- Majjhima Nikāya 127
Anuruddhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Anuruddhasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà viên), chỗ tinh xá của ông Anāthapiṇḍika (Cấp cô độc). Rồi thợ mộc Pancakanga bảo một người
SC 2—Hãy đến, này Người kia, hãy đi đến Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Anuruddha và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, thợ mộc Pancakanga cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Anuruddha, và thưa: Mong rằng Tôn giả Anuruddha cùng ba vị nữa, ngày mai nhận lời dùng bữa ăn với thợ mộc Pancakanga. Mong rằng Tôn giả Anuruddha đến thật sớm, vì thợ mộc Pancakanga có nhiều công việc, có nhiều bổn phận phải làm đối với vua”.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 3Người ấy vâng đáp thợ mộc Pancakanga, đi đến Tôn giả Anuruddha, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Anuruddha, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa Tôn giả Anuruddha
SC 4—Thợ mộc Pancakanga cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Anuruddha và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, mong rằng Tôn giả Anuruddha với ba vị nữa ngày mai đến dùng bữa ăn với thợ mộc Pancakanga. Thưa Tôn giả, mong rằng Tôn giả Anuruddha đến cho thật sớm, vì thợ mộc Pancakanga có nhiều công việc, có nhiều bổn phận phải làm đối với vua”.
SC 5Tôn giả Anuruddha im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Anuruddha, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ thợ mộc Pancakanga, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi thợ mộc Pancakanga tự tay mời mọc và làm cho thỏa mãn Tôn giả Anuruddha với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Và sau khi Tôn giả Anuruddha đã ăn xong, đã cất tay khỏi bình bát, thợ mộc Pancakanga lấy một ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thợ mộc Pancakanga thưa cùng Tôn giả Anuruddha
SC 6—Ở đây, thưa Tôn giả, các Trưởng lão Tỷ-kheo đến và nói như sau: “Này Gia chủ, hãy tu tập vô lượng tâm giải thoát”. Có một số vị Trưởng lão lại nói như sau: “Này Gia chủ, hãy tu tập đại hành tâm giải thoát”. Thưa Tôn giả, vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát, các pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn, hay đồng nghĩa, chỉ khác biệt về văn?
SC 7—Này Gia chủ, hãy nói lên những điều gì Ông nghĩ về vấn đề này; nhờ vậy, vấn đề này sẽ trở thành xác thật cho Ông.
SC 8—Thưa Tôn giả, con nghĩ như sau: “Vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát, các pháp này đồng nghĩa nhưng khác văn”.
SC 9—Này Gia chủ, vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát, những pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn. Do vậy, này Cư sĩ, đây cần phải hiểu đúng với pháp môn, nghĩa là các pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn.
SC 10Và này Cư sĩ, thế nào là vô lượng tâm giải thoát? Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. … với tâm câu hữu với bi, … với tâm câu hữu với hỷ, … an trú, biến mãn, một phương với tâm câu hữu với xả, … quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là vô lượng tâm giải thoát.
SC 11Này Cư sĩ, thế nào là đại hành tâm giải thoát? Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến một gốc cây, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba gốc cây, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến một ruộng làng an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba ruộng làng, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến một đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát. Do vậy, này Cư sĩ, đây cần phải hiểu đúng với pháp môn này, nghĩa là các pháp này vừa khác nghĩa, vừa khác văn.
SC 12Này Cư sĩ, có bốn hữu sanh này (bhavuppattiyo: bốn sự sanh khởi cho một đời sống mới). Thế nào là bốn? Ở đây, này Cư sĩ, có người, với hào quang hạn lượng (parittabha) an trú, biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cọng trú với chư Thiểu Quang thiên. Ở đây, này Cư sĩ, có người với hào quang vô lượng, an trú, biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cọng trú với chư Vô Lượng Quang thiên. Ở đây, này Cư sĩ, có người với hào quang tạp nhiễm, an trú, biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cọng trú với chư Tạp Nhiễm Quang thiên. Ở đây, này Cư sĩ, có người với hào quang thanh tịnh, an trú, biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Biến Tịnh Quang thiên. Này Cư sĩ, có bốn loại hữu sanh này.
SC 13Có thời, này Cư sĩ, chư Thiên kia tập họp tại một chỗ. Khi các vị này tập họp tại một chỗ, có thấy sự sai khác về màu sắc, không có thấy sự sai khác về hào quang. Ví như, này Cư sĩ, có người cầm nhiều cây đèn dầu đi vào trong một nhà. Khi các cây đèn dầu ấy được đem vào trong nhà, có thấy sự sai khác về ngọn lửa, nhưng không có thấy sự sai khác về ánh sáng. Cũng vậy, này Cư sĩ, có thời chư Thiên kia tập họp tại một chỗ. Khi các vị này tập họp tại một chỗ, có thấy sự sai khác về màu sắc, không có thấy sự sai khác về hào quang.
SC 14Có thời, này Cư sĩ, chư Thiên ấy, đi ra khỏi từ chỗ kia. Khi chư Thiên ấy đi ra khỏi từ chỗ kia, có thấy sự sai khác về màu sắc và cũng có thấy sự sai khác về hào quang. Ví như, này Cư sĩ, có người đem nhiều cây đèn dầu ra khỏi ngôi nhà ấy, khi các cây đèn dầu ấy được đem ra khỏi ngôi nhà kia, có thấy sự sai khác về màu sắc và cũng có thấy sự sai khác về ánh sáng. Cũng vậy, này Cư sĩ, có thời chư Thiên ấy đi ra khỏi từ chỗ kia. Khi chư Thiên ấy đi ra khỏi từ chỗ kia, có thấy sự sai khác về màu sắc và cũng có thấy sự sai khác về hào quang.
SC 15Này Cư sĩ, chư Thiên ấy không có nghĩ: “Ðây là thường còn, thường trú, thường hằng cho chúng tôi”. Nhưng chỗ nào chư Thiên ấy an trú, tại chỗ ấy, chư Thiên ấy sống trong thoải mái. Ví như, này Cư sĩ, khi các con ruồi bị mang đi trong đòn gánh hay trong cái giỏ, chúng nó không có nghĩ: “Ðây là sự thường còn, thường trú hay thường hằng cho chúng tôi”. Nhưng chỗ nào, chỗ nào các con ruồi kia an trú, tại chỗ ấy, các con ruồi ấy sống trong thoải mái. Cũng vậy, này Cư sĩ, chư Thiên ấy không có nghĩ: “Ðây là thường còn, thường trú hay thường hằng cho chúng tôi”. Nhưng chỗ nào, chỗ nào chư Thiên ấy an trú, tại chỗ ấy, chư Thiên ấy sống trong thoải mái.
