- Majjhima Nikāya 128
Upakkilesasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Upakkilesasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tịnh xá Ghosita (Cu-sư-la).
SC 2Lúc bấy giờ các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Rồi một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 3—Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo ở Kosambi, sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Tốt lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn, đến các Tỷ-kheo ấy.
SC 4Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến liền nói với họ
SC 5—Thôi vừa rồi, các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
SC 6Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn
SC 7—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
SC 8Lần thứ hai, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy
SC 9—Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
SC 10Lần thứ hai, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 11—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
SC 12Lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy
SC 13—Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
SC 14Lần thứ ba, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 15—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm vào hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
SC 16Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát và đi vào Kosambi để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kosambi, ăn xong, trên con đường khi khất thực trở về, sau khi dọn dẹp chỗ nằm, lấy y bát, Ngài đứng và nói bài kệ:
SC 17Giữa quần chúng la ó,
Không ai nghĩ mình ngu,
Giữa Tăng chúng phân ly
Có ai nghĩ hướng thượng?SC 18Thất niệm kẻ trí nói,
Ba hoa trăm thứ chuyện,
Miệng há, nói thả dàn,
Dẫn đi đâu, ai biết?SC 19“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Ai ôm oán niệm ấy,
Hận thù không thể nguôi.SC 20“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Không ôm oán niệm ấy,
Hận thù sẽ tự nguôi.SC 21Hận thù diệt hận thù,
Không đời nào diệt được,
Từ bi diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.SC 22“Người khác không hiểu biết,
Ở đây ta bị diệt”,
Những ai hiểu điều này,
Nhờ vậy, tranh luận tiêu.SC 23Kẻ chủ xướng hại mạng,
Cướp bò, ngựa tài sản,
Kẻ cướp đoạt quốc độ,
Họ còn biết đoàn kết,
Sao các Ông không vậy?SC 24Nếu được bạn hiền trí,
Ðồng hành, khéo an trú,
Ðả thắng mọi hiểm nạn,
Sống hoan hỷ chánh niệm.SC 25Nếu không bạn hiền trí,
Như vua bỏ quốc độ,
Cô độc như voi rừng.
Tốt hơn, sống một mình,
Không bè bạn kẻ ngu,
Cô độc không làm ác,
Nhàn hạ, như voi rừng.
SC 26Rồi Thế Tôn đứng nói lên những câu kệ này, rồi đi đến làng Balakalonakara. Khi ấy, Tôn giả Bhagu sống ở trong làng Balakalonakara. Tôn giả Bhagu thấy Thế Tôn từ xa đi đến, liền sắp đặt chỗ ngồi và nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả Bhagu đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhagu đang ngồi một bên
SC 27—Này Tỷ-kheo, có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực, có khỏi mệt nhọc không?
SC 28—Bạch Thế Tôn, con được an lành. Bạch Thế Tôn, con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
SC 29Rồi Thế Tôn sau khi với thời thuyết pháp khích lệ Tôn giả Bhagu, làm cho hân hoan, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Pacinavamsadaya. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Nandiya (Nan-đề) và Tôn giả Kimbila (Kim-ty—la) trú ở Pacinavamasadaya. Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi đến, khi thấy vậy liền bạch Thế Tôn:
SC 30Này Sa-môn, chớ có vào khu vườn này. Có ba Thiện gia nam tử, rất ái luyến tự ngã (attakamanipa) trú tại đây. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.
SC 31Tôn giả Anuruddha nghe người giữ khu vườn nói chuyện với Thế Tôn, liền nói với người giữ vườn
SC 32—Này Người giữ vườn, chớ có ngăn chặn Thế Tôn! Thế Tôn là bậc Ðạo sư của chúng tôi đã đến.
SC 33Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila và nói
SC 34—Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đã đến.
SC 35Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila ra đón Thế Tôn, một người cầm y bát Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Rồi các Tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi xuống một bên
SC 36—Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?
SC 37—Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành. Bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
SC 38—Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau. Như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?
SC 39—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
SC 40—Này các Anuruddha, như thế nào các Ông sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm?
SC 41—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các đồng Phạm hạnh như vậy! Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.
SC 42Rồi Tôn giả Nandiya … Rồi Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn
SC 43—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng Phạm hạnh như vậy!” Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Bạch Thế Tôn, như vậy chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
SC 44—Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Và này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không?
SC 45—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 46—Này các Anuruddha, như thế nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?
SC 47—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con ai đi vào làng khất thực về trước, người ấy sắp đặt các chỗ ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ đồ dư. Ai đi vào làng khất thực về sau, người ấy, còn đồ ăn để lại, nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thời bỏ vào chỗ không có cỏ xanh hay đổ vào nước không có loài côn trùng. Người ấy xếp dọn lại các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước trống không, người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu làm không nỗi với sức bàn tay của mình, người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai: “Chúng ta hãy lo liệu (nước)”. Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không vì vậy gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả một đêm chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 48—Lành thay, lành thay, này các Anurudda! Này các Anuruddha, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các Ông có chứng được pháp thượng nhân tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, sống thoải mái an lạc không?
SC 49—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, chúng con nhận thấy được hào quang, cũng như sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Chúng con không được hiểu rõ tướng ấy là gì.
SC 50—Này các Anuruddha, tướng ấy các Ông cần phải hiểu rõ. Ta cũng vậy, này các Anuruddha, trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta nhận thấy hào quang và sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì hào quang biến mất đối với Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Nghi hoặc khởi lên nơi Ta. Vì có nghi hoặc nên định của Ta bị biến diệt; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta sẽ phải làm thế nào để nghi hoặc không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 51Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện khởi của các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Không tác ý khởi lên nơi Ta. Vì không có tác ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc và không tác ý không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 52Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Hôn trầm, thụy miên, khởi lên nơi Ta. Vì có hôn trầm, thụy miên nên định của Ta bị biến diệt; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc, không tác ý và hôn trầm, thụy miên không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 53Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp”. Ví như, này các Anuruddha, một người đang đi trên con đường, có kẻ giết người nhảy đến (công kích) từ hai phía. Do nhân duyên từ hai phía, người ấy khởi lên sợ hãi. Cũng vậy, này các Anuruddha, sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên và sự sợ hãi không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 54Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự phấn chấn (ubbilla) khởi lên nơi Ta. Vì có sự phấn chấn, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người đi tìm cửa miệng một kho tàng, và trong một lần tìm được năm cửa miệng kho tàng, do nhân duyên này phấn chấn khởi lên. Cũng vậy, này các Anuruddha, phấn chấn khởi lên nơi Ta. Vì có phấn chấn nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào, để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi và sự phấn chấn không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 55Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Dâm ý (dutthullam) khởi lên nơi Ta. Vì có dâm ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 56Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta, và vì có tinh cần quá độ, nên định lực biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người với hai tay bắt nắm quá chặt một con chim cáy khiến con chim chết liền tại chỗ. Cũng vậy, này các Anuruddha, tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá độ … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, và tinh cần quá độ không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 57Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Tinh cần quá yếu đuối khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá yếu đuối, nên định biến diệt nơi Ta; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người bắt một con chim cáy quá lỏng lẻo, con chim ấy bay khỏi hai tay của người ấy. Cũng vậy, này các Anuruddha, … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, tinh cần quá độ và tinh cần quá yếu đuối không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 58Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Ái dục khởi lên nơi Ta. Vì có ái dục. Với sự hiện khởi các sắc pháp … Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý … tinh cần quá yếu đuối và ái dục không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 59Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta nghĩ như sau: “Sai biệt tưởng khởi lên nơi Ta … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc … ái dục và sai biệt tưởng không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 60Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và Ta nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi sắc pháp. Những hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Một trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp khởi lên nơi Ta … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc. (như trên) … các tưởng sai biệt và trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp không khởi lên nơi Ta nữa”. Rồi này các Anuruddha, sau khi biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ nghi hoặc, phiền não của tâm; sau khi biết được không tác ý là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ không tác ý, phiền não của tâm; sau khi biết được hôn trầm, thụy miên … sau khi biết được sợ hãi … sau khi biết được phấn chấn … sau khi biết được dâm ý … sau khi biết được sự tinh cần quá độ … sau khi biết được sự tinh cần quá yếu đuối … sau khi biết được dục ái … sau khi biết được tưởng sai biệt; sau khi biết được trạng thái quá chú tâm đến sắc pháp là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ trạng thái quá chú trọng vào các sắc pháp, một phiền não của tâm.
