Bản dịch
MIL 8 — ĐOẠN KẾT
Nigamana
“Các câu hỏi của đức vua Milinda được truyền đạt ở trong tập sách này gồm có hai trăm sáu mươi hai câu hỏi, được chia thành hai mươi hai phẩm, thuộc về sáu chương, như vậy là đầy đủ. Tuy nhiên còn có bốn mươi hai câu hỏi chưa được truyền đạt. Tổng cộng tất cả các câu hỏi đã được truyền đạt và chưa được truyền đạt là ba trăm lẻ bốn câu hỏi. Hết thảy tất cả được gọi tên là: ‘Các câu hỏi của đức vua Milinda.’
Vào lúc kết thúc các câu hỏi và các câu trả lời của đức vua và vị trưởng lão, đại địa cầu này, có phần đất rắn là tám mươi bốn trăm ngàn (8.400.000) do-tuần, được bao quanh bởi nước, đã rúng động theo sáu cách, các tia sét đã phóng ra, chư Thiên đã đổ xuống cơn mưa bông hoa thuộc cõi Trời, Đại Phạm Thiên đã thốt lời tán thán, ở giữa lòng đại dương đã có tiếng động lớn tợ như tiếng gầm của sấm ở đám mây đen. Như thế, đức vua Milinda ấy và đoàn hậu cung đã chắp tay cúi mình, đê đầu đảnh lễ.
Đức vua Milinda, có tâm mừng rỡ tột độ, đã trở thành người có sự hiểu biết về Giáo Pháp của đức Phật, không còn hoài nghi ở ba ngôi báu, thoát khỏi bụi rậm, không còn ương bướng, đã được tịnh tín tột độ ở các đức hạnh, ở sự xuất gia, ở sự khéo thực hành, và bốn oai nghi của vị trưởng lão, được tự tin, không còn mong cầu, sự ngã mạn và kiêu ngạo đã được diệt trừ, tợ như rắn chúa có răng nanh đã bị nhổ đi, (đức vua) đã nói như vầy:
‘Thưa ngài Nāgasena, lành thay, lành thay! Các câu hỏi có liên quan đến đức Phật đã được ngài trả lời. Ở Giáo Pháp này của đức Phật, ngoại trừ trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, không có ai khác tương đương ngài trong việc trả lời các câu hỏi. Thưa ngài Nāgasena, xin ngài chấp nhận trẫm là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’
Từ đó, đức vua cùng với các đội binh lính phục vụ cho trưởng lão Nāgasena, cho xây dựng tu viện tên Milinda, sau đó dâng đến vị trưởng lão, rồi hộ độ bốn món vật dụng đến trưởng lão Nāgasena cùng với một trăm koṭi (một tỷ) vị tỳ khưu là các bậc Lậu Tận. Thêm nữa, sau khi đã được tịnh tín đối với trí tuệ của vị trưởng lão, sau khi đã trao lại vương quốc cho người con trai, đức vua đã rời nhà xuất gia sống không nhà, đã làm tăng trưởng pháp minh sát, và đã đạt được phẩm vị A-la-hán.” Vì thế, đã được nói rằng:
“Trí tuệ được ca tụng ở thế gian, việc thuyết giảng nhằm việc duy trì Chánh Pháp, sau khi trừ diệt sự phân vân bằng trí tuệ, các bậc sáng trí đạt được sự an tịnh.
Trí tuệ đứng vững ở trên vai của người nào, ở người nào niệm không thiếu sót, người ấy chính là bậc tối cao, vô thượng, nhận lãnh phần đặc biệt của sự cúng dường.
Chính vì thế, con người sáng trí, trong khi nhận thức về mục đích của bản thân, nên cúng dường các bậc có trí tuệ, ví như cúng dường ngôi bảo tháp là nơi đáng được cúng dường.”
“Vị đại trưởng lão tên Doṇi sống ở thành phố Doṇi thuộc xứ Laṅkā đã viết lại (tập sách) đã được xếp đặt khéo léo theo như đã được nghe,
Câu hỏi của đức vua Milinda và câu trả lời của vị Nāgasena, bởi vì Milinda có trí tuệ lớn lao và vị Nāgasena vô cùng sáng trí.
