- Majjhima Nikāya 115
Bahudhātukasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Bahudhātukasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí (pandita). Phàm có những thất vọng gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả thất vọng ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Phàm có những hoạn nạn gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả hoạn nạn ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Ví như, này các Tỷ-kheo, tia lửa từ ngôi nhà bằng cỏ, thiêu cháy ngôi nhà có lầu gác được trét trong trét ngoài, được che chở khỏi gió, có chốt khóa gài kỹ, có cửa sổ đóng kỹ; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí; phàm có những thất vọng gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những thất vọng ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí; phàm có những hoạn nạn gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những hoạn nạn ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu đầy những sợ hãi, người hiền trí không có sợ hãi. Kẻ ngu đầy những thất vọng, người hiền trí không có thất vọng. Kẻ ngu đầy những hoạn nạn, người hiền trí không có hoạn nạn. Này các Tỷ-kheo, không có sợ hãi cho người hiền trí, không có thất vọng cho người hiền trí, không có hoạn nạn cho người hiền trí. Do vậy, này các Tỷ-kheo, “Chúng tôi sẽ thành người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”, như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
SC 3Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 4—Ðến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu?”
SC 5—Cho đến khi, này Ānanda, Tỷ-kheo thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi và thiện xảo về xứ phi xứ, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”.
SC 6—Ðến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”
SC 7—Này Ānanda, có mười tám giới này: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới. Này Ānanda, cho đến khi biết được, thấy được mười tám giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.
SC 8—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”
SC 9—Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có sáu giới này: địa giới, thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới. Này Ānanda, cho đến khi biết được, thấy được sáu giới này, cho đến mực độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.
SC 10—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.
SC 11—Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có sáu giới này: lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, vô minh giới. Này Ānanda, cho đến khi biết được, thấy được sáu giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.
SC 12—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”
SC 13—Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có sáu giới này: dục giới, ly dục giới, sân giới, vô sân giới, hại giới, bất hại giới. Này Ānanda, cho đến khi biết được, thấy được sáu giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.
SC 14—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”
SC 15—Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có ba giới này: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Này Ānanda, cho đến khi biết được, thấy được ba giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.
SC 16—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”
SC 17—Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có hai giới này: hữu vi giới và vô vi giới. Này Ānanda, cho đến khi biết được, thấy được hai giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”
SC 18—Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ?”
SC 19—Này Ānanda, có sáu nội xứ, ngoại xứ này: mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Này Ānanda, cho đến khi biết được, thấy được sáu nội ngoại xứ này, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ”.
SC 20—Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi?”
SC 21—Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; do duyên sanh lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy, này Ānanda, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
SC 22Nhưng do sự diệt trừ, sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh này, các hành diệt; do các hành diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt hoàn toàn của khổ uẩn này. Cho đến như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi”.
SC 23—Nhưng cho đến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ phi xứ?”
SC 24—Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: khi một người thành tựu (chánh) kiến lại đi đến các hành (samkhara) và xem là thường còn. Sự kiện như vậy không xảy ra”. Và vị ấy biết rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người phàm phu đi đến các hành và xem là thường còn. Sự hiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến, lại có thể đi đến các hành với ý niệm lạc thọ. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người phàm phu đi đến các hành với ý niệm lạc thọ. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người nào thành tựu (chánh) kiến, lại có thể đi đến các pháp với ý niệm tự ngã. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người phàm phu đi đến các pháp với ý niệm tự ngã. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
SC 25Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: khi một người thành tựu (chánh) kiến, có thể giết sinh mạng người mẹ. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu có thể giết sinh mạng người mẹ. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến, có thể giết sinh mạng người cha … có thể giết sinh mạng A-la-hán. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể với ác tâm làm Như Lai chảy máu. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu với ác tâm làm Như Lai chảy máu. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể phá hòa hợp Tăng. Sự kiện như vậy không xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu có thể phá hòa hợp với Tăng. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể đề cao một Ðạo sư khác. Sự kiên như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu đề cao một Ðạo sư khác. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
SC 26Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi cùng trong một thế giới (lokadhatu), hai A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể xuất hiện (một lần) không trước không sau. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi cùng trong một thế giới, một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể xuất hiện. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra: Khi cùng trong một thế giới, hai vua Chuyển Luân có thể xuất hiện (một lần), không trước không sau. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi trong một thế giới, một vị vua Chuyển Luân có thể xuất hiện. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
SC 27Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: Sự kiện này có xảy ra: Khi một nam nhân có thể thành một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy có xảy ra. “Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành Sakka (Ðế -thích). Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một nam nhân có thể trở thành Sakka. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể trở thành Ma vương. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra khi một nam nhân trở thành một Ma vương. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể trở thành Phạm thiên. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một nam nhân có thể trở thành Phạm thiên. Sự kiện này như vậy có xảy ra”.