SC 16Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Abhiya Kaccāna thưa với Tôn giả Anuruddha
SC 17—Tốt lành thay, Tôn giả Anuruddha! Ở đây, tôi có câu này cần phải hỏi thêm. Thưa Tôn giả, chư Thiên có hào quang, tất cả đều có hào quang có hạn lượng? Hay là ở đây có một số chư Thiên có hào quang vô lượng?
SC 18—Này Hiền giả Kaccāna, tùy theo trường hợp, ở đây một số chư Thiên có hào quang có hạn lượng, nhưng ở đây cũng có một số chư Thiên có hào quang vô lượng.
SC 19—Thưa Tôn giả Anuruddha, do nhân gì, do duyên gì, dầu cho chư Thiên ấy được sanh khởi trong một Thiên chúng, lại có một số chư Thiên có hào quang hạn lượng và có một số chư Thiên khác có hào quang vô lượng?
SC 20—Này Hiền giả Kaccāna, ở đây Ta sẽ hỏi Hiền giả. Nếu Hiền giả kham nhẫn, Hiền giả sẽ trả lời. Này Hiền giả Kaccāna, Hiền giả nghĩ thế nào? Tỷ-kheo cho đến một gốc cây, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), và Tỷ-kheo cho đến hai hay ba gốc cây, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
SC 21—Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba gốc cây, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
SC 22—Này Hiền giả Kaccāna, Hiền giả nghĩ thế nào? Tỷ-kheo cho đến hai hay ba gốc cây, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), và Tỷ-kheo, cho đến một ruộng làng, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
SC 23—Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo cho đến một ruộng làng, an trú, biến mãn, và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
SC 24—Này Hiền giả Kaccāna, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba ruộng làng, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), và Tỷ-kheo cho đến một đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
SC 25—Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo, cho đến một đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
SC 26—Này Hiền giả Kaccāna, Tỷ-kheo cho đến một đại vương, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), và Tỷ-kheo cho đến hai hay ba một đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
SC 27—Thưa Tôn giả Anuruddha, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần rộng lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
SC 28—Này Hiền giả Kaccāna, Hiền giả nghĩ thế nào? Tỷ-kheo cho đến hai hay ba đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), và Tỷ-kheo cho đến giải đất tận hải biên, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
SC 29—Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo cho đến giải đất tận hải biên, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
SC 30—Này Hiền giả Kaccāna, do nhân này, do duyên này, giữa các chư Thiên ấy được sanh khởi trong một Thiên chúng, có một số chư Thiên có hào quang có hạn lượng, nhưng có một số chư Thiên có hào quang vô lượng.
SC 31—Lành thay, Tôn giả Anuruddha! Tôi có một câu cần phải hỏi thêm nữa. Thưa Tôn giả, về hào quang chư Thiên, có phải tất cả hào quang là tạp nhiễm hay có một số chư Thiên có hào quang thanh tịnh?
SC 32—Tùy theo trường hợp, này Hiền giả Kaccāna, ở đây có một số chư Thiên có hào quang tạp nhiễm, nhưng ở đây cũng có một số chư Thiên có hào quang thanh tịnh.
SC 33—Thưa Tôn giả Anuruddha, do nhân gì, do duyên gì, trong chư Thiên ấy được sanh khởi trong một Thiên chúng, có một số hào quang tạp nhiễm, nhưng có một số chư Thiên có hào quang thanh tịnh?
SC 34Này Hiền giả Kaccāna, Ta sẽ cho Hiền giả một ví dụ. Nhờ ví dụ ở đây, người có trí hiểu được ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Hiền giả Kaccāna, một cây đèn đang cháy với dầu không được sạch sẽ, với tim đèn cũng không được sạch sẽ. Vì dầu không được sạch sẽ, và cũng vì tim đèn không được sạch sẽ, nên cây đèn cháy rất lu mờ. Cũng vậy, này Hiền giả Kaccāna, ở đây Tỷ-kheo an trú, biến mãn và thấm nhuần với hào quang tạp nhiễm. Thân dâm hạnh của vị ấy không được khéo chấm dứt, hôn trầm thụy miên không được khéo đoạn trừ, trạo cử hối quá không được khéo nhiếp phục. Vì không được khéo chấm dứt thân dâm hạnh, vì không khéo đoạn trừ hôn trầm thụy miên, vì không khéo nhiếp phục trạo cử hối quá, nên vị ấy được cháy lên một cách lu mờ. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cọng trú với chư Thiên có hào quang tạp nhiễm.
SC 35Ví như, này Hiền giả Kaccāna, một ngọn đèn dầu được đốt cháy, với dầu sạch sẽ và với tim đèn cũng được sạch sẽ. Do dầu được sạch sẽ và cũng do tim đèn được sạch sẽ, nên cây đèn ấy được cháy không có mù mờ. Cũng vậy, này Hiền giả Kaccāna, ở đây Tỷ-kheo an trú, biến mãn và thấm nhuần với hào quang thanh tịnh. Thân dâm hạnh của vị này được khéo chấm dứt, hôn trầm thụy miên được khéo đoạn trừ, trạo cử hối quá được khéo nhiếp phục. Do thân dâm hạnh được khéo chấm dứt, do hôn trầm thụy miên được khéo đoạn trừ, do trạo cử hối quá được khéo nhiếp phục, nên vị ấy được cháy lên không có mù mờ. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cọng trú với chư Thiên có hào quang thanh tịnh.
SC 36Này Hiền giả Kaccāna, do nhân này, do duyên này, giữa chư Thiên ấy sanh khởi cùng trong một Thiên chúng, có một số chư Thiên có hào quang tạp nhiễm, nhưng có một số chư Thiên có hào quang thanh tịnh.
SC 37Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Abhiya Kaccāna thưa với Tôn giả Anuruddha
SC 38—Thật lành thay, Tôn giả Anuruddha! Thưa Tôn giả, Tôn giả Anuruddha không có nói như sau: “Như vậy tôi nghe”, hay “Sự việc đúng như vậy”. Trái lại, thưa Tôn giả, Tôn giả Anuruddha chỉ nói: “Chư Thiên này là như vậy và chư Thiên kia là như vậy”. Thưa Tôn giả, tôi nghĩ như sau: “Tôn giả Anuruddha chắc chắn đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ trước với chư Thiên ấy”.