SC 61Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang nhưng Ta không thấy các sắc pháp cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Ta thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta chỉ nhận thấy hào quang, nhưng không thấy sắc pháp: cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Ta chỉ thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Trong khi Ta không tác ý sắc tướng, nhưng có tác ý hào quang tướng, trong khi ấy ta nhận thấy hào quang, nhưng không thấy sắc pháp. Còn trong khi Ta không tác ý hào quang tướng, nhưng tác ý sắc tướng; trong khi ấy Ta thấy các sắc pháp, nhưng không nhận thấy hào quang, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.
SC 62Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy được các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và nhận thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Khi nào định có hạn lượng, khi ấy mắt của Ta có hạn lượng; với con mắt có hạn lượng ấy, Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy sắc pháp có hạn lượng. Nhưng khi nào định của Ta không hạn lượng, trong khi ấy mắt của Ta thành vô lượng, và với con mắt vô lượng ấy, Ta nhận thấy hào quang vô lượng và thấy các sắc pháp vô lượng cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.
SC 63Này các Anuruddha, khi nào biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, thời nghi hoặc phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được không tác ý là một phiền não của tâm, thời không tác ý phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được hôn trầm, thụy miên …; khi nào biết được sợ hãi …; khi nào biết được phấn chấn …; khi nào biết được dâm ý …; khi nào biết được tinh cần quá độ …; khi nào biết được sự tinh cần quá yếu đuối …; khi nào biết được dục ái …; khi nào biết được tưởng sai biệt …; khi nào biết được trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp là một phiền não của tâm, thời trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp phiền não của tâm được đoạn trừ. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Những phiền não tâm của Ta đã được đoạn trừ. Nay Ta tu tập ba loại định”.
SC 64Rồi này các Anuruddha, Ta tu tập định có tầm, có tứ; Ta tu tập định không có tầm, chỉ có tứ; Ta tu tập định không tầm, không tứ; Ta tu tập định có hỷ; Ta tu tập định không có hỷ; Ta tu tập định câu hữu với lạc; Ta tu tập định câu hữu với xả.
SC 65Này các Anuruddha, khi nào Ta tu tập định có tầm, có tứ; khi nào Ta tu tập định không tầm, chỉ có tứ; khi nào Ta tu tập định không có tầm, không có tứ; khi nào Ta tu tập định có hỷ; khi nào Ta tu tập định không có hỷ; khi nào Ta tu tập định câu hữu với xả, thời tri kiến khởi lên nơi Ta: “Giải thoát của Ta là bất động, đây là đời sống cuối cùng của Ta, nay không còn hiện hữu”.
SC 66Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Anuruddha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Phiền Não
Tena kho pana samayena kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “idha, bhante, kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti. Sādhu, bhante, bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca: “alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan”ti.
Now at that time the mendicants of Kosambī were fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words.
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and told him what was happening, adding: “Please, sir go to those mendicants out of sympathy.” The Buddha consented with silence.
Then the Buddha went up to those mendicants and said, “Enough, mendicants! Stop fighting, quarreling, and disputing.”
236. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại tu viện Ghosita ở Kosambī. Bấy giờ, tại Kosambī, các vị tỳ khưu sanh ra tranh cãi, sanh ra xung đột, đi đến tranh luận, sống đâm chọc lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng. Rồi một vị tỳ khưu đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị tỳ khưu ấy bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, ở tại Kosambī này, các vị tỳ khưu sanh ra tranh cãi, sanh ra xung đột, đi đến tranh luận, sống đâm chọc lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng. Lành thay, bạch ngài, mong đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà đi đến chỗ các vị tỳ khưu ấy.” Đức Thế Tôn đã im lặng nhận lời. Rồi đức Thế Tôn đi đến chỗ các vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, ngài nói với các vị tỳ khưu ấy rằng: “Thôi vừa rồi, này các tỳ khưu, đừng tranh cãi, đừng xung đột, đừng chống đối, đừng tranh luận.”
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “āgametu, bhante. Bhagavā dhammassāmī; appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu; mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
Dutiyampi kho bhagavā te bhikkhū etadavoca: “alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan”ti. Dutiyampi kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “āgametu, bhante. Bhagavā dhammassāmī; appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu; mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti. Tatiyampi kho bhagavā te bhikkhū etadavoca: “alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan”ti.
Tatiyampi kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “āgametu, bhante. Bhagavā dhammassāmī; appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu; mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Wait, sir! Let the Buddha, the Lord of the Dhamma, remain passive, dwelling in blissful meditation in this life. We will be known for this fighting, quarreling, arguing, and disputing.”
For a second time … and a third time the Buddha said to those mendicants, “Enough, mendicants! Stop fighting, quarreling, and disputing.”
For a third time, that mendicant said to the Buddha, “Wait, sir! Let the Buddha, the Lord of the Dhamma, remain passive, dwelling in blissful meditation in this life. We will be known for this fighting, quarreling, arguing, and disputing.”
Khi được nói như vậy, một vị tỳ khưu bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, xin hãy khoan! Đức Thế Tôn là bậc Pháp chủ. Bạch ngài, mong đức Thế Tôn hãy sống không bận tâm, chuyên chú vào sự an trú hạnh phúc trong hiện tại. Chúng con sẽ được biết đến qua việc tranh cãi này, qua việc xung đột này, qua việc chống đối này, qua việc tranh luận này.” Lần thứ hai, đức Thế Tôn lại nói với các vị tỳ khưu ấy rằng: “Thôi vừa rồi, này các tỳ khưu, đừng tranh cãi, đừng xung đột, đừng chống đối, đừng tranh luận.” Lần thứ hai, vị tỳ khưu ấy lại bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, xin hãy khoan! Đức Thế Tôn là bậc Pháp chủ. Bạch ngài, mong đức Thế Tôn hãy sống không bận tâm, chuyên chú vào sự an trú hạnh phúc trong hiện tại. Chúng con sẽ được biết đến qua việc tranh cãi này, qua việc xung đột này, qua việc chống đối này, qua việc tranh luận này.” Lần thứ ba, đức Thế Tôn lại nói với các vị tỳ khưu ấy rằng: “Thôi vừa rồi, này các tỳ khưu, đừng tranh cãi, đừng xung đột, đừng chống đối, đừng tranh luận.” Lần thứ ba, vị tỳ khưu ấy lại bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Pháp chủ. Bạch ngài, mong đức Thế Tôn hãy sống không bận tâm, chuyên chú vào sự an trú hạnh phúc trong hiện tại. Chúng con sẽ được biết đến qua việc tranh cãi này, qua việc xung đột này, qua việc chống đối này, qua việc tranh luận này.”