SC 28Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một thân ác hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện này không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một thân ác hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một khẩu ác hành … Khi một ý ác hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một ý ác hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
SC 29Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một thân thiện hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một thân thiện hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một khẩu thiện hành … một ý thiện hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một ý thiện hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
SC 30Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì thân ác hành, do nhân thân ác hành ấy, do duyên thân ác hành ấy sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người hành trì thân ác hành, do nhân thân ác hành ấy, do duyên thân ác hành ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện này có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu ác hành … hành trì ý ác hành, do nhân ý ác hành ấy, do duyên ý ác hành ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, khi một người hành trì khẩu ác hành … ý ác hành, sau khi thân hoại mạng chung có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
SC 31Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì thân thiện hành, do nhân thân thiện hành ấy, do duyên thân thiện ấy, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người hành trì thân thiện hành, do nhân thân thiện hành ấy, do duyên thân thiện hành ấy, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu thiện hành … hành trì thiện hành, do nhân ý thiện hành ấy, do duyên ý thiện hành ấy, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu thiện hành … hành trì ý thiện hành, do nhân ý thiện hành ấy, do duyên ý thiện hành ấy, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
SC 32Cho đến mức độ như vậy, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ phi xứ”.
SC 33Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 34—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp môn này có tên gì?
SC 35—Do vậy, này Ānanda, Ông hãy thọ trì pháp môn này là Ða giới, hãy thọ trì pháp môn nầy là Bốn chuyển (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Pháp kính (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Trống bất tử, hãy thọ trì pháp môn này là Vô thượng chiến thắng.
SC 36Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Middle Length Discourses of the Buddha”, Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995). 14–07–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Nhiều Giới
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
124. Tôi nghe như vầy – một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu”. “Bạch Thế Tôn”, các vị Tỳ khưu ấy vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Yāni kānici, bhikkhave, bhayāni uppajjanti sabbāni tāni bālato uppajjanti, no paṇḍitato; ye keci upaddavā uppajjanti sabbe te bālato uppajjanti, no paṇḍitato; ye keci upasaggā uppajjanti sabbe te bālato uppajjanti, no paṇḍitato. Seyyathāpi, bhikkhave, naḷāgārā vā tiṇāgārā vā aggi mutto kūṭāgārānipi dahati ullittāvalittāni nivātāni phusitaggaḷāni pihitavātapānāni; evameva kho, bhikkhave, yāni kānici bhayāni uppajjanti sabbāni tāni bālato uppajjanti, no paṇḍitato; ye keci upaddavā uppajjanti sabbe te bālato uppajjanti, no paṇḍitato; ye keci upasaggā uppajjanti sabbe te bālato uppajjanti, no paṇḍitato. Iti kho, bhikkhave, sappaṭibhayo bālo, appaṭibhayo paṇḍito; saupaddavo bālo, anupaddavo paṇḍito; saupasaggo bālo, anupasaggo paṇḍito. Natthi, bhikkhave, paṇḍitato bhayaṁ, natthi paṇḍitato upaddavo, natthi paṇḍitato upasaggo. Tasmātiha, bhikkhave, ‘paṇḍitā bhavissāma vīmaṁsakā’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
“Whatever dangers there are, all come from the foolish, not from the astute. Whatever perils there are, all come from the foolish, not from the astute. Whatever hazards there are, all come from the foolish, not from the astute. It’s like a fire that spreads from a hut made of reeds or grass, and burns down even a bungalow, plastered inside and out, draft-free, with doors fastened and windows shuttered. In the same way, whatever dangers there are, all come from the foolish, not from the astute. Whatever perils there are, all come from the foolish, not from the astute. Whatever hazards there are, all come from the foolish, not from the astute. So, the fool is dangerous, but the astute person is safe. The fool is perilous, but the astute person is not. The fool is hazardous, but the astute person is not. There’s no danger, peril, or hazard that comes from the astute. So you should train like this: ‘We shall be astute, we shall be inquirers.’”