SC 39—Này Hiền giả Kaccāna, lời nói này của Hiền giả đến gần như thử thách Ta phải tuyên bố, nhưng Ta sẽ trả lời cho Hiền giả. Này Hiền giả Kaccāna, đã từ lâu, Ta đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ trước với chư Thiên ấy.
SC 40Khi nghe nói vậy, Tôn giả Abhiya Kaccāna nói với thợ mộc Pancakanga
SC 41—Thật lợi ích thay cho Ông, này Cư sĩ, rằng Ông đã đoạn trừ được điều nghi ngờ từ trước, và cũng được dịp nghe pháp môn này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 15-07-2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Anuruddha
Atha kho pañcakaṅgo thapati aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, ambho purisa, yenāyasmā anuruddho tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato anuruddhassa pāde sirasā vandāhi: ‘pañcakaṅgo, bhante, thapati āyasmato anuruddhassa pāde sirasā vandatī’ti; evañca vadehi: ‘adhivāsetu kira, bhante, āyasmā anuruddho pañcakaṅgassa thapatissa svātanāya attacatuttho bhattaṁ; yena ca kira, bhante, āyasmā anuruddho pagevataraṁ āgaccheyya; pañcakaṅgo, bhante, thapati bahukicco bahukaraṇīyo rājakaraṇīyenā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so puriso pañcakaṅgassa thapatissa paṭissutvā yenāyasmā anuruddho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ anuruddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so puriso āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavoca: “pañcakaṅgo, bhante, thapati āyasmato anuruddhassa pāde sirasā vandati, evañca vadeti: ‘adhivāsetu kira, bhante, āyasmā anuruddho pañcakaṅgassa thapatissa svātanāya attacatuttho bhattaṁ; yena ca kira, bhante, āyasmā anuruddho pagevataraṁ āgaccheyya; pañcakaṅgo, bhante, thapati bahukicco bahukaraṇīyo rājakaraṇīyenā’”ti. Adhivāsesi kho āyasmā anuruddho tuṇhībhāvena.
And then the chamberlain Pañcakaṅga addressed a man, “Please, my man, go to Venerable Anuruddha, and in my name bow with your head to his feet. Say to him, ‘Sir, the chamberlain Pañcakaṅga bows with his head to your feet.’ And then ask him whether he would please accept tomorrow’s meal from Pañcakaṅga together with the mendicant Saṅgha. And ask whether he might please come earlier than usual, for Pañcakaṅga has many duties, and much work to do for the king.”
“Yes, sir,” that man replied. He did as Pañcakaṅga asked, and Venerable Anuruddha consented with silence.
229. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, người thợ mộc Pañcakaṅga gọi một người đàn ông và bảo: “Này ông, hãy đi đến chỗ Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, nhân danh tôi, hãy cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Anuruddha và thưa rằng: ‘Bạch ngài, người thợ mộc Pañcakaṅga cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Anuruddha.’ Và hãy thưa tiếp như vầy: ‘Bạch ngài, mong Tôn giả Anuruddha, cùng với ba vị khác, nhận lời mời dùng bữa ăn vào ngày mai tại nhà của người thợ mộc Pañcakaṅga. Và bạch ngài, mong Tôn giả Anuruddha hãy đến sớm hơn một chút; vì bạch ngài, người thợ mộc Pañcakaṅga có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm cho nhà vua.’” “Vâng, thưa ngài,” người đàn ông ấy vâng lời người thợ mộc Pañcakaṅga, đi đến chỗ Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, đã đảnh lễ Tôn giả Anuruddha rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người đàn ông ấy thưa với Tôn giả Anuruddha: “Bạch ngài, người thợ mộc Pañcakaṅga cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Anuruddha, và có lời nhắn như sau: ‘Bạch ngài, mong Tôn giả Anuruddha, cùng với ba vị khác, nhận lời mời dùng bữa ăn vào ngày mai tại nhà của người thợ mộc Pañcakaṅga. Và bạch ngài, mong Tôn giả Anuruddha hãy đến sớm hơn một chút; vì bạch ngài, người thợ mộc Pañcakaṅga có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm cho nhà vua.’” Tôn giả Anuruddha đã nhận lời bằng cách im lặng.
Atha kho āyasmā anuruddho tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena pañcakaṅgassa thapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ anuruddhaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Atha kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ anuruddhaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavoca:
Then when the night had passed, Anuruddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to Pañcakaṅga’s home, where he sat down on the seat spread out. Then Pañcakaṅga served and satisfied Anuruddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods. When Anuruddha had eaten and washed his hands and bowl, Pañcakaṅga took a low seat, sat to one side, and said to him:
230. Rồi Tôn giả Anuruddha, sau khi đêm ấy đã qua, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi đến nhà của người thợ mộc Pañcakaṅga; sau khi đến, ngài ngồi xuống chỗ đã được soạn sẵn. Bấy giờ, người thợ mộc Pañcakaṅga đã tự tay dâng cúng và phục vụ Tôn giả Anuruddha các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi ngài hài lòng và từ chối nhận thêm. Khi Tôn giả Anuruddha đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, người thợ mộc Pañcakaṅga lấy một chỗ ngồi thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người thợ mộc Pañcakaṅga thưa với Tôn giả Anuruddha như sau:
“Idha maṁ, bhante, therā bhikkhū upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘appamāṇaṁ, gahapati, cetovimuttiṁ bhāvehī’ti. Ekacce therā evamāhaṁsu: ‘mahaggataṁ, gahapati, cetovimuttiṁ bhāvehī’ti. Yā cāyaṁ, bhante, appamāṇā cetovimutti yā ca mahaggatā cetovimutti—ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca, udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
“Tena hi, gahapati, taṁyevettha paṭibhātu, apaṇṇakante ito bhavissatī”ti.
“Mayhaṁ kho, bhante, evaṁ hoti: ‘yā cāyaṁ appamāṇā cetovimutti yā ca mahaggatā cetovimutti ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan’”ti.
“Yā cāyaṁ, gahapati, appamāṇā cetovimutti yā ca mahaggatā cetovimutti ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca. Tadamināpetaṁ, gahapati, pariyāyena veditabbaṁ yathā ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca.
