-inch thorns, burning, blazing, and glowing. And there they make them climb up and down. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
“Này các tỳ khưu, ngay bên cạnh địa ngục tro nóng ấy là khu rừng gòn rộng lớn, cao một do tuần, gai dài mười sáu ngón tay, rực cháy, bốc lửa, tỏa khói. Ở đó, họ bắt (người ấy) leo lên rồi lại leo xuống. Người ấy ở đó cảm nhận những cảm thọ đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết.”
Tassa kho pana, bhikkhave, simbalivanassa samanantarā sahitameva mahantaṁ asipattavanaṁ. So tattha pavisati. Tassa vāteritāni pattāni patitāni hatthampi chindanti, pādampi chindanti, hatthapādampi chindanti, kaṇṇampi chindanti, nāsampi chindanti, kaṇṇanāsampi chindanti. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Immediately adjacent to the Red Silk-Cotton Forest is the vast Sword-Leaf Forest. They enter that. There the fallen leaves blown by the wind cut their hands, feet, both hands and feet; they cut their ears, nose, both ears and nose. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
“Này các tỳ khưu, ngay bên cạnh khu rừng gòn ấy là khu rừng lá kiếm rộng lớn. Người ấy đi vào đó. Những chiếc lá của nó bị gió thổi, rơi xuống, cắt đứt tay, cắt đứt chân, cắt đứt cả tay lẫn chân, cắt đứt tai, cắt đứt mũi, cắt đứt cả tai lẫn mũi của người ấy. Người ấy ở đó cảm nhận những cảm thọ đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết.”
Tassa kho pana, bhikkhave, asipattavanassa samanantarā sahitameva mahatī khārodakā nadī. So tattha patati. So tattha anusotampi vuyhati, paṭisotampi vuyhati, anusotapaṭisotampi vuyhati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Immediately adjacent to the Sword-Leaf Forest is the vast Acid River. And that’s where they fall. There they are swept upstream, swept downstream, and swept both up and down stream. And there they suffer painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
“Này các tỳ khưu, ngay bên cạnh khu rừng lá kiếm ấy là con sông nước kiềm rộng lớn. Người ấy rơi vào đó. Ở đó, người ấy bị cuốn trôi xuôi dòng, rồi bị cuốn trôi ngược dòng, rồi bị cuốn trôi cả xuôi lẫn ngược dòng. Người ấy ở đó cảm nhận những cảm thọ đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết.”
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā balisena uddharitvā thale patiṭṭhāpetvā evamāhaṁsu: ‘ambho purisa, kiṁ icchasī’ti?
So evamāha: ‘jighacchitosmi, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā tattena ayosaṅkunā mukhaṁ vivaritvā ādittena sampajjalitena sajotibhūtena tattaṁ lohaguḷaṁ mukhe pakkhipanti ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ. So tassa oṭṭhampi dahati, mukhampi dahati, kaṇṭhampi dahati, urampi dahati, antampi antaguṇampi ādāya adhobhāgā nikkhamati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
The wardens of hell pull them out with a hook and place them on solid ground, and say, ‘My man, what do you want?’
They say, ‘I’m hungry, sir.’
The wardens of hell force open their mouth with a hot iron spike—burning, blazing, and glowing—and shove in a red-hot copper ball, burning, blazing, and glowing. It burns their lips, mouth, tongue, throat, and stomach before coming out below dragging their entrails. And there they feel painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
270. “Này các tỳ khưu, các lính canh địa ngục dùng móc câu kéo người ấy lên, đặt trên đất liền rồi hỏi rằng: ‘Này người kia, ngươi muốn gì?’ Người ấy nói rằng: ‘Thưa ngài, tôi đói.’ Này các tỳ khưu, các lính canh địa ngục dùng kẹp sắt nóng, rực cháy, bốc lửa, tỏa khói để cạy miệng người ấy ra, rồi nhét vào miệng một hòn sắt nóng, rực cháy, bốc lửa, tỏa khói. Hòn sắt ấy đốt cháy môi, đốt cháy miệng, đốt cháy cổ họng, đốt cháy ngực của người ấy, rồi mang theo ruột non và ruột già đi ra ở phần dưới. Người ấy ở đó cảm nhận những cảm thọ đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết.”
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā evamāhaṁsu: ‘ambho purisa, kiṁ icchasī’ti?
So evamāha: ‘pipāsitosmi, bhante’ti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā tattena ayosaṅkunā mukhaṁ vivaritvā ādittena sampajjalitena sajotibhūtena tattaṁ tambalohaṁ mukhe āsiñcanti ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ. Taṁ tassa oṭṭhampi dahati, mukhampi dahati, kaṇṭhampi dahati, urampi dahati, antampi antaguṇampi ādāya adhobhāgā nikkhamati. So tattha dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedeti, na ca tāva kālaṁ karoti, yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhoti.
Tamenaṁ, bhikkhave, nirayapālā puna mahāniraye pakkhipanti.
The wardens of hell say, ‘My man, what do you want?’
They say, ‘I’m thirsty, sir.’
The wardens of hell force open their mouth with a hot iron spike—burning, blazing, and glowing—and pour in molten copper, burning, blazing, and glowing. It burns their lips, mouth, tongue, throat, and stomach before coming out below dragging their entrails. And there they feel painful, sharp, severe, acute feelings—but they don’t die until that bad deed is eliminated.