“Này các Tỳ khưu, bất cứ sự sợ hãi nào phát sinh, tất cả chúng đều phát sinh từ người ngu, không phải từ người trí; bất cứ tai ương nào phát sinh, tất cả chúng đều phát sinh từ người ngu, không phải từ người trí; bất cứ chướng ngại nào phát sinh, tất cả chúng đều phát sinh từ người ngu, không phải từ người trí. Ví như, này các Tỳ khưu, ngọn lửa phát ra từ nhà lợp sậy hay nhà lợp cỏ cũng đốt cháy cả những ngôi nhà có nóc nhọn, được trát trong và ngoài, kín gió, có cửa cài then, có cửa sổ đóng kín; cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ sự sợ hãi nào phát sinh, tất cả chúng đều phát sinh từ người ngu, không phải từ người trí; bất cứ tai ương nào phát sinh, tất cả chúng đều phát sinh từ người ngu, không phải từ người trí; bất cứ chướng ngại nào phát sinh, tất cả chúng đều phát sinh từ người ngu, không phải từ người trí. Như vậy, này các Tỳ khưu, người ngu có sợ hãi, người trí không có sợ hãi; người ngu có tai ương, người trí không có tai ương; người ngu có chướng ngại, người trí không có chướng ngại. Này các Tỳ khưu, từ người trí không có sự sợ hãi, từ người trí không có tai ương, từ người trí không có chướng ngại. Do đó, này các Tỳ khưu, các ông phải học tập rằng: ‘Chúng ta sẽ là người có trí tuệ, người có thẩm sát’.”
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “kittāvatā nu kho, bhante, paṇḍito bhikkhu ‘vīmaṁsako’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Yato kho, ānanda, bhikkhu dhātukusalo ca hoti, āyatanakusalo ca hoti, paṭiccasamuppādakusalo ca hoti, ṭhānāṭhānakusalo ca hoti—ettāvatā kho, ānanda, paṇḍito bhikkhu ‘vīmaṁsako’ti alaṁvacanāyā”ti.
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Sir, how is a mendicant qualified to be called ‘astute, an inquirer’?”
“Ānanda, it’s when a mendicant is skilled in the elements, in the sense fields, in dependent origination, and in the possible and the impossible. That’s how a mendicant is qualified to be called ‘astute, an inquirer’.”
Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch với Đức Thế Tôn lời này: “Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào thì một vị Tỳ khưu có trí tuệ mới xứng đáng được gọi là ‘người có thẩm sát’?” “Này Ānanda, khi một vị Tỳ khưu thiện xảo về các giới, thiện xảo về các xứ, thiện xảo về lý duyên khởi, và thiện xảo về xứ và phi xứ, này Ānanda, cho đến mức độ ấy thì một vị Tỳ khưu có trí tuệ mới xứng đáng được gọi là ‘người có thẩm sát’.”
“Kittāvatā pana, bhante, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Aṭṭhārasa kho imā, ānanda, dhātuyo—cakkhudhātu, rūpadhātu, cakkhuviññāṇadhātu; sotadhātu, saddadhātu, sotaviññāṇadhātu; ghānadhātu, gandhadhātu, ghānaviññāṇadhātu; jivhādhātu, rasadhātu, jivhāviññāṇadhātu; kāyadhātu, phoṭṭhabbadhātu, kāyaviññāṇadhātu; manodhātu, dhammadhātu, manoviññāṇadhātu. Imā kho, ānanda, aṭṭhārasa dhātuyo yato jānāti passati—ettāvatāpi kho, ānanda, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
“But sir, how is a mendicant qualified to be called ‘skilled in the elements’?”
“There are, Ānanda, these eighteen elements. The eye element, sight element, and eye consciousness element. The ear element, sound element, and ear consciousness element. The nose element, smell element, and nose consciousness element. The tongue element, taste element, and tongue consciousness element. The body element, touch element, and body consciousness element. The mind element, ideas element, and mind consciousness element. When a mendicant knows and sees these eighteen elements, they’re qualified to be called ‘skilled in the elements’.”
125. “Bạch Thế Tôn, đến mức độ nào thì có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’?” “Này Ānanda, có mười tám giới này: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới. Này Ānanda, khi vị ấy biết, thấy mười tám giới này, này Ānanda, chỉ với chừng ấy cũng có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’.”