“Sir, some senior mendicants have come to me and said, ‘Householder, develop the limitless release of the heart.’ Others have said, ‘Householder, develop the expansive release of the heart.’ Now, the limitless release of the heart and the expansive release of the heart: do these things differ in both meaning and phrasing? Or do they mean the same thing, and differ only in the phrasing?”
“Well then, householder, let me know what you think about this. Afterwards, it’s a sure bet that you’ll get it.”
“Sir, this is what I think. The limitless release of the heart and the expansive release of the heart mean the same thing, and differ only in the phrasing.”
“The limitless release of the heart and the expansive release of the heart differ in both meaning and phrasing. This is a way to understand how these things differ in both meaning and phrasing.
“Bạch ngài, ở đây, có các vị Tỳ-kheo trưởng lão đến gặp con và nói rằng: ‘Này gia chủ, hãy tu tập tâm giải thoát vô lượng.’ Lại có những vị trưởng lão khác nói rằng: ‘Này gia chủ, hãy tu tập tâm giải thoát quảng đại.’ Bạch ngài, tâm giải thoát vô lượng và tâm giải thoát quảng đại – hai pháp này có ý nghĩa khác nhau và văn tự khác nhau, hay chúng có cùng ý nghĩa, chỉ văn tự khác nhau?” “Vậy thì, này gia chủ, hãy để điều đó tự hiện khởi nơi ông. Từ đó, câu trả lời chắc chắn sẽ đến với ông.” “Bạch ngài, con nghĩ như vầy: ‘Tâm giải thoát vô lượng và tâm giải thoát quảng đại – hai pháp này có cùng ý nghĩa, chỉ văn tự khác nhau.’” “Này gia chủ, tâm giải thoát vô lượng và tâm giải thoát quảng đại – hai pháp này có ý nghĩa khác nhau và văn tự cũng khác nhau. Này gia chủ, cần phải hiểu theo phương pháp này rằng hai pháp này có ý nghĩa khác nhau và văn tự cũng khác nhau.”
Katamā ca, gahapati, appamāṇā cetovimutti? Idha, gahapati, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. Karuṇāsahagatena cetasā … muditāsahagatena cetasā … upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. Ayaṁ vuccati, gahapati, appamāṇā cetovimutti.
And what is the limitless release of the heart? It’s when a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They meditate spreading a heart full of compassion … They meditate spreading a heart full of rejoicing … They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. This is called the limitless release of the heart.
Này gia chủ, thế nào là vô lượng tâm giải thoát? Này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, trên, dưới, ngang, ở khắp mọi nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, vị ấy an trú, biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, trên, dưới, ngang, ở khắp mọi nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô lượng, không oán, không sân. Này gia chủ, đây được gọi là vô lượng tâm giải thoát.
Katamā ca, gahapati, mahaggatā cetovimutti? Idha, gahapati, bhikkhu yāvatā ekaṁ rukkhamūlaṁ mahaggatanti pharitvā adhimuccitvā viharati. Ayaṁ vuccati, gahapati, mahaggatā cetovimutti. Idha pana, gahapati, bhikkhu yāvatā dve vā tīṇi vā rukkhamūlāni mahaggatanti pharitvā adhimuccitvā viharati. Ayampi vuccati, gahapati, mahaggatā cetovimutti. Idha pana, gahapati, bhikkhu yāvatā ekaṁ gāmakkhettaṁ mahaggatanti pharitvā adhimuccitvā viharati. Ayampi vuccati, gahapati, mahaggatā cetovimutti. Idha pana, gahapati, bhikkhu yāvatā dve vā tīṇi vā gāmakkhettāni mahaggatanti pharitvā adhimuccitvā viharati. Ayampi vuccati, gahapati, mahaggatā cetovimutti. Idha pana, gahapati, bhikkhu yāvatā ekaṁ mahārajjaṁ mahaggatanti pharitvā adhimuccitvā viharati. Ayampi vuccati, gahapati, mahaggatā cetovimutti. Idha pana, gahapati, bhikkhu yāvatā dve vā tīṇi vā mahārajjāni mahaggatanti pharitvā adhimuccitvā viharati. Ayampi vuccati, gahapati, mahaggatā cetovimutti. Idha pana, gahapati, bhikkhu yāvatā samuddapariyantaṁ pathaviṁ mahaggatanti pharitvā adhimuccitvā viharati. Ayampi vuccati, gahapati, mahaggatā cetovimutti. Iminā kho etaṁ, gahapati, pariyāyena veditabbaṁ yathā ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca.
And what is the expansive release of the heart? It’s when a mendicant meditates focused on pervading the extent of a single tree root as expansive. This is called the expansive release of the heart. Also, a mendicant meditates focused on pervading the extent of two or three tree roots … a single village district … two or three village districts … a single kingdom … two or three kingdoms … this land surrounded by ocean. This too is called the expansive release of the heart. This is a way to understand how these things differ in both meaning and phrasing.
231. Này gia chủ, thế nào là đại hành tâm giải thoát? Này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Thật là đại hành’ trong phạm vi một gốc cây. Này gia chủ, đây được gọi là đại hành tâm giải thoát. Lại nữa, này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Thật là đại hành’ trong phạm vi hai hoặc ba gốc cây. Này gia chủ, đây cũng được gọi là đại hành tâm giải thoát. Lại nữa, này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Thật là đại hành’ trong phạm vi một khu làng. Này gia chủ, đây cũng được gọi là đại hành tâm giải thoát. Lại nữa, này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Thật là đại hành’ trong phạm vi hai hoặc ba khu làng. Này gia chủ, đây cũng được gọi là đại hành tâm giải thoát. Lại nữa, này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Thật là đại hành’ trong phạm vi một vương quốc lớn. Này gia chủ, đây cũng được gọi là đại hành tâm giải thoát. Lại nữa, này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Thật là đại hành’ trong phạm vi hai hoặc ba vương quốc lớn. Này gia chủ, đây cũng được gọi là đại hành tâm giải thoát. Lại nữa, này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Thật là đại hành’ trong phạm vi trái đất cho đến biển là giới hạn. Này gia chủ, đây cũng được gọi là đại hành tâm giải thoát. Này gia chủ, chính do phương pháp này mà cần phải được hiểu rằng các pháp này có ý nghĩa khác nhau và cũng có văn tự khác nhau.