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kosambiṁ piṇḍāya pāvisi. Kosambiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya ṭhitakova imā gāthā abhāsi:
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Kosambī for alms. After the meal, on his return from almsround, he set his lodgings in order. Taking his bowl and robe, he recited these verses while standing right there:
Rồi đức Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào thành Kosambī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kosambī, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, ngài dọn dẹp chỗ ở, cầm y bát, và trong khi đang đứng, ngài đã nói lên những câu kệ này:
“Puthusaddo samajano, na bālo koci maññatha; Saṅghasmiṁ bhijjamānasmiṁ, nāññaṁ bhiyyo amaññaruṁ.
“Many voices shout at once, yet no one thinks that they’re the fool. Even as the Saṅgha splits, they think no better of the other.
“Đám đông ồn ào, đồng một ý, không ai nghĩ mình là kẻ ngu; Khi Tăng chúng bị chia rẽ, họ chẳng nghĩ đến điều gì khác hơn.
Parimuṭṭhā paṇḍitābhāsā, vācāgocarabhāṇino; Yāvicchanti mukhāyāmaṁ, yena nītā na taṁ vidū.
Dolts pretending to be astute, they talk, their words out of bounds. They blab at will, their mouths agape, and not one knows what leads them on.
“Những kẻ thất niệm, tự cho là bậc trí, chỉ nói lời trong phạm vi ngôn từ; Họ nói thỏa thích theo ý muốn, họ không biết điều đã dẫn dắt họ.”
Akkocchi maṁ avadhi maṁ, ajini maṁ ahāsi me; Ye ca taṁ upanayhanti, veraṁ tesaṁ na sammati.
‘They abused me, they hit me! They beat me, they robbed me!’ For those bearing such a grudge, hatred is never laid to rest.
“‘Nó đã mắng tôi, nó đã đánh tôi, nó đã thắng tôi, nó đã cướp của tôi.’ Những ai ôm giữ niệm ấy, hận thù của họ không thể nguôi.
Akkocchi maṁ avadhi maṁ, ajini maṁ ahāsi me; Ye ca taṁ nupanayhanti, veraṁ tesūpasammati.
‘They abused me, they hit me! They beat me, they robbed me!’ For those who bear no such grudge, hatred is laid to rest.
“‘Nó đã mắng tôi, nó đã đánh tôi, nó đã thắng tôi, nó đã cướp của tôi.’ Những ai không ôm giữ niệm ấy, hận thù của họ được lắng dịu.
Na hi verena verāni, sammantīdha kudācanaṁ; Averena ca sammanti, esa dhammo sanantano.
For never is hatred laid to rest by hate, it’s laid to rest by love: this is an ancient teaching.
“Vì rằng ở đời này, hận thù không thể diệt bằng hận thù; Chỉ có không hận thù mới diệt được hận thù, đây là định luật ngàn xưa.
Pare ca na vijānanti, mayamettha yamāmase; Ye ca tattha vijānanti, tato sammanti medhagā.
When others do not understand, let us, who do understand this, restrain ourselves in this regard; for that is how conflicts are laid to rest.
“Những người khác không hiểu rằng: ‘Chúng ta sẽ phải chết ở đây.’ Còn những ai hiểu được điều ấy, nhờ đó các cuộc tranh cãi của họ được lắng dịu.
Aṭṭhicchinnā pāṇaharā, gavassadhanahārino; Raṭṭhaṁ vilumpamānānaṁ, tesampi hoti saṅgati; Kasmā tumhākaṁ no siyā.
Breakers of bones and takers of life, thieves of cattle, horses, wealth, those who plunder the nation: even they can come together, so why can’t you?
“Những kẻ chặt xương, cướp mạng sống, đoạt bò, ngựa, tài sản; những kẻ cướp phá vương quốc, ngay cả họ cũng có sự hòa hợp; Tại sao các ngươi lại không thể?”
Sace labhetha nipakaṁ sahāyaṁ, Saddhiṁ caraṁ sādhuvihāri dhīraṁ; Abhibhuyya sabbāni parissayāni, Careyya tenattamano satīmā.
If you find an alert companion, an attentive friend to live happily together, then, overcoming all adversities, wander with them, joyful and mindful.
“Nếu tìm được người bạn đồng hành thận trọng, cùng đi, sống tốt, và kiên định; Hãy vượt qua mọi hiểm nguy, đi cùng người ấy, với tâm hoan hỷ và chánh niệm.”
No ce labhetha nipakaṁ sahāyaṁ, Saddhiṁ caraṁ sādhuvihāri dhīraṁ; Rājāva raṭṭhaṁ vijitaṁ pahāya, Eko care mātaṅgaraññeva nāgo.
If you find no alert companion, no attentive friend to live happily together, then, like a king who flees his conquered realm, wander alone like a tusker in the wilds.
“Nếu không tìm được người bạn đồng hành thận trọng, cùng đi, sống tốt, và kiên định; Như vua từ bỏ vương quốc đã chinh phục, hãy đi một mình, như voi Mātaṅga trong rừng.”
Ekassa caritaṁ seyyo, Natthi bāle sahāyatā; Eko care na ca pāpāni kayirā, Appossukko mātaṅgaraññeva nāgo”ti.
It’s better to wander alone, there’s no fellowship with fools. Wander alone and do no wrong, at ease like a tusker in the wilds.”
“Đi một mình thì tốt hơn, không có tình bạn với kẻ ngu. Hãy đi một mình và không làm điều ác, không bận tâm, như voi Mātaṅga trong rừng.”
Atha kho bhagavā ṭhitakova imā gāthā bhāsitvā yena bālakaloṇakāragāmo tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena āyasmā bhagu bālakaloṇakāragāme viharati. Addasā kho āyasmā bhagu bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna āsanaṁ paññapesi udakañca pādānaṁ dhovanaṁ. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja pāde pakkhālesi. Āyasmāpi kho bhagu bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ bhaguṁ bhagavā etadavoca: “kacci, bhikkhu, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci piṇḍakena na kilamasī”ti?
“Khamanīyaṁ bhagavā, yāpanīyaṁ bhagavā, na cāhaṁ, bhante, piṇḍakena kilamāmī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ bhaguṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā yena pācīnavaṁsadāyo tenupasaṅkami.
After speaking these verses while standing, the Buddha went to the village of the child salt-miners, where Venerable Bhagu was staying at the time. Bhagu saw the Buddha coming off in the distance, so he spread out a seat and placed water for washing the feet. The Buddha sat down on the seat spread out, and washed his feet. Bhagu bowed to the Buddha and sat down to one side.
The Buddha said to him, “I hope you’re keeping well, mendicant, I hope you’re all right. And I hope you’re having no trouble getting almsfood.”
“I’m keeping well, Blessed One, I’m all right. And I’m having no trouble getting almsfood.”
Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired Bhagu with a Dhamma talk, after which he rose from his seat and set out for the Park of the East-Raftered Hall.