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo, yathā ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Siyā, ānanda. Chayimā, ānanda, dhātuyo—pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu. Imā kho, ānanda, cha dhātuyo yato jānāti passati—ettāvatāpi kho, ānanda, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
“But sir, could there be another way in which a mendicant is qualified to be called ‘skilled in the elements’?”
“There could, Ānanda. There are these six elements: the elements of earth, water, fire, air, space, and consciousness. When a mendicant knows and sees these six elements, they’re qualified to be called ‘skilled in the elements’.”
“Bạch Thế Tôn, có thể có phương pháp nào khác, mà theo đó có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’ không?” “Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có sáu giới này: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, và thức giới. Này Ānanda, khi vị ấy biết, thấy sáu giới này, này Ānanda, chỉ với chừng ấy cũng có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’.”
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo, yathā ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Siyā, ānanda. Chayimā, ānanda, dhātuyo—sukhadhātu, dukkhadhātu, somanassadhātu, domanassadhātu, upekkhādhātu, avijjādhātu. Imā kho, ānanda, cha dhātuyo yato jānāti passati—ettāvatāpi kho, ānanda, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
“But sir, could there be another way in which a mendicant is qualified to be called ‘skilled in the elements’?”
“There could, Ānanda. There are these six elements: the elements of pleasure, pain, happiness, sadness, equanimity, and ignorance. When a mendicant knows and sees these six elements, they’re qualified to be called ‘skilled in the elements’.”
“Bạch Thế Tôn, có thể có phương pháp nào khác, mà theo đó có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’ không?” “Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có sáu giới này: lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, và vô minh giới. Này Ānanda, khi vị ấy biết, thấy sáu giới này, này Ānanda, chỉ với chừng ấy cũng có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’.”
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo, yathā ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Siyā, ānanda. Chayimā, ānanda, dhātuyo—kāmadhātu, nekkhammadhātu, byāpādadhātu, abyāpādadhātu, vihiṁsādhātu, avihiṁsādhātu. Imā kho, ānanda, cha dhātuyo yato jānāti passati—ettāvatāpi kho, ānanda, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
“But sir, could there be another way in which a mendicant is qualified to be called ‘skilled in the elements’?”
“There could, Ānanda. There are these six elements: the elements of sensuality and renunciation, malice and good will, and cruelty and harmlessness. When a mendicant knows and sees these six elements, they’re qualified to be called ‘skilled in the elements’.”
“Bạch Thế Tôn, có thể có phương pháp nào khác, mà theo đó có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’ không?” “Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có sáu giới này: dục giới, xuất ly giới, sân giới, vô sân giới, hại giới, và vô hại giới. Này Ānanda, khi vị ấy biết, thấy sáu giới này, này Ānanda, chỉ với chừng ấy cũng có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’.”
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo, yathā ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Siyā, ānanda. Tisso imā, ānanda, dhātuyo—kāmadhātu, rūpadhātu, arūpadhātu. Imā kho, ānanda, tisso dhātuyo yato jānāti passati—ettāvatāpi kho, ānanda, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
“But sir, could there be another way in which a mendicant is qualified to be called ‘skilled in the elements’?”
“There could, Ānanda. There are these three elements: the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm. When a mendicant knows and sees these three elements, they’re qualified to be called ‘skilled in the elements’.”
“Bạch Thế Tôn, có thể có phương pháp nào khác, mà theo đó có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’ không?” “Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có ba giới này: dục giới, sắc giới, và vô sắc giới. Này Ānanda, khi vị ấy biết, thấy ba giới này, này Ānanda, chỉ với chừng ấy cũng có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’.”
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo, yathā ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Siyā, ānanda. Dve imā, ānanda, dhātuyo—saṅkhatādhātu, asaṅkhatādhātu. Imā kho, ānanda, dve dhātuyo yato jānāti passati—ettāvatāpi kho, ānanda, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
“But sir, could there be another way in which a mendicant is qualified to be called ‘skilled in the elements’?”
“There could, Ānanda. There are these two elements: the conditioned element and the unconditioned element. When a mendicant knows and sees these two elements, they’re qualified to be called ‘skilled in the elements’.”