Catasso kho imā gahapati, bhavūpapattiyo. Katamā catasso? Idha, gahapati, ekacco ‘parittābhā’ti pharitvā adhimuccitvā viharati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parittābhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Idha pana, gahapati, ekacco ‘appamāṇābhā’ti pharitvā adhimuccitvā viharati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā appamāṇābhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Idha pana, gahapati, ekacco ‘saṅkiliṭṭhābhā’ti pharitvā adhimuccitvā viharati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā saṅkiliṭṭhābhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Idha pana, gahapati, ekacco ‘parisuddhābhā’ti pharitvā adhimuccitvā viharati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parisuddhābhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Imā kho, gahapati, catasso bhavūpapattiyo.
Householder, there are these four kinds of rebirth in a future life. What four? Take someone who meditates focused on pervading ‘limited radiance’. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of limited radiance. Next, take someone who meditates focused on pervading ‘limitless radiance’. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of limitless radiance. Next, take someone who meditates focused on pervading ‘corrupted radiance’. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of corrupted radiance. Next, take someone who meditates focused on pervading ‘pure radiance’. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of pure radiance. These are the four kinds of rebirth in a future life.
232. Này gia chủ, có bốn sự sanh vào các cõi này. Thế nào là bốn? Này gia chủ, ở đây, có người an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Ánh sáng có giới hạn’. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư vị trời ở cõi Thiểu Quang Thiên. Lại nữa, này gia chủ, có người an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Ánh sáng vô lượng’. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư vị trời ở cõi Vô Lượng Quang Thiên. Lại nữa, này gia chủ, có người an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Ánh sáng ô nhiễm’. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư vị trời ở cõi Tạp Nhiễm Quang Thiên. Lại nữa, này gia chủ, có người an trú, biến mãn và quyết định rằng: ‘Ánh sáng hoàn toàn trong sạch’. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư vị trời ở cõi Biến Tịnh Quang Thiên. Này gia chủ, đây chính là bốn sự sanh vào các cõi.
Hoti kho so, gahapati, samayo, yā tā devatā ekajjhaṁ sannipatanti, tāsaṁ ekajjhaṁ sannipatitānaṁ vaṇṇanānattañhi kho paññāyati no ca ābhānānattaṁ. Seyyathāpi, gahapati, puriso sambahulāni telappadīpāni ekaṁ gharaṁ paveseyya. Tesaṁ ekaṁ gharaṁ pavesitānaṁ accinānattañhi kho paññāyetha, no ca ābhānānattaṁ; evameva kho, gahapati, hoti kho so samayo, yā tā devatā ekajjhaṁ sannipatanti tāsaṁ ekajjhaṁ sannipatitānaṁ vaṇṇanānattañhi kho paññāyati, no ca ābhānānattaṁ.
There comes a time, householder, when the deities gather together as one. When they do so, a difference in their color is evident, but not in their radiance. It’s like when a person brings several oil lamps into one house. You can detect a difference in their flames, but not in their radiance. In the same way, when the deities gather together as one, a difference in their color is evident, but not in their radiance.
Này gia chủ, có trường hợp khi chư vị trời ấy tụ hội lại với nhau. Khi họ đã tụ hội lại với nhau, sự khác biệt về sắc tướng của họ thì được nhận thấy, nhưng sự khác biệt về hào quang thì không. Ví như, này gia chủ, có người mang nhiều ngọn đèn dầu vào trong một ngôi nhà. Đối với những ngọn đèn đã được mang vào trong một ngôi nhà ấy, sự khác biệt về ngọn lửa thì được nhận thấy, nhưng sự khác biệt về ánh sáng thì không. Cũng thế ấy, này gia chủ, có trường hợp khi chư vị trời ấy tụ hội lại với nhau; khi họ đã tụ hội lại với nhau, sự khác biệt về sắc tướng của họ thì được nhận thấy, nhưng sự khác biệt về hào quang thì không.
Hoti kho so, gahapati, samayo, yā tā devatā tato vipakkamanti, tāsaṁ tato vipakkamantīnaṁ vaṇṇanānattañceva paññāyati ābhānānattañca. Seyyathāpi, gahapati, puriso tāni sambahulāni telappadīpāni tamhā gharā nīhareyya. Tesaṁ tato nīhatānaṁ accinānattañceva paññāyetha ābhānānattañca; evameva kho, gahapati, hoti kho so samayo, yā tā devatā tato vipakkamanti, tāsaṁ tato vipakkamantīnaṁ vaṇṇanānattañceva paññāyati ābhānānattañca.
There comes a time when those deities go their separate ways. When they do so, a difference both in their color and also in their radiance is evident. It’s like when a person takes those several oil lamps out of that house. You can detect a difference both in their flames and also in their radiance. In the same way, when the deities go their separate ways, a difference both in their color and also in their radiance is evident.
Này gia chủ, có trường hợp khi chư vị trời ấy rời khỏi nơi đó. Khi họ rời khỏi nơi đó, sự khác biệt về sắc tướng của họ được nhận thấy, và sự khác biệt về hào quang cũng vậy. Ví như, này gia chủ, có người mang những ngọn đèn dầu nhiều như vậy ra khỏi ngôi nhà ấy. Đối với những ngọn đèn đã được mang ra khỏi nơi đó, sự khác biệt về ngọn lửa được nhận thấy, và sự khác biệt về ánh sáng cũng vậy. Cũng thế ấy, này gia chủ, có trường hợp khi chư vị trời ấy rời khỏi nơi đó; khi họ rời khỏi nơi đó, sự khác biệt về sắc tướng của họ được nhận thấy, và sự khác biệt về hào quang cũng vậy.
Na kho, gahapati, tāsaṁ devatānaṁ evaṁ hoti: ‘idaṁ amhākaṁ niccanti vā dhuvanti vā sassatanti vā’, api ca yattha yattheva tā devatā abhinivisanti tattha tattheva tā devatā abhiramanti. Seyyathāpi, gahapati, makkhikānaṁ kājena vā piṭakena vā harīyamānānaṁ na evaṁ hoti: ‘idaṁ amhākaṁ niccanti vā dhuvanti vā sassatanti vā’, api ca yattha yattheva tā makkhikā abhinivisanti tattha tattheva tā makkhikā abhiramanti; evameva kho, gahapati, tāsaṁ devatānaṁ na evaṁ hoti: ‘idaṁ amhākaṁ niccanti vā dhuvanti vā sassatanti vā’, api ca yattha yattheva tā devatā abhinivisanti tattha tattheva tā devatā abhiramantī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sabhiyo kaccāno āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavoca:
“sādhu, bhante anuruddha. Atthi ca me ettha uttariṁ paṭipucchitabbaṁ. Yā tā, bhante, devatā ābhā sabbā tā parittābhā udāhu santettha ekaccā devatā appamāṇābhā”ti?