238. Rồi đức Thế Tôn, trong khi đang đứng, sau khi nói lên những câu kệ này, đã đi đến làng Bālakaloṇakāra. Bấy giờ, trưởng lão Bhagu đang trú tại làng Bālakaloṇakāra. Trưởng lão Bhagu thấy đức Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy vậy, ngài soạn một chỗ ngồi và nước rửa chân. Đức Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn. Sau khi ngồi, ngài rửa chân. Trưởng lão Bhagu cũng đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với trưởng lão Bhagu đang ngồi một bên rằng: “Này tỳ khưu, thầy có kham nhẫn được không, có sống qua được không, có không mệt nhọc vì việc khất thực không?” “Bạch đức Thế Tôn, con kham nhẫn được, bạch đức Thế Tôn, con sống qua được, và bạch ngài, con không mệt nhọc vì việc khất thực.” Rồi đức Thế Tôn, sau khi chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ trưởng lão Bhagu bằng một bài pháp thoại, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi đến khu rừng Pācīnavaṃsa.
Tena kho pana samayena āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo pācīnavaṁsadāye viharanti. Addasā kho dāyapālo bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna bhagavantaṁ etadavoca: “mā, mahāsamaṇa, etaṁ dāyaṁ pāvisi. Santettha tayo kulaputtā attakāmarūpā viharanti. Mā tesaṁ aphāsumakāsī”ti.
Assosi kho āyasmā anuruddho dāyapālassa bhagavatā saddhiṁ mantayamānassa. Sutvāna dāyapālaṁ etadavoca: “mā, āvuso dāyapāla, bhagavantaṁ vāresi. Satthā no bhagavā anuppatto”ti.
Now at that time the venerables Anuruddha, Nandiya, and Kimbila were staying in the Park of the East-Raftered Hall. The park keeper saw the Buddha coming off in the distance and said to the Buddha, “Don’t come into this park, ascetic. There are three gentlemen staying here whose nature is to desire self-knowledge. Do not disturb them.”
Anuruddha heard the park keeper conversing with the Buddha, and said to him, “Don’t keep the Buddha out, good park keeper! Our Teacher, the Blessed One, has arrived.”
Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila đang trú tại khu rừng Pācinavaṃsa. Người giữ rừng đã nhìn thấy Đức Thế Tôn từ xa đang đi đến. Sau khi thấy, người ấy đã nói với Đức Thế Tôn rằng: 'Thưa Đại Sa-môn, xin ngài đừng vào khu rừng này. Ở đây có ba vị thiện nam tử đang trú ngụ, họ là những người mong cầu lợi ích. Xin ngài đừng làm phiền họ.' Tôn giả Anuruddha đã nghe được lời của người giữ rừng đang nói chuyện với Đức Thế Tôn. Sau khi nghe, ngài đã nói với người giữ rừng rằng: 'Này hiền hữu giữ rừng, đừng ngăn cản Đức Thế Tôn. Bậc Đạo Sư của chúng tôi, Đức Thế Tôn, đã đến.'
Atha kho āyasmā anuruddho yenāyasmā ca nandiyo yenāyasmā ca kimilo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantañca nandiyaṁ āyasmantañca kimilaṁ etadavoca: “abhikkamathāyasmanto, abhikkamathāyasmanto, satthā no bhagavā anuppatto”ti.
Atha kho āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo bhagavantaṁ paccuggantvā eko bhagavato pattacīvaraṁ paṭiggahesi, eko āsanaṁ paññapesi, eko pādodakaṁ upaṭṭhapesi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja pāde pakkhālesi. Tepi kho āyasmanto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ anuruddhaṁ bhagavā etadavoca: “kacci vo, anuruddhā, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci piṇḍakena na kilamathā”ti?
“Khamanīyaṁ bhagavā, yāpanīyaṁ bhagavā, na ca mayaṁ, bhante, piṇḍakena kilamāmā”ti.
“Kacci pana vo, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca, mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca, mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca. Tassa, mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti. So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi. Nānā hi kho no, bhante, kāyā, ekañca pana maññe cittan”ti.
Then Anuruddha went to Nandiya and Kimbila, and said to them, “Come forth, venerables, come forth! Our Teacher, the Blessed One, has arrived!”
Then Anuruddha, Nandiya, and Kimbila came out to greet the Buddha. One received his bowl and robe, one spread out a seat, and one set out water for washing his feet. The Buddha sat down on the seat spread out, and washed his feet. Those venerables bowed and sat down to one side.
The Buddha said to Anuruddha, “I hope you’re keeping well, Anuruddha and friends, I hope you’re all right. And I hope you’re having no trouble getting almsfood.”
“We’re keeping well, Blessed One, we’re getting by. And we have no trouble getting almsfood.”
“I hope you’re living in harmony, appreciating each other, without quarreling, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes?”
“Indeed, sir, we live in harmony as you say.”
“But how do you live this way?”
“In this case, sir, I think: ‘I’m fortunate, so very fortunate, to live together with spiritual companions such as these.’ I consistently treat these venerables with kindness by way of body, speech, and mind, both in public and in private. I think: ‘Why don’t I set aside my own ideas and just go along with these venerables’ ideas?’ And that’s what I do. Though we’re different in body, sir, we’re one in mind, it seems to me.”
239. Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila; sau khi đến, ngài nói với Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila rằng: 'Này các Tôn giả, hãy đi ra, này các Tôn giả, hãy đi ra. Bậc Đạo Sư của chúng ta, Đức Thế Tôn, đã đến.' Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila đã đi ra đón Đức Thế Tôn. Một vị nhận lấy y bát của Đức Thế Tôn, một vị trải chỗ ngồi, một vị đặt nước rửa chân. Đức Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được trải. Sau khi ngồi, ngài rửa chân. Các Tôn giả ấy cũng đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Tôn giả Anuruddha đang ngồi một bên, Đức Thế Tôn đã nói với ngài rằng: 'Này các Anuruddha, các con có kham nhẫn được không, có sống được không, có không mệt nhọc vì việc khất thực không?' 'Bạch Đức Thế Tôn, chúng con kham nhẫn được. Bạch Đức Thế Tôn, chúng con sống được. Và bạch Thế Tôn, chúng con không mệt nhọc vì việc khất thực.' 'Này các Anuruddha, các con có sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với ánh mắt thương yêu không?' 'Bạch Thế Tôn, chắc chắn chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với ánh mắt thương yêu.' 'Này các Anuruddha, làm thế nào mà các con sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với ánh mắt thương yêu?' 'Bạch Thế Tôn, ở đây, con có suy nghĩ như sau: 'Thật là lợi ích cho ta, thật là may mắn cho ta khi được sống chung với các vị đồng phạm hạnh như thế này!' Bạch Thế Tôn, đối với các Tôn giả này, thân nghiệp từ của con được thể hiện cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, khẩu nghiệp từ của con được thể hiện cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, ý nghiệp từ của con được thể hiện cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như sau: 'Chắc chắn ta nên gác lại tâm của mình và sống theo tâm của các Tôn giả này.' Và bạch Thế Tôn, con đã gác lại tâm của mình và sống theo tâm của các Tôn giả này. Bạch Thế Tôn, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một.'
Āyasmāpi kho nandiyo …pe… āyasmāpi kho kimilo bhagavantaṁ etadavoca: “mayhampi kho, bhante, evaṁ hoti: ‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca, mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca, mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti. So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi. Nānā hi kho no, bhante, kāyā, ekañca pana maññe cittanti. Evaṁ kho mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
And the venerables Nandiya and Kimbila spoke likewise, and they added: “That’s how we live in harmony, appreciating each other, without dispute, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes.”