“Bạch Thế Tôn, có thể có phương pháp nào khác, mà theo đó có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’ không?” “Có thể có, này Ānanda. Này Ānanda, có hai giới này: hữu vi giới và vô vi giới. Này Ānanda, khi vị ấy biết, thấy hai giới này, này Ānanda, chỉ với chừng ấy cũng có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các giới’.”
“Kittāvatā pana, bhante, ‘āyatanakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Cha kho panimāni, ānanda, ajjhattikabāhirāni āyatanāni—cakkhu ceva rūpā ca sotañca saddā ca ghānañca gandhā ca jivhā ca rasā ca kāyo ca phoṭṭhabbā ca mano ca dhammā ca. Imāni kho, ānanda, cha ajjhattikabāhirāni āyatanāni yato jānāti passati—ettāvatā kho, ānanda, ‘āyatanakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
“But sir, how is a mendicant qualified to be called ‘skilled in the sense fields’?”
“There are these six interior and exterior sense fields: the eye and sights, the ear and sounds, the nose and smells, the tongue and tastes, the body and touches, and the mind and ideas. When a mendicant knows and sees these six interior and exterior sense fields, they’re qualified to be called ‘skilled in the sense fields’.”
126. “Bạch Thế Tôn, đến mức độ nào thì có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các xứ’?” “Này Ānanda, có sáu xứ nội và sáu xứ ngoại này: mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các mùi, lưỡi và các vị, thân và các vật xúc chạm, ý và các pháp. Này Ānanda, khi vị ấy biết, thấy sáu xứ nội và sáu xứ ngoại này, này Ānanda, chỉ với chừng ấy có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về các xứ’.”
“Kittāvatā pana, bhante, ‘paṭiccasamuppādakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Idhānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti: ‘imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati, imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati, yadidaṁ—avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṁ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti’. Ettāvatā kho, ānanda, ‘paṭiccasamuppādakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
“But sir, how is a mendicant qualified to be called ‘skilled in dependent origination’?”
“It’s when a mendicant understands: ‘When this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. When this doesn’t exist, this doesn’t come to be; due to the cessation of this, this ceases. That is: ignorance is a requirement for choices. Choices are a condition for consciousness. Consciousness is a requirement for name and form. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Craving is a requirement for grasping. Grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases no residue left behind, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. When consciousness ceases, name and form cease. When name and form cease, the six sense fields cease. When the six sense fields cease, contact ceases. When contact ceases, feeling ceases. When feeling ceases, craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.’ That’s how a mendicant is qualified to be called ‘skilled in dependent origination’.”
“Bạch Thế Tôn, đến mức độ nào thì có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về lý duyên khởi’?” “Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu tuệ tri như vầy: ‘Khi cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là: do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi; do các hành làm duyên, thức sanh khởi; do thức làm duyên, danh sắc sanh khởi; do danh sắc làm duyên, sáu xứ sanh khởi; do sáu xứ làm duyên, xúc sanh khởi; do xúc làm duyên, thọ sanh khởi; do thọ làm duyên, ái sanh khởi; do ái làm duyên, thủ sanh khởi; do thủ làm duyên, hữu sanh khởi; do hữu làm duyên, sanh sanh khởi; do sanh làm duyên, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Do sự ly tham và đoạn diệt vô dư chính vô minh ấy, các hành diệt; do các hành diệt, thức diệt; do thức diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, sáu xứ diệt; do sáu xứ diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này’. Này Ānanda, chỉ với chừng ấy có thể gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về lý duyên khởi’.”
“Kittāvatā pana, bhante, ‘ṭhānāṭhānakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Idhānanda, bhikkhu ‘aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo kañci saṅkhāraṁ niccato upagaccheyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano kañci saṅkhāraṁ niccato upagaccheyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo kañci saṅkhāraṁ sukhato upagaccheyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano kañci saṅkhāraṁ sukhato upagaccheyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo kañci dhammaṁ attato upagaccheyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti, ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano kañci dhammaṁ attato upagaccheyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
“But sir, how is a mendicant qualified to be called ‘skilled in the possible and impossible’?”
“It’s when a mendicant understands: ‘It’s impossible for an individual accomplished in view to take any condition as permanent. That is not possible. But it’s possible for an ordinary person to take some condition as permanent. That is possible.’ They understand: ‘It’s impossible for an individual accomplished in view to take any condition as pleasant. But it’s possible for an ordinary person to take some condition as pleasant.’ They understand: ‘It’s impossible for an individual accomplished in view to take anything as self. But it’s possible for an ordinary person to take something as self.’