“Tadaṅgena kho, āvuso kaccāna, santettha ekaccā devatā parittābhā, santi panettha ekaccā devatā appamāṇābhā”ti.
“Ko nu kho, bhante anuruddha, hetu ko paccayo yena tāsaṁ devatānaṁ ekaṁ devanikāyaṁ upapannānaṁ santettha ekaccā devatā parittābhā, santi panettha ekaccā devatā appamāṇābhā”ti?
“Tena hāvuso kaccāna, taṁyevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, āvuso kaccāna, yvāyaṁ bhikkhu yāvatā ekaṁ rukkhamūlaṁ ‘mahaggatan’ti pharitvā adhimuccitvā viharati, yo cāyaṁ bhikkhu yāvatā dve vā tīṇi vā rukkhamūlāni ‘mahaggatan’ti pharitvā adhimuccitvā viharati—imāsaṁ ubhinnaṁ cittabhāvanānaṁ katamā cittabhāvanā mahaggatatarā”ti?
“Yvāyaṁ, bhante, bhikkhu yāvatā dve vā tīṇi vā rukkhamūlāni ‘mahaggatan’ti pharitvā adhimuccitvā viharati—ayaṁ imāsaṁ ubhinnaṁ cittabhāvanānaṁ mahaggatatarā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, āvuso kaccāna,
It’s not that those deities think, ‘What we have is permanent, lasting, and eternal.’ Rather, wherever those deities cling, that’s where they take pleasure. It’s like when flies are being carried along on a carrying-pole or basket. It’s not that they think, ‘What we have is permanent, lasting, and eternal.’ Rather, wherever those flies cling, that’s where they take pleasure. In the same way, it’s not that those deities think, ‘What we have is permanent, lasting, and eternal.’ Rather, wherever those deities cling, that’s where they take pleasure.”
When he had spoken, Venerable Sabhiya Kaccāna said to Venerable Anuruddha:
“Good, Honorable Anuruddha! I have a further question about this. Do all the radiant deities have limited radiance, or do some there have limitless radiance?”
“In that respect, Reverend Kaccāna, some deities there have limited radiance, while some have limitless radiance.”
“What is the cause, Honorable Anuruddha, what is the reason why, when those deities have been reborn in a single order of gods, some deities there have limited radiance, while some have limitless radiance?”
“Well then, Reverend Kaccāna, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, Reverend Kaccāna? Which of these two kinds of mental development is more expansive: when a mendicant meditates focused on pervading as expansive the extent of a single tree root, or two or three tree roots?”
“When a mendicant meditates on two or three tree roots.”
“What do you think, Reverend Kaccāna?
Này gia chủ, các vị chư thiên ấy không có ý nghĩ rằng: ‘Cái này của chúng ta là thường hằng, là bền vững, là vĩnh cửu.’ Tuy nhiên, bất cứ nơi nào các vị chư thiên ấy an trú, chính tại nơi ấy các vị chư thiên ấy hoan hỷ. Ví như, này gia chủ, những con ruồi được mang đi bằng đòn gánh hay bằng cái giỏ, chúng không có ý nghĩ rằng: ‘Chỗ này của chúng ta là thường hằng, là bền vững, là vĩnh cửu.’ Tuy nhiên, bất cứ nơi nào những con ruồi ấy đậu, chính tại nơi ấy chúng hoan hỷ. Cũng vậy, này gia chủ, các vị chư thiên ấy không có ý nghĩ rằng: ‘Cái này của chúng ta là thường hằng, là bền vững, là vĩnh cửu.’ Tuy nhiên, bất cứ nơi nào các vị chư thiên ấy an trú, chính tại nơi ấy các vị chư thiên ấy hoan hỷ.
‘Vậy thì, này hiền giả Kaccāna, ta sẽ hỏi lại chính hiền giả về điều này. Hiền giả hãy trả lời theo như hiền giả nghĩ là đúng. Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ thế nào về điều này: có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi một gốc cây với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’; và có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi hai hoặc ba gốc cây với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’. Trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào là quảng đại hơn?’ ‘Thưa Tôn giả, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi hai hoặc ba gốc cây với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’ – sự tu tập tâm này, trong hai sự tu tập tâm ấy, là quảng đại hơn.’
‘Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ thế nào về điều này: có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi hai hoặc ba gốc cây với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’; và có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi một khu ruộng làng với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’. Trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào là quảng đại hơn?’ ‘Thưa Tôn giả, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi một khu ruộng làng với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’ – sự tu tập tâm này, trong hai sự tu tập tâm ấy, là quảng đại hơn.’
‘Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ thế nào về điều này: có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi một khu ruộng làng với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’; và có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi hai hoặc ba khu ruộng làng với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’. Trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào là quảng đại hơn?’ ‘Thưa Tôn giả, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi hai hoặc ba khu ruộng làng với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’ – sự tu tập tâm này, trong hai sự tu tập tâm ấy, là quảng đại hơn.’
‘Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ thế nào về điều này: có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi hai hoặc ba khu ruộng làng với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’; và có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi một vương quốc lớn với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’. Trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào là quảng đại hơn?’ ‘Thưa Tôn giả, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi một vương quốc lớn với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’ – sự tu tập tâm này, trong hai sự tu tập tâm ấy, là quảng đại hơn.’
‘Này hiền giả Kaccāna, hiền giả nghĩ thế nào về điều này: có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi một vương quốc lớn với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’; và có vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi hai hoặc ba vương quốc lớn với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’. Trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào là quảng đại hơn?’ ‘Thưa Tôn giả, vị tỳ khưu an trú, biến mãn và hướng tâm đến phạm vi hai hoặc ba vương quốc lớn với ý nghĩ ‘đã trở nên quảng đại’ – sự tu tập tâm này, trong hai sự tu tập tâm ấy, là quảng đại hơn.’
“Yvāyaṁ, bhante, bhikkhu yāvatā samuddapariyantaṁ pathaviṁ ‘mahaggatan’ti pharitvā adhimuccitvā viharati—ayaṁ imāsaṁ ubhinnaṁ cittabhāvanānaṁ mahaggatatarā”ti?