Tôn giả Nandiya cũng vậy... Tôn giả Kimila cũng vậy, đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: 'Bạch Thế Tôn, con cũng có suy nghĩ như sau: 'Thật là lợi ích cho ta, thật là may mắn cho ta khi được sống chung với các vị đồng phạm hạnh như thế này!' Bạch Thế Tôn, đối với các Tôn giả này, thân nghiệp từ của con được thể hiện cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, khẩu nghiệp từ của con được thể hiện cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, ý nghiệp từ của con được thể hiện cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như sau: 'Chắc chắn ta nên gác lại tâm của mình và sống theo tâm của các Tôn giả này.' Và bạch Thế Tôn, con đã gác lại tâm của mình và sống theo tâm của các Tôn giả này. Bạch Thế Tôn, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một. Bạch Thế Tôn, chính là như vậy mà chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với ánh mắt thương yêu.'
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Kacci pana vo, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Idha, bhante, amhākaṁ yo paṭhamaṁ gāmato piṇḍāya paṭikkamati, so āsanāni paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, avakkārapātiṁ upaṭṭhāpeti. Yo pacchā gāmato piṇḍāya paṭikkamati—sace hoti bhuttāvaseso, sace ākaṅkhati, bhuñjati; no ce ākaṅkhati, appaharite vā chaḍḍeti apāṇake vā udake opilāpeti—so āsanāni paṭisāmeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ paṭisāmeti, avakkārapātiṁ dhovitvā paṭisāmeti, bhattaggaṁ sammajjati. Yo passati pānīyaghaṭaṁ vā paribhojanīyaghaṭaṁ vā vaccaghaṭaṁ vā rittaṁ tucchaṁ so upaṭṭhāpeti. Sacassa hoti avisayhaṁ, hatthavikārena dutiyaṁ āmantetvā hatthavilaṅghakena upaṭṭhāpema, na tveva mayaṁ, bhante, tappaccayā vācaṁ bhindāma. Pañcāhikaṁ kho pana mayaṁ, bhante, sabbarattiṁ dhammiyā kathāya sannisīdāma. Evaṁ kho mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“Good, good, Anuruddha and friends! But I hope you’re living diligently, keen, and resolute?”
“Indeed, sir, we live diligently.”
“But how do you live this way?”
“In this case, sir, whoever returns first from almsround prepares the seats, and puts out the drinking water and the rubbish bin. If there’s remainder, whoever returns last eats it if they like. Otherwise they throw it out where there is little that grows, or drop it into water that has no living creatures. Then they put away the seats, drinking water, and rubbish bin, and sweep the refectory. If someone sees that the pot of water for washing, drinking, or the toilet is empty they set it up. If he can’t do it, he summons another with a wave of the hand, and they set it up by lending each other a hand to lift. But we don’t break into speech for that reason. And every five days we sit together for the whole night and discuss the teachings. That’s how we live diligently, keen, and resolute.”
240. “Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, có phải các ngươi sống không buông lung, nhiệt tâm, tinh cần chăng?” – “Bạch Thế Tôn, quả thật chúng con sống không buông lung, nhiệt tâm, tinh cần.” – “Này các Anuruddha, các ngươi đã sống không buông lung, nhiệt tâm, tinh cần như thế nào?” – “Bạch Thế Tôn, ở đây, trong chúng con, vị nào đi khất thực từ làng về trước, vị ấy dọn dẹp chỗ ngồi, chuẩn bị nước uống, nước dùng, chuẩn bị đồ đựng vật thừa. Vị nào đi khất thực từ làng về sau, nếu có thức ăn còn thừa, nếu muốn thì dùng; nếu không muốn thì đổ bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc nhận chìm trong nước không có chúng sanh. Vị ấy dọn dẹp chỗ ngồi, cất dọn nước uống, nước dùng, rửa sạch và cất dọn đồ đựng vật thừa, quét dọn nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, lu nước dùng, hoặc lu nước trong nhà vệ sinh trống không, vị ấy sẽ đổ đầy. Nếu việc ấy ngoài sức của vị ấy, vị ấy ra hiệu bằng tay gọi người thứ hai, rồi cùng nhau khiêng đặt. Bạch Thế Tôn, chúng con không vì lý do ấy mà nói ra lời nào. Bạch Thế Tôn, cứ mỗi năm ngày, chúng con lại ngồi lại với nhau suốt đêm để đàm luận về Pháp. Bạch Thế Tôn, quả thật chúng con đã sống không buông lung, nhiệt tâm, tinh cần như vậy.”
“Sādhu sādhu, anuruddhā. Atthi pana vo, anuruddhā, evaṁ appamattānaṁ ātāpīnaṁ pahitattānaṁ viharataṁ uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Idha mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharantā obhāsañceva sañjānāma dassanañca rūpānaṁ. So kho pana no obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ; tañca nimittaṁ nappaṭivijjhāmā”ti.
“Good, good, Anuruddha and friends! But as you live diligently like this, have you achieved any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, a comfortable meditation?”
“Well, sir, while meditating diligent, keen, and resolute, we perceive both light and vision of forms. But before long the light and the vision of forms vanish. We haven’t worked out the basis of that.”
241. “Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, khi các ngươi sống không buông lung, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, có chứng được pháp thượng nhân nào, tri kiến thù thắng của bậc Thánh, và sự an trú thoải mái không?” – “Bạch Thế Tôn, ở đây, khi chúng con sống không buông lung, nhiệt tâm, tinh cần, chúng con nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Thế nhưng, bạch Thế Tôn, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của chúng con chẳng bao lâu liền biến mất; và chúng con không thông hiểu được tướng ấy.”
“Taṁ kho pana vo, anuruddhā, nimittaṁ paṭivijjhitabbaṁ. Ahampi sudaṁ, anuruddhā, pubbeva sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno obhāsañceva sañjānāmi dassanañca rūpānaṁ. So kho pana me obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘ko nu kho hetu ko paccayo yena me obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānan’ti? Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘vicikicchā kho me udapādi, vicikicchādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissatī’ti.
“Well, you should work out the basis of that. Before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I too perceived light and vision of forms. But before long my light and vision of forms vanished. It occurred to me: ‘What’s the cause, what’s the reason why my light and vision of forms vanish?’ It occurred to me: ‘Doubt arose in me, and because of that my immersion fell away. When immersion falls away, the light and vision of forms vanish. I’ll make sure that doubt will not arise in me again.’
“Này các Anuruddha, các ngươi phải thông hiểu tướng ấy. Này các Anuruddha, xưa kia, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng ngộ hoàn toàn, còn là Bồ-tát, Ta cũng nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Thế nhưng, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của Ta chẳng bao lâu liền biến mất. Này các Anuruddha, Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Do nhân nào, do duyên nào mà ánh sáng và sự thấy các sắc của ta biến mất?’ Này các Anuruddha, Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Nghi hoặc đã khởi lên trong ta. Và do vì có nghi hoặc, định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ làm thế nào để nghi hoặc không khởi lên trong ta nữa.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto obhāsañceva sañjānāmi dassanañca rūpānaṁ. So kho pana me obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘ko nu kho hetu ko paccayo yena me obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānan’ti? Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘amanasikāro kho me udapādi, amanasikārādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro’ti.