127. “Bạch Thế Tôn, do mức độ nào, một vị tỳ khưu được gọi là người thiện xảo về xứ và phi xứ?” “Này Ānanda, ở đây vị tỳ khưu biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người có đầy đủ chánh kiến lại có thể chấp thủ bất cứ pháp hành nào là thường còn, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một kẻ phàm phu lại có thể chấp thủ bất cứ pháp hành nào là thường còn, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người có đầy đủ chánh kiến lại có thể chấp thủ bất cứ pháp hành nào là an lạc, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một kẻ phàm phu lại có thể chấp thủ bất cứ pháp hành nào là an lạc, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người có đầy đủ chánh kiến lại có thể chấp thủ bất cứ pháp nào là tự ngã, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một kẻ phàm phu lại có thể chấp thủ bất cứ pháp nào là tự ngã, trường hợp này có xảy ra.’”
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo mātaraṁ jīvitā voropeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano mātaraṁ jīvitā voropeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo pitaraṁ jīvitā voropeyya …pe… arahantaṁ jīvitā voropeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo duṭṭhacitto tathāgatassa lohitaṁ uppādeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano duṭṭhacitto tathāgatassa lohitaṁ uppādeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo saṅghaṁ bhindeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano saṅghaṁ bhindeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo aññaṁ satthāraṁ uddiseyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano aññaṁ satthāraṁ uddiseyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
They understand: ‘It’s impossible for an individual accomplished in view to murder their mother. But it’s possible for an ordinary person to murder their mother.’ They understand: ‘It’s impossible for an individual accomplished in view to murder their father … or murder a perfected one. But it’s possible for an ordinary person to murder their father … or murder a perfected one.’ They understand: ‘It’s impossible for an individual accomplished in view to injure a Realized One with malicious intent. But it’s possible for an ordinary person to injure a Realized One with malicious intent.’ They understand: ‘It’s impossible for an individual accomplished in view to cause a schism in the Saṅgha. But it’s possible for an ordinary person to cause a schism in the Saṅgha.’ They understand: ‘It’s impossible for an individual accomplished in view to dedicate themselves to another teacher. But it’s possible for an ordinary person to dedicate themselves to another teacher.’
128. “Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người có đầy đủ chánh kiến lại có thể sát hại mẹ, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một kẻ phàm phu lại có thể sát hại mẹ, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người có đầy đủ chánh kiến lại có thể sát hại cha, ... sát hại vị A-la-hán, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một kẻ phàm phu lại có thể sát hại cha, ... sát hại vị A-la-hán, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người có đầy đủ chánh kiến lại có thể với tâm ác ý làm cho Như Lai chảy máu, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một kẻ phàm phu lại có thể với tâm ác ý làm cho Như Lai chảy máu, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người có đầy đủ chánh kiến lại có thể gây chia rẽ Tăng chúng, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một kẻ phàm phu lại có thể gây chia rẽ Tăng chúng, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người có đầy đủ chánh kiến lại có thể chỉ định một vị thầy khác, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một kẻ phàm phu lại có thể chỉ định một vị thầy khác, trường hợp này có xảy ra.’”
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ ekissā lokadhātuyā dve arahanto sammāsambuddhā apubbaṁ acarimaṁ uppajjeyyuṁ, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ ekissā lokadhātuyā eko arahaṁ sammāsambuddho uppajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ ekissā lokadhātuyā dve rājāno cakkavattino apubbaṁ acarimaṁ uppajjeyyuṁ, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ ekissā lokadhātuyā eko rājā cakkavattī uppajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
They understand: ‘It’s impossible for two perfected ones, fully awakened Buddhas to arise in the same solar system at the same time. But it is possible for just one perfected one, a fully awakened Buddha, to arise in one solar system.’ They understand: ‘It’s impossible for two wheel-turning monarchs to arise in the same solar system at the same time. But it is possible for just one wheel-turning monarch to arise in one solar system.’
129. “Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc trong cùng một thế giới hệ lại có hai vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện không trước không sau, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc trong cùng một thế giới hệ lại có một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc trong cùng một thế giới hệ lại có hai vị vua Chuyển Luân xuất hiện không trước không sau, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc trong cùng một thế giới hệ lại có một vị vua Chuyển Luân xuất hiện, trường hợp này có xảy ra.’”