“Ayaṁ kho, āvuso kaccāna, hetu ayaṁ paccayo, yena tāsaṁ devatānaṁ ekaṁ devanikāyaṁ upapannānaṁ santettha ekaccā devatā parittābhā, santi panettha ekaccā devatā appamāṇābhā”ti.
“When a mendicant meditates on this land surrounded by ocean.”
“This is the cause, Reverend Kaccāna, this is the reason why, when those deities have been reborn in a single order of gods, some deities there have limited radiance, while some have limitless radiance.”
“Này hiền giả Kaccāna, ông nghĩ thế nào về điều này? Vị tỳ khưu này, sau khi biến mãn và hướng tâm đến hai hoặc ba đại vương quốc với ý niệm ‘đã trở nên rộng lớn’, và an trú. Và vị tỳ khưu này, sau khi biến mãn và hướng tâm đến trái đất cho đến tận bờ đại dương với ý niệm ‘đã trở nên rộng lớn’, và an trú. Trong hai sự tu tập tâm này, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?” “Thưa ngài, vị tỳ khưu này, sau khi biến mãn và hướng tâm đến trái đất cho đến tận bờ đại dương với ý niệm ‘đã trở nên rộng lớn’, và an trú -- sự tu tập tâm này trong hai sự tu tập tâm là rộng lớn hơn.” “Này hiền giả Kaccāna, đây là nhân, đây là duyên, do đó mà trong các vị chư thiên ấy, khi đã sanh vào cùng một hội chúng chư thiên, có một số vị chư thiên có hào quang nhỏ bé, và có một số vị chư thiên có hào quang vô lượng.”
“Sādhu, bhante anuruddha. Atthi ca me ettha uttariṁ paṭipucchitabbaṁ. Yāvatā, bhante, devatā ābhā sabbā tā saṅkiliṭṭhābhā udāhu santettha ekaccā devatā parisuddhābhā”ti?
“Tadaṅgena kho, āvuso kaccāna, santettha ekaccā devatā saṅkiliṭṭhābhā, santi panettha ekaccā devatā parisuddhābhā”ti.
“Ko nu kho, bhante, anuruddha, hetu ko paccayo, yena tāsaṁ devatānaṁ ekaṁ devanikāyaṁ upapannānaṁ santettha ekaccā devatā saṅkiliṭṭhābhā, santi panettha ekaccā devatā parisuddhābhā”ti?
“Good, Honorable Anuruddha! I have a further question about this. Do all the radiant deities have corrupted radiance, or do some there have pure radiance?”
“In that respect, Reverend Kaccāna, some deities there have corrupted radiance, while some have pure radiance.”
“What is the cause, Honorable Anuruddha, what is the reason why, when those deities have been reborn in a single order of gods, some deities there have corrupted radiance, while some have pure radiance?”
234. “Lành thay, thưa ngài Anuruddha! Ở đây, con còn có điều muốn hỏi thêm. Thưa ngài, các vị chư thiên có hào quang, tất cả các vị ấy đều có hào quang ô nhiễm, hay là ở đây có một số vị chư thiên có hào quang trong sạch?” “Này hiền giả Kaccāna, do nhân duyên ấy, ở đây có một số vị chư thiên có hào quang ô nhiễm, và ở đây có một số vị chư thiên có hào quang trong sạch.” “Thưa ngài Anuruddha, vậy đâu là nhân, đâu là duyên, do đó mà trong các vị chư thiên ấy, khi đã sanh vào cùng một hội chúng chư thiên, có một số vị chư thiên có hào quang ô nhiễm, và có một số vị chư thiên có hào quang trong sạch?”
“Tena hāvuso kaccāna, upamaṁ te karissāmi. Upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti. Seyyathāpi, āvuso kaccāna, telappadīpassa jhāyato telampi aparisuddhaṁ vaṭṭipi aparisuddhā. So telassapi aparisuddhattā vaṭṭiyāpi aparisuddhattā andhandhaṁ viya jhāyati;
evameva kho, āvuso kaccāna, idhekacco bhikkhu ‘saṅkiliṭṭhābhā’ti pharitvā adhimuccitvā viharati, tassa kāyaduṭṭhullampi na suppaṭippassaddhaṁ hoti, thinamiddhampi na susamūhataṁ hoti, uddhaccakukkuccampi na suppaṭivinītaṁ hoti. So kāyaduṭṭhullassapi na suppaṭippassaddhattā thinamiddhassapi na susamūhatattā uddhaccakukkuccassapi na suppaṭivinītattā andhandhaṁ viya jhāyati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā saṅkiliṭṭhābhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Seyyathāpi, āvuso kaccāna, telappadīpassa jhāyato telampi parisuddhaṁ vaṭṭipi parisuddhā. So telassapi parisuddhattā vaṭṭiyāpi parisuddhattā na andhandhaṁ viya jhāyati;
evameva kho, āvuso kaccāna, idhekacco bhikkhu ‘parisuddhābhā’ti pharitvā adhimuccitvā viharati. Tassa kāyaduṭṭhullampi suppaṭippassaddhaṁ hoti, thinamiddhampi susamūhataṁ hoti, uddhaccakukkuccampi suppaṭivinītaṁ hoti. So kāyaduṭṭhullassapi suppaṭippassaddhattā thinamiddhassapi susamūhatattā uddhaccakukkuccassapi suppaṭivinītattā na andhandhaṁ viya jhāyati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parisuddhābhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
Ayaṁ kho, āvuso kaccāna, hetu ayaṁ paccayo yena tāsaṁ devatānaṁ ekaṁ devanikāyaṁ upapannānaṁ santettha ekaccā devatā saṅkiliṭṭhābhā, santi panettha ekaccā devatā parisuddhābhā”ti.
“Well then, Reverend Kaccāna, I shall give you a simile. For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said. Suppose an oil lamp was burning with impure oil and impure wick. Because of the impurity of the oil and the wick it burns dimly, as it were.
In the same way, take some mendicant who meditates focused on pervading ‘corrupted radiance’. Their physical discomfort is not completely settled, their dullness and drowsiness is not completely eradicated, and their restlessness and remorse are not completely eliminated. Because of this they practice absorption dimly, as it were. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of corrupted radiance.