While meditating diligent, keen, and resolute, I perceived light and vision of forms. But before long my light and vision of forms vanished. It occurred to me: ‘What’s the cause, what’s the reason why my light and vision of forms vanish?’ It occurred to me: ‘Loss of focus arose in me, and because of that my immersion fell away. When immersion falls away, the light and vision of forms vanish. I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, khi Ta sống không buông lung, nhiệt tâm, tinh cần, Ta nhận biết được ánh sáng và thấy được các sắc. Thế nhưng, ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của Ta chẳng bao lâu liền biến mất. Này các Anuruddha, Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Do nhân nào, do duyên nào mà ánh sáng và sự thấy các sắc của ta biến mất?’ Này các Anuruddha, Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Sự không tác ý đã khởi lên trong ta. Và do vì có sự không tác ý, định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ làm thế nào để nghi hoặc không khởi lên trong ta nữa, và sự không tác ý cũng không khởi lên.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe… tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘thinamiddhaṁ kho me udapādi, thinamiddhādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhan’ti.
While meditating … ‘Dullness and drowsiness arose in me … I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus nor dullness and drowsiness will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, Ta... Này các Anuruddha, Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Sự hôn trầm và thụy miên đã khởi lên trong ta. Và do vì có sự hôn trầm và thụy miên, định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ làm thế nào để nghi hoặc, sự không tác ý, và sự hôn trầm thụy miên sẽ không khởi lên trong ta nữa.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe… tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘chambhitattaṁ kho me udapādi, chambhitattādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Seyyathāpi, anuruddhā, puriso addhānamaggappaṭipanno, tassa ubhatopasse vaṭṭakā uppateyyuṁ, tassa tatonidānaṁ chambhitattaṁ uppajjeyya; evameva kho me, anuruddhā, chambhitattaṁ udapādi, chambhitattādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattan’ti.
While meditating … ‘Terror arose in me, and because of that my immersion fell away. When immersion falls away, the light and vision of forms vanish. Suppose a person was traveling along a road, and killers were to spring out at them from both sides. They’d feel terrified because of that. In the same way, terror arose in me … I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus nor dullness and drowsiness nor terror will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, Ta... Này các Anuruddha, Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Sự kinh sợ đã khởi lên trong ta. Và do vì có sự kinh sợ, định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Này các Anuruddha, ví như một người đi trên con đường dài, có những con chim cút bay vụt lên từ hai bên, do nhân duyên ấy mà người ấy khởi lên sự kinh sợ; cũng vậy, này các Anuruddha, sự kinh sợ đã khởi lên trong ta. Và do vì có sự kinh sợ, định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ làm thế nào để nghi hoặc, sự không tác ý, sự hôn trầm thụy miên, và sự kinh sợ sẽ không khởi lên trong ta nữa.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe… tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘uppilaṁ kho me udapādi, uppilādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Seyyathāpi, anuruddhā, puriso ekaṁ nidhimukhaṁ gavesanto sakideva pañcanidhimukhāni adhigaccheyya, tassa tatonidānaṁ uppilaṁ uppajjeyya; evameva kho me, anuruddhā, uppilaṁ udapādi, uppilādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilan’ti.
While meditating … ‘Elation arose in me, and because of that my immersion fell away. When immersion falls away, the light and vision of forms vanish. Suppose a person was looking for the entrance to a treasure trove. And all at once they’d come across five entrances! They’d feel excited because of that. In the same way, elation arose in me … I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus nor dullness and drowsiness nor terror nor elation will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, khi ấy ta... Này các Anuruddha, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Sự hưng phấn đã khởi lên nơi ta, và chính vì sự hưng phấn ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Này các Anuruddha, ví như có người đi tìm một miệng kho báu, rồi bất ngờ tìm thấy được năm miệng kho báu, do nhân duyên ấy mà sự hưng phấn khởi lên nơi người ấy; cũng vậy, này các Anuruddha, sự hưng phấn đã khởi lên nơi ta, và chính vì sự hưng phấn ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ thực hành theo cách để trong tương lai sự hoài nghi không khởi lên, sự không tác ý không khởi lên, sự hôn trầm thụy miên không khởi lên, sự sợ hãi không khởi lên, sự hưng phấn không khởi lên.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe… tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘duṭṭhullaṁ kho me udapādi, duṭṭhullādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullan’ti.
While meditating … ‘Discomfort arose in me … I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus nor dullness and drowsiness nor terror nor elation nor discomfort will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, khi ấy ta... Này các Anuruddha, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Sự thô trược đã khởi lên nơi ta, và chính vì sự thô trược ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ thực hành theo cách để trong tương lai sự hoài nghi không khởi lên, sự không tác ý không khởi lên, sự hôn trầm thụy miên không khởi lên, sự sợ hãi không khởi lên, sự hưng phấn không khởi lên, sự thô trược không khởi lên.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe… tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘accāraddhavīriyaṁ kho me udapādi, accāraddhavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Seyyathāpi, anuruddhā, puriso ubhohi hatthehi vaṭṭakaṁ gāḷhaṁ gaṇheyya, so tattheva patameyya; evameva kho me, anuruddhā, accāraddhavīriyaṁ udapādi, accāraddhavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyan’ti.
While meditating … ‘Excessive energy arose in me, and because of that my immersion fell away. When immersion falls away, the light and vision of forms vanish. Suppose a person was to grip a quail too tightly in their hands—it would die right there. I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus nor dullness and drowsiness nor terror nor elation nor discomfort nor excessive energy will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, khi ấy ta... Này các Anuruddha, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Tinh tấn quá mức đã khởi lên nơi ta, và chính vì sự tinh tấn quá mức ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Này các Anuruddha, ví như có người dùng cả hai tay nắm chặt một con chim cút, nó sẽ chết ngay tại đấy; cũng vậy, này các Anuruddha, tinh tấn quá mức đã khởi lên nơi ta, và chính vì sự tinh tấn quá mức ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ thực hành theo cách để trong tương lai sự hoài nghi không khởi lên, sự không tác ý không khởi lên, sự hôn trầm thụy miên không khởi lên, sự sợ hãi không khởi lên, sự hưng phấn không khởi lên, sự thô trược không khởi lên, sự tinh tấn quá mức không khởi lên.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe… tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘atilīnavīriyaṁ kho me udapādi, atilīnavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Seyyathāpi, anuruddhā, puriso vaṭṭakaṁ sithilaṁ gaṇheyya, so tassa hatthato uppateyya; evameva kho me, anuruddhā, atilīnavīriyaṁ udapādi, atilīnavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyan’ti.
While meditating … ‘Overly lax energy arose in me, and because of that my immersion fell away. When immersion falls away, the light and vision of forms vanish. Suppose a person was to grip a quail too loosely—it would fly out of their hands. I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus nor dullness and drowsiness nor terror nor elation nor discomfort nor excessive energy nor overly lax energy will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, khi ấy ta... Này các Anuruddha, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Tinh tấn quá thụ động đã khởi lên nơi ta, và chính vì sự tinh tấn quá thụ động ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Này các Anuruddha, ví như có người nắm lỏng một con chim cút, nó sẽ bay thoát khỏi tay người ấy; cũng vậy, này các Anuruddha, tinh tấn quá thụ động đã khởi lên nơi ta, và chính vì sự tinh tấn quá thụ động ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ thực hành theo cách để trong tương lai sự hoài nghi không khởi lên, sự không tác ý không khởi lên, sự hôn trầm thụy miên không khởi lên, sự sợ hãi không khởi lên, sự hưng phấn không khởi lên, sự thô trược không khởi lên, sự tinh tấn quá mức không khởi lên, sự tinh tấn quá thụ động không khởi lên.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe… tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘abhijappā kho me udapādi, abhijappādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyaṁ, na abhijappā’ti.