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ itthī arahaṁ assa sammāsambuddho, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puriso arahaṁ assa sammāsambuddho, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ itthī rājā assa cakkavattī, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puriso rājā assa cakkavattī, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ itthī sakkattaṁ kareyya … mārattaṁ kareyya … brahmattaṁ kareyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puriso sakkattaṁ kareyya … mārattaṁ kareyya … brahmattaṁ kareyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
They understand: ‘It’s impossible for a woman to be a perfected one, a fully awakened Buddha. But it is possible for a man to be a perfected one, a fully awakened Buddha.’ They understand: ‘It’s impossible for a woman to be a wheel-turning monarch. But it is possible for a man to be a wheel-turning monarch.’ They understand: ‘It’s impossible for a woman to perform the role of Sakka, Māra, or the Divinity. But it is possible for a man to perform the role of Sakka, Māra, or the Divinity.’
130. “Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người nữ có thể là vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một người nam có thể là vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người nữ có thể là vị vua Chuyển Luân, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một người nam có thể là vị vua Chuyển Luân, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc một người nữ có thể trở thành vị trời Đế Thích ... trở thành Ma vương ... trở thành Phạm thiên, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc một người nam có thể trở thành vị trời Đế Thích ... trở thành Ma vương ... trở thành Phạm thiên, trường hợp này có xảy ra.’”
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ kāyaduccaritassa iṭṭho kanto manāpo vipāko nibbatteyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ kāyaduccaritassa aniṭṭho akanto amanāpo vipāko nibbatteyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ vacīduccaritassa …pe… yaṁ manoduccaritassa iṭṭho kanto manāpo vipāko nibbatteyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ vacīduccaritassa …pe… yaṁ manoduccaritassa aniṭṭho akanto amanāpo vipāko nibbatteyya, ṭhānametaṁ vijjatīti pajānāti.
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ kāyasucaritassa aniṭṭho akanto amanāpo vipāko nibbatteyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ kāyasucaritassa iṭṭho kanto manāpo vipāko nibbatteyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ vacīsucaritassa …pe… yaṁ manosucaritassa aniṭṭho akanto amanāpo vipāko nibbatteyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ vacīsucaritassa …pe… yaṁ manosucaritassa iṭṭho kanto manāpo vipāko nibbatteyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
They understand: ‘It’s impossible for a likable, desirable, agreeable result to come from bad conduct of body, speech, and mind. But it is possible for an unlikable, undesirable, disagreeable result to come from bad conduct of body, speech, and mind.’
They understand: ‘It’s impossible for an unlikable, undesirable, disagreeable result to come from good conduct of body, speech, and mind. But it is possible for a likable, desirable, agreeable result to come from good conduct of body, speech, and mind.’
131. “Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc quả báo được mong cầu, được yêu thích, được vừa ý lại có thể sanh khởi từ thân ác hành, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc quả báo không được mong cầu, không được yêu thích, không được vừa ý lại có thể sanh khởi từ thân ác hành, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc quả báo được mong cầu, được yêu thích, được vừa ý lại có thể sanh khởi từ khẩu ác hành, ... từ ý ác hành, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc quả báo không được mong cầu, không được yêu thích, không được vừa ý lại có thể sanh khởi từ khẩu ác hành, ... từ ý ác hành, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc quả báo không được mong cầu, không được yêu thích, không được vừa ý lại có thể sanh khởi từ thân thiện hành, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc quả báo được mong cầu, được yêu thích, được vừa ý lại có thể sanh khởi từ thân thiện hành, trường hợp này có xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Đây là phi xứ, đây là phi cơ hội, việc quả báo không được mong cầu, không được yêu thích, không được vừa ý lại có thể sanh khởi từ khẩu thiện hành, ... từ ý thiện hành, trường hợp này không xảy ra.’ Vị ấy biết rằng: ‘Và đây là xứ, việc quả báo được mong cầu, được yêu thích, được vừa ý lại có thể sanh khởi từ khẩu thiện hành, ... từ ý thiện hành, trường hợp này có xảy ra.’”