Suppose an oil lamp was burning with pure oil and pure wick. Because of the purity of the oil and the wick it doesn’t burn dimly, as it were.
In the same way, take some mendicant who meditates focused on pervading ‘pure radiance’. Their physical discomfort is completely settled, their dullness and drowsiness is completely eradicated, and their restlessness and remorse is completely eliminated. Because of this they don’t practice absorption dimly, as it were. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of pure radiance.
This is the cause, Reverend Kaccāna, this is the reason why, when those deities have been reborn in a single order of gods, some deities there have corrupted radiance, while some have pure radiance.”
“Này hiền giả Kaccāna, vậy thì ta sẽ cho ông một ví dụ. Ở đây, có một số người trí nhờ ví dụ mà hiểu được ý nghĩa của lời nói. Này hiền giả Kaccāna, ví như ngọn đèn dầu đang cháy, dầu cũng không trong sạch, bấc đèn cũng không trong sạch. Do dầu không trong sạch và bấc đèn không trong sạch, nó cháy một cách mờ ảo; tương tự như vậy, này hiền giả Kaccāna, ở đây có vị tỳ khưu, sau khi biến mãn và hướng tâm đến ‘hào quang ô nhiễm’ và an trú. Sự thô trược của thân nơi vị ấy không được lắng dịu, sự hôn trầm thụy miên cũng không được trừ diệt, sự trạo cử hối quá cũng không được dẹp yên. Do sự thô trược của thân không được lắng dịu, do sự hôn trầm thụy miên không được trừ diệt, do sự trạo cử hối quá không được dẹp yên, vị ấy thiền định một cách mờ ảo. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh làm bạn đồng hành với các vị chư thiên có hào quang ô nhiễm. Này hiền giả Kaccāna, ví như ngọn đèn dầu đang cháy, dầu cũng trong sạch, bấc đèn cũng trong sạch. Do dầu trong sạch và bấc đèn trong sạch, nó không cháy một cách mờ ảo; tương tự như vậy, này hiền giả Kaccāna, ở đây có vị tỳ khưu, sau khi biến mãn và hướng tâm đến ‘hào quang trong sạch’ và an trú. Sự thô trược của thân nơi vị ấy được lắng dịu, sự hôn trầm thụy miên cũng được trừ diệt, sự trạo cử hối quá cũng được dẹp yên. Do sự thô trược của thân được lắng dịu, do sự hôn trầm thụy miên được trừ diệt, do sự trạo cử hối quá được dẹp yên, vị ấy không thiền định một cách mờ ảo. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh làm bạn đồng hành với các vị chư thiên có hào quang trong sạch. Này hiền giả Kaccāna, đây là nhân, đây là duyên, do đó mà trong các vị chư thiên ấy, khi đã sanh vào cùng một hội chúng chư thiên, có một số vị chư thiên có hào quang ô nhiễm, và có một số vị chư thiên có hào quang trong sạch.”
Evaṁ vutte, āyasmā sabhiyo kaccāno āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavoca: “sādhu, bhante anuruddha.
Na, bhante, āyasmā anuruddho evamāha: ‘evaṁ me sutan’ti vā ‘evaṁ arahati bhavitun’ti vā; atha ca pana, bhante, āyasmā anuruddho ‘evampi tā devatā, itipi tā devatā’tveva bhāsati. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘addhā āyasmatā anuruddhena tāhi devatāhi saddhiṁ sannivutthapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā’”ti.
“Addhā kho ayaṁ, āvuso kaccāna, āsajja upanīya vācā bhāsitā, api ca te ahaṁ byākarissāmi: ‘dīgharattaṁ kho me, āvuso kaccāna, tāhi devatāhi saddhiṁ sannivutthapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā’”ti.
When he had spoken, Venerable Sabhiya Kaccāna said to Venerable Anuruddha, “Good, Honorable Anuruddha!
Venerable Anuruddha, you don’t say, ‘So I have heard’ or ‘It ought to be like this.’ Rather, you say: ‘These deities are like this, those deities are like that.’ Sir, it occurs to me, ‘Clearly, Venerable Anuruddha has previously lived together with those deities, conversed, and engaged in discussion.’”
“Your words are clearly invasive and intrusive, Reverend Kaccāna. Nevertheless, I will answer you. For a long time I have previously lived together with those deities, conversed, and engaged in discussion.”
235. Khi được nói như vậy, tôn giả Sabhiya Kaccāna đã nói với tôn giả Anuruddha điều này: “Lành thay, thưa ngài Anuruddha! Thưa ngài, tôn giả Anuruddha không nói rằng: ‘Tôi đã nghe như vậy’ hay ‘Việc này có thể là như vậy’. Mà trái lại, thưa ngài, tôn giả Anuruddha chỉ nói rằng: ‘Các vị chư thiên ấy là như thế này, các vị chư thiên ấy là như thế kia’. Thưa ngài, con có suy nghĩ như sau: ‘Chắc chắn tôn giả Anuruddha đã từng sống chung, từng trò chuyện, và từng đàm luận cùng với các vị chư thiên ấy.’” “Chắc chắn rồi, này hiền giả Kaccāna, lời nói này được nói ra một cách công kích và ám chỉ. Tuy nhiên, ta sẽ giải thích cho ông: ‘Này hiền giả Kaccāna, trong một thời gian dài, ta đã từng sống chung, từng trò chuyện, và từng đàm luận cùng với các vị chư thiên ấy.’”
Evaṁ vutte, āyasmā sabhiyo kaccāno pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca: “lābhā te, gahapati, suladdhaṁ te, gahapati, yaṁ tvañceva taṁ kaṅkhādhammaṁ pahāsi, mayañcimaṁ dhammapariyāyaṁ alatthamhā savanāyā”ti.
When he had spoken, Venerable Sabhiya Kaccāna said to Pañcakaṅga the chamberlain, “You’re fortunate, householder, so very fortunate, to have given up your state of uncertainty, and to have got the chance to listen to this exposition of the teaching.”
Khi được nói như vậy, tôn giả Sabhiya Kaccāna đã nói với người thợ mộc Pañcakaṅga điều này: “Thật là lợi ích cho ông, thưa gia chủ, thật là lợi ích lớn cho ông, thưa gia chủ, khi chính ông đã từ bỏ được sự nghi ngờ ấy, và chúng tôi cũng được nghe pháp thoại này.”
Anuruddhasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Anuruddha, thứ bảy, đã kết thúc.