While meditating … ‘Longing arose in me … I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus nor dullness and drowsiness nor terror nor elation nor discomfort nor excessive energy nor overly lax energy nor longing will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, khi ấy ta... Này các Anuruddha, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Sự khao khát đã khởi lên nơi ta, và chính vì sự khao khát ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ thực hành theo cách để trong tương lai sự hoài nghi không khởi lên, sự không tác ý không khởi lên, sự hôn trầm thụy miên không khởi lên, sự sợ hãi không khởi lên, sự hưng phấn không khởi lên, sự thô trược không khởi lên, sự tinh tấn quá mức không khởi lên, sự tinh tấn quá thụ động không khởi lên, sự khao khát không khởi lên.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe… tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘nānattasaññā kho me udapādi, nānattasaññādhikaraṇañca pana me samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyaṁ, na abhijappā, na nānattasaññā’ti.
While meditating … ‘Perceptions of diversity arose in me … I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus nor dullness and drowsiness nor terror nor elation nor discomfort nor excessive energy nor overly lax energy nor longing nor perception of diversity will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, khi ấy ta... Này các Anuruddha, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Tưởng về sự đa dạng đã khởi lên nơi ta, và chính vì tưởng về sự đa dạng ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ thực hành theo cách để trong tương lai sự hoài nghi không khởi lên, sự không tác ý không khởi lên, sự hôn trầm thụy miên không khởi lên, sự sợ hãi không khởi lên, sự hưng phấn không khởi lên, sự thô trược không khởi lên, sự tinh tấn quá mức không khởi lên, sự tinh tấn quá thụ động không khởi lên, sự khao khát không khởi lên, tưởng về sự đa dạng không khởi lên.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto obhāsañceva sañjānāmi dassanañca rūpānaṁ. So kho pana me obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Tassa mayhaṁ anuruddhā etadahosi: ‘ko nu kho hetu ko paccayo yena me obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānan’ti. Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘atinijjhāyitattaṁ kho me rūpānaṁ udapādi, atinijjhāyitattādhikaraṇañca pana me rūpānaṁ samādhi cavi. Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ. Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyaṁ, na abhijappā, na nānattasaññā, na atinijjhāyitattaṁ rūpānan’ti.
While meditating diligent, keen, and resolute, I perceived light and vision of forms. But before long my light and vision of forms vanished. It occurred to me: ‘What’s the cause, what’s the reason why my light and vision of forms vanish?’ It occurred to me: ‘Excessive concentration on forms arose in me, and because of that my immersion fell away. When immersion falls away, the light and vision of forms vanish. I’ll make sure that neither doubt nor loss of focus nor dullness and drowsiness nor terror nor elation nor discomfort nor excessive energy nor overly lax energy nor longing nor perception of diversity nor excessive concentration on forms will arise in me again.’
“Này các Anuruddha, khi ta sống không lơ là, nhiệt tâm, quyết chí, ta nhận biết được ánh sáng và sự thấy các sắc. Nhưng ánh sáng ấy và sự thấy các sắc ấy của ta chẳng bao lâu lại biến mất. Này các Anuruddha, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Đâu là nhân, đâu là duyên khiến cho ánh sáng và sự thấy các sắc của ta biến mất?’ Này các Anuruddha, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Sự chú tâm quá mức vào các sắc đã khởi lên nơi ta, và chính vì sự chú tâm quá mức vào các sắc ấy mà định của ta bị dao động. Khi định bị dao động, ánh sáng biến mất và sự thấy các sắc cũng biến mất. Ta sẽ thực hành theo cách để trong tương lai sự hoài nghi không khởi lên, sự không tác ý không khởi lên, sự hôn trầm thụy miên không khởi lên, sự sợ hãi không khởi lên, sự hưng phấn không khởi lên, sự thô trược không khởi lên, sự tinh tấn quá mức không khởi lên, sự tinh tấn quá thụ động không khởi lên, sự khao khát không khởi lên, tưởng về sự đa dạng không khởi lên, sự chú tâm quá mức vào các sắc không khởi lên.’”
So kho ahaṁ, anuruddhā, ‘vicikicchā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā vicikicchaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘amanasikāro cittassa upakkileso’ti—iti viditvā amanasikāraṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘thinamiddhaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā thinamiddhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘chambhitattaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā chambhitattaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘uppilaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā uppilaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘duṭṭhullaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā duṭṭhullaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘atilīnavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atilīnavīriyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘abhijappā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijappaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘nānattasaññā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā nānattasaññaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ, ‘atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ.
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto obhāsañhi kho sañjānāmi, na ca rūpāni passāmi; rūpāni hi kho passāmi, na ca obhāsaṁ sañjānāmi: ‘kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivaṁ’. Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
When I understood that doubt is a corruption of the mind, I gave it up. When I understood that loss of focus, dullness and drowsiness, terror, elation, discomfort, excessive energy, overly lax energy, longing, perception of diversity, and excessive concentration on forms are corruptions of the mind, I gave them up.
While meditating diligent, keen, and resolute, I perceived light but did not see forms, or I saw forms, but did not see light. And this went on for a whole night, a whole day, even a whole night and day. I thought:
242. Này các Anuruddha, Ta, sau khi đã biết rằng: ‘Hoài nghi là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ hoài nghi là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Không tác ý là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ không tác ý là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Hôn trầm thụy miên là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ hôn trầm thụy miên là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Sự kinh hãi là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ sự kinh hãi là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Sự hưng phấn là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ sự hưng phấn là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Sự thô trược là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ sự thô trược là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Tinh tấn quá mức là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ tinh tấn quá mức là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Tinh tấn quá thụ động là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ tinh tấn quá thụ động là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Sự khao khát là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ sự khao khát là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Tưởng sai khác là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ tưởng sai khác là sự ô nhiễm của tâm. Sau khi đã biết rằng: ‘Sự quá chú tâm đến các sắc là sự ô nhiễm của tâm,’ đã từ bỏ sự quá chú tâm đến các sắc là sự ô nhiễm của tâm.
243. Này các Anuruddha, Ta, trong khi trú không lơ là, nhiệt tâm, với tâm đã được hướng đến, chỉ nhận biết ánh sáng chứ không thấy các sắc; và chỉ thấy các sắc chứ không nhận biết ánh sáng – suốt cả đêm, suốt cả ngày, suốt cả ngày lẫn đêm. Này các Anuruddha, ý nghĩ này đã khởi lên nơi Ta: ‘Do nhân gì, do duyên gì mà Ta chỉ nhận biết ánh sáng chứ không thấy các sắc; và chỉ thấy các sắc chứ không nhận biết ánh sáng – suốt cả đêm, suốt cả ngày, suốt cả ngày lẫn đêm?’ Này các Anuruddha, ý nghĩ này đã khởi lên nơi Ta: ‘Vào lúc Ta không tác ý đến sắc tướng mà tác ý đến quang tướng, vào lúc ấy Ta chỉ nhận biết ánh sáng chứ không thấy các sắc. Và vào lúc Ta không tác ý đến quang tướng mà tác ý đến sắc tướng, vào lúc ấy Ta chỉ thấy các sắc chứ không nhận biết ánh sáng – suốt cả đêm, suốt cả ngày, suốt cả ngày lẫn đêm.’