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ kāyaduccaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ kāyaduccaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ vacīduccaritasamaṅgī …pe… yaṁ manoduccaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ vacīduccaritasamaṅgī …pe… yaṁ manoduccaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ kāyasucaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ kāyasucaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ vacīsucaritasamaṅgī …pe… yaṁ manosucaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ vacīsucaritasamaṅgī …pe… yaṁ manosucaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. Ettāvatā kho, ānanda, ‘ṭhānāṭhānakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
They understand: ‘It’s impossible that someone who has engaged in bad conduct of body, speech, and mind, could for that reason alone, when their body breaks up, after death, be reborn in a good place, a heavenly realm. But it is possible that someone who has engaged in bad conduct of body, speech, and mind could, for that reason alone, when their body breaks up, after death, be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.’
They understand: ‘It’s impossible that someone who has engaged in good conduct of body, speech, and mind could, for that reason alone, when their body breaks up, after death, be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. But it is possible that someone who has engaged in good conduct of body, speech, and mind could, for that reason alone, when their body breaks up, after death, be reborn in a good place, a heavenly realm.’ That’s how a mendicant is qualified to be called ‘skilled in the possible and impossible’.”
“‘Điều này không thể xảy ra, không có khả năng này: người có thân ác hạnh, do nguyên nhân ấy, do duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào thiện thú, thiên giới. Điều này không thể xảy ra,’ vị ấy tuệ tri như vậy. ‘Và điều này có thể xảy ra: người có thân ác hạnh, do nguyên nhân ấy, do duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Điều này có thể xảy ra,’ vị ấy tuệ tri như vậy. ‘Điều này không thể xảy ra, không có khả năng này: người có khẩu ác hạnh… người có ý ác hạnh, do nguyên nhân ấy, do duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào thiện thú, thiên giới. Điều này không thể xảy ra,’ vị ấy tuệ tri như vậy. ‘Và điều này có thể xảy ra: người có khẩu ác hạnh… người có ý ác hạnh, do nguyên nhân ấy, do duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Điều này có thể xảy ra,’ vị ấy tuệ tri như vậy. ‘Điều này không thể xảy ra, không có khả năng này: người có thân thiện hạnh, do nguyên nhân ấy, do duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Điều này không thể xảy ra,’ vị ấy tuệ tri như vậy. ‘Và điều này có thể xảy ra: người có thân thiện hạnh, do nguyên nhân ấy, do duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào thiện thú, thiên giới. Điều này có thể xảy ra,’ vị ấy tuệ tri như vậy. ‘Điều này không thể xảy ra, không có khả năng này: người có khẩu thiện hạnh… người có ý thiện hạnh, do nguyên nhân ấy, do duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Điều này không thể xảy ra,’ vị ấy tuệ tri như vậy. ‘Và điều này có thể xảy ra: người có khẩu thiện hạnh… người có ý thiện hạnh, do nguyên nhân ấy, do duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào thiện thú, thiên giới. Điều này có thể xảy ra,’ vị ấy tuệ tri như vậy. Này Ānanda, chừng ấy là đủ để gọi là ‘vị tỳ khưu thiện xảo về những gì có thể và không thể xảy ra’.”
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Konāmo ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Tasmātiha tvaṁ, ānanda, imaṁ dhammapariyāyaṁ ‘bahudhātuko’tipi naṁ dhārehi, ‘catuparivaṭṭo’tipi naṁ dhārehi, ‘dhammādāso’tipi naṁ dhārehi, ‘amatadundubhī’tipi naṁ dhārehi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’tipi naṁ dhārehī”ti.
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “It’s incredible, sir, it’s amazing! What is the name of this exposition of the teaching?”
“Well then, Ānanda, you may remember this exposition of the teaching as ‘The Many Elements’, or else ‘The Four Rounds’, or else ‘The Mirror of the Teaching’, or else ‘The Drum of Freedom From Death’, or else ‘The Supreme Victory in Battle’.”
132. Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn điều này: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên là gì?” “Này Ānanda, vì vậy, ngươi hãy ghi nhớ pháp môn này với tên là ‘Kinh Nhiều Giới,’ hãy ghi nhớ là ‘Kinh Bốn Vòng Chuyển,’ hãy ghi nhớ là ‘Pháp Kính,’ hãy ghi nhớ là ‘Trống Bất Tử,’ và hãy ghi nhớ là ‘Chiến Thắng Vô Thượng’.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói điều này. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bahudhātukasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Nhiều Giới, kinh thứ năm, kết thúc.