The wardens of hell toss them back in the Great Hell.
“Này các tỳ khưu, các lính canh địa ngục hỏi người ấy rằng: ‘Này người kia, ngươi muốn gì?’ Người ấy nói rằng: ‘Thưa ngài, tôi khát.’ Này các tỳ khưu, các lính canh địa ngục dùng kẹp sắt nóng, rực cháy, bốc lửa, tỏa khói để cạy miệng người ấy ra, rồi đổ vào miệng thứ đồng nóng chảy, rực cháy, bốc lửa, tỏa khói. Thứ đồng ấy đốt cháy môi, đốt cháy miệng, đốt cháy cổ họng, đốt cháy ngực của người ấy, rồi mang theo ruột non và ruột già đi ra ở phần dưới. Người ấy ở đó cảm nhận những cảm thọ đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng, và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết. Này các tỳ khưu, các lính canh địa ngục lại ném người ấy vào đại địa ngục.”
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, yamassa rañño etadahosi: ‘ye kira, bho, loke pāpakāni akusalāni kammāni karonti te evarūpā vividhā kammakāraṇā karīyanti. Aho vatāhaṁ manussattaṁ labheyyaṁ. Tathāgato ca loke uppajjeyya arahaṁ sammāsambuddho. Tañcāhaṁ bhagavantaṁ payirupāseyyaṁ. So ca me bhagavā dhammaṁ deseyya. Tassa cāhaṁ bhagavato dhammaṁ ājāneyyan’ti.
Taṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, nāññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā sutvā vadāmi, api ca yadeva sāmaṁ ñātaṁ sāmaṁ diṭṭhaṁ sāmaṁ viditaṁ tadevāhaṁ vadāmī”ti.
Once upon a time, King Yama thought: ‘Those who do such bad deeds in the world receive these many different punishments. Oh, I hope I may be reborn as a human being! And that a Realized One—a perfected one, a fully awakened Buddha—arises in the world! And that I may pay homage to the Buddha! Let that Buddha teach me Dhamma, so that I may understand his teaching!’
Now, I don’t say this because I’ve heard it from some other ascetic or brahmin. I only say it because I’ve known, seen, and realized it for myself.”
“Này các tỳ khưu, trong quá khứ, vua Yama đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Này các vị, những ai ở trên đời làm các nghiệp ác, bất thiện thì phải chịu những hình phạt đa dạng như thế này. Ôi, mong sao ta được làm người! Và mong sao một vị Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên đời! Và mong sao ta được hầu cận vị Thế Tôn ấy! Và mong sao vị Thế Tôn ấy thuyết Pháp cho ta! Và mong sao ta hiểu được Pháp của vị Thế Tôn ấy!’ Này các tỳ khưu, điều này Ta nói không phải vì đã nghe từ một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác, mà Ta chỉ nói những gì chính Ta đã biết, chính Ta đã thấy, chính Ta đã liễu tri.”
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
271. Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Coditā devadūtehi, ye pamajjanti māṇavā; Te dīgharattaṁ socanti, hīnakāyūpagā narā.
“When warned by the gods’ messengers, those sons of Manu who are negligent sorrow for a long time when they go to that wretched place.
“Những người được thiên sứ nhắc nhở, mà vẫn sống buông lung, những người ấy tái sanh vào thân hạ liệt, phải sầu muộn trong thời gian dài.”
Ye ca kho devadūtehi, santo sappurisā idha; Coditā nappamajjanti, ariyadhamme kudācanaṁ.
When warned by the gods’ messengers, the good and true persons here never neglect the teaching of the Noble One.
“Còn những bậc thiện nhân, người hiền ở đời này, được thiên sứ nhắc nhở, không bao giờ buông lung trong Thánh pháp.”
Upādāne bhayaṁ disvā, jātimaraṇasambhave; Anupādā vimuccanti, jātimaraṇasaṅkhaye.
Seeing the danger in grasping, the origin of birth and death, the unattached are freed with the ending of birth and death.
“Thấy sự nguy hiểm trong chấp thủ, là nguồn gốc của sanh và tử, các vị ấy giải thoát nhờ không chấp thủ, trong sự đoạn tận của sanh và tử.”
Te khemappattā sukhino, diṭṭhadhammābhinibbutā; Sabbaverabhayātītā, sabbadukkhaṁ upaccagun”ti.
Happy, they’ve come to a safe place, quenched in this very life. They’ve gone beyond all enmities and fears, and risen above all suffering.”
“Họ đã đạt đến an ổn, hưởng lạc, thanh tịnh ngay trong hiện tại; đã vượt qua mọi oán thù, sợ hãi và thoát ly mọi khổ đau.”
Devadūtasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Sứ Giả Của Trời, bài kinh thứ mười, đã kết thúc.
Suññatavaggo niṭṭhito tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Tánh Không, phẩm thứ ba, đã kết thúc.
Dvidhāva suññatā hoti, Abbhutadhammabākulaṁ; Aciravatabhūmijanāmo, Anuruddhupakkilesaṁ; Bālapaṇḍito devadūtañca te dasāti.
Phần tóm lược của phẩm ấy: Hai kinh Tánh Không, Abbhutadhamma và Bākula; Aciravata và Bhūmija, Anuruddha và Upakkilesa; Bālapaṇḍita và Devadūta, đó là mười kinh.