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto parittañceva obhāsaṁ sañjānāmi, parittāni ca rūpāni passāmi; appamāṇañceva obhāsaṁ sañjānāmi, appamāṇāni ca rūpāni passāmi: ‘kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivaṁ’. Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘ko nu kho hetu ko paccayo yvāhaṁ parittañceva obhāsaṁ sañjānāmi, parittāni ca rūpāni passāmi; appamāṇañceva obhāsaṁ sañjānāmi, appamāṇāni ca rūpāni passāmi—kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti. Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘yasmiṁ kho me samaye paritto samādhi hoti, parittaṁ me tasmiṁ samaye cakkhu hoti. Sohaṁ parittena cakkhunā parittañceva obhāsaṁ sañjānāmi, parittāni ca rūpāni passāmi. Yasmiṁ pana me samaye appamāṇo samādhi hoti, appamāṇaṁ me tasmiṁ samaye cakkhu hoti. Sohaṁ appamāṇena cakkhunā appamāṇañceva obhāsaṁ sañjānāmi, appamāṇāni ca rūpāni passāmi—kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti.
While meditating diligent, keen, and resolute, I perceived limited light and saw limited forms, or I perceived limitless light and saw limitless forms. And this went on for a whole night, a whole day, even a whole night and day. I thought: ‘What is the cause, what is the reason for this?’ It occurred to me: ‘When my immersion is limited, then my vision is limited, and with limited vision I perceive limited light and see limited forms. But when my immersion is limitless, then my vision is limitless, and with limitless vision I perceive limitless light and see limitless forms. And this goes on for a whole night, a whole day, even a whole night and day.’
Này các Anuruddha, Ta, trong khi trú không lơ là, nhiệt tâm, với tâm đã được hướng đến, đã nhận biết ánh sáng có giới hạn và thấy các sắc có giới hạn; đã nhận biết ánh sáng vô lượng và thấy các sắc vô lượng – suốt cả đêm, suốt cả ngày, suốt cả ngày lẫn đêm. Này các Anuruddha, ý nghĩ này đã khởi lên nơi Ta: ‘Do nhân gì, do duyên gì mà Ta đã nhận biết ánh sáng có giới hạn và thấy các sắc có giới hạn; đã nhận biết ánh sáng vô lượng và thấy các sắc vô lượng – suốt cả đêm, suốt cả ngày, suốt cả ngày lẫn đêm?’ Này các Anuruddha, ý nghĩ này đã khởi lên nơi Ta: ‘Vào lúc định của Ta có giới hạn, vào lúc ấy nhãn của Ta có giới hạn. Với nhãn có giới hạn ấy, Ta đã nhận biết ánh sáng có giới hạn và thấy các sắc có giới hạn. Và vào lúc định của Ta là vô lượng, vào lúc ấy nhãn của Ta là vô lượng. Với nhãn vô lượng ấy, Ta đã nhận biết ánh sáng vô lượng và thấy các sắc vô lượng – suốt cả đêm, suốt cả ngày, suốt cả ngày lẫn đêm.’
Yato kho me, anuruddhā, ‘vicikicchā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā vicikicchā cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘amanasikāro cittassa upakkileso’ti—iti viditvā amanasikāro cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘thinamiddhaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā thinamiddhaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘chambhitattaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā chambhitattaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘uppilaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā uppilaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘duṭṭhullaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā duṭṭhullaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘atilīnavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atilīnavīriyaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘abhijappā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijappā cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘nānattasaññā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā nānattasaññā cittassa upakkileso pahīno ahosi, ‘atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi.
After understanding that doubt, loss of focus, dullness and drowsiness, terror, excitement, discomfort, excessive energy, overly lax energy, longing, perception of diversity, and excessive concentration on forms are corruptions of the mind, I had given them up.
244. Này các Anuruddha, khi nào Ta, sau khi đã biết rằng: ‘Hoài nghi là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là hoài nghi đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Không tác ý là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là không tác ý đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Hôn trầm thụy miên là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là hôn trầm thụy miên đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Sự kinh hãi là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là sự kinh hãi đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Sự hưng phấn là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là sự hưng phấn đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Sự thô trược là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là sự thô trược đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Tinh tấn quá mức là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là tinh tấn quá mức đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Tinh tấn quá thụ động là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là tinh tấn quá thụ động đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Sự khao khát là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là sự khao khát đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Tưởng sai khác là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là tưởng sai khác đã được đoạn trừ; sau khi đã biết rằng: ‘Sự quá chú tâm đến các sắc là sự ô nhiễm của tâm,’ sự ô nhiễm của tâm là sự quá chú tâm đến các sắc đã được đoạn trừ.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi: ‘ye kho me cittassa upakkilesā te me pahīnā. Handa dānāhaṁ tividhena samādhiṁ bhāvemī’ti. So kho ahaṁ, anuruddhā, savitakkampi savicāraṁ samādhiṁ bhāvesiṁ, avitakkampi vicāramattaṁ samādhiṁ bhāvesiṁ, avitakkampi avicāraṁ samādhiṁ bhāvesiṁ, sappītikampi samādhiṁ bhāvesiṁ, nippītikampi samādhiṁ bhāvesiṁ, sātasahagatampi samādhiṁ bhāvesiṁ, upekkhāsahagatampi samādhiṁ bhāvesiṁ.
Yato kho me, anuruddhā, savitakkopi savicāro samādhi bhāvito ahosi, avitakkopi vicāramatto samādhi bhāvito ahosi, avitakkopi avicāro samādhi bhāvito ahosi, sappītikopi samādhi bhāvito ahosi, nippītikopi samādhi bhāvito ahosi, sātasahagatopi samādhi bhāvito ahosi, upekkhāsahagatopi samādhi bhāvito ahosi. Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi, akuppā me cetovimutti. Ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo”ti.
I thought: ‘I’ve given up my mental corruptions. Now let me develop immersion in three ways.’ I developed immersion while placing the mind and keeping it connected; without placing the mind, merely keeping it connected; without placing the mind or keeping it connected; with rapture; without rapture; with pleasure; with equanimity.
When I had developed immersion in these ways, the knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’”
245. Này các Anuruddha, Ta đã khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Những tùy phiền não nào của tâm đã được Ta đoạn trừ. Này, bây giờ Ta sẽ tu tập định theo ba phương diện’. Này các Anuruddha, thật vậy, Ta đã tu tập định có tầm có tứ, Ta đã tu tập định không tầm chỉ có tứ, Ta đã tu tập định không tầm không tứ, Ta đã tu tập định có hỷ, Ta đã tu tập định không hỷ, Ta đã tu tập định đi kèm với lạc, Ta đã tu tập định đi kèm với xả. Này các Anuruddha, khi Ta đã tu tập định có tầm có tứ, đã tu tập định không tầm chỉ có tứ, đã tu tập định không tầm không tứ, đã tu tập định có hỷ, đã tu tập định không hỷ, đã tu tập định đi kèm với lạc, và đã tu tập định đi kèm với xả, thì tri và kiến đã khởi lên nơi Ta: ‘Tâm giải thoát của Ta là bất động. Đây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa’.
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā anuruddho bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Anuruddha approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng điều này. Tôn giả Anuruddha, với tâm hoan hỷ, đã tán thán lời dạy của Thế Tôn.
Upakkilesasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Tùy Phiền Não, phẩm thứ tám, kết thúc.