Do việc làm phước thiện này, mong rằng từ chốn này tôi đi đến cõi Trởi Đẩu Xuất, và ở ngày vị lai tôi có thể gặp (đức Phật) Metteyya, và có thể lắng nghe Giáo Pháp tối thượng.”
‘MILINDA VẤN ĐẠO’ ĐƯỢC CHẤM DỨT.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tadā rājā saha balakāyehi nāgasenattheraṃ payirupāsitvā milindaṃ nāma vihāraṃ kāretvā therassa niyyātetvā catūhi paccayehi nāgasenaṃ koṭisatehi bhikkhūhi saddhiṃ paricari, punapi therassa paññāya pasīditvā puttassa rajjaṃ niyyātetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā arahattaṃ pāpuṇi, tena vuttaṃ –
Then the king, together with his forces, attended upon the Elder Nāgasena. He had a monastery named 'Milinda' built and presented it to the elder. He served Nāgasena, together with a hundred koṭis of monks, with the four requisites. Later, once again pleased with the elder's wisdom, he handed over the kingdom to his son, went forth from the household life into homelessness, developed insight, and attained Arahantship. Hence it is said:
Khi ấy, đức vua cùng với quân đội đã hầu cận Trưởng lão Nāgasena, cho xây dựng một ngôi tịnh xá tên là Milinda và dâng cúng lên vị Trưởng lão, và đã hộ độ ngài Nāgasena cùng với hàng trăm ngàn vị tỳ-khưu bằng bốn món vật dụng. Một lần nữa, do tín thành với trí tuệ của vị Trưởng lão, ngài đã trao lại vương quốc cho con trai mình, từ bỏ đời sống tại gia, sống đời không gia đình, và sau khi phát triển tuệ minh sát, ngài đã chứng đắc quả A-la-hán. Do đó, có lời dạy rằng:
‘‘Paññā pasatthā lokasmiṃ, katā saddhammaṭṭhitiyā;
Paññāya vimatiṃ hantvā, santiṃ papponti paṇḍitā.
"Wisdom is praised in the world, made for the stability of the true Dhamma. Through wisdom, having destroyed doubt, the wise attain peace.
‘Trí tuệ ở đời được tán dương, được tạo ra vì sự vững bền của Chánh pháp; Bậc trí nhờ trí tuệ đoạn trừ hoài nghi, chứng đạt được sự tịch tịnh.’
Yasmiṃ khandhe ṭhitā paññā, sati tattha anūnakā;
Pūjā visesassādhāro, aggo seṭṭho † anuttaro;
Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṃ hitamattano †;
Paññavantaṃbhipūjeyya, cetiyaṃ viya sādaro’’ti †.
In whom wisdom is established, there mindfulness is unfailing. He is a basis for special veneration, highest, best, unsurpassed. Therefore, a wise person, seeing his own welfare, should revere one who is wise with the same respect as one would a shrine."
‘Trong uẩn nào có trí tuệ an trú, ở đó niệm không thiếu sót; (Người ấy) là nền tảng cho sự cúng dường đặc biệt, là bậc tối thượng, cao tột, vô song. Vì thế, người hiền trí, thấy được lợi ích cho chính mình, nên kính cẩn cúng dường người có trí tuệ, giống như cúng dường một bảo tháp.’
Laṅkāyaṃ doṇinagare, vasatā doṇināminā;
Mahātherena lekhitvā, suṭṭhapitaṃ yathāsutaṃ;
Milindarājapañho ca, nāgasenavisajjanaṃ;
Milindo hi mahāpañño, nāgaseno supaṇḍito;
Iminā puññakammena, ito gacchāmi tussitaṃ;
Metteyyaṃnāgate passe, suṇeyyaṃ dhammamuttamanti.
In the city of Doṇi in Laṅkā, by the great elder named Doṇi, who lived there, this was written down and well-established as it was heard: the questions of King Milinda and the answers of Nāgasena. Milinda was indeed of great wisdom; Nāgasena was supremely learned. By this meritorious deed, may I go from here to the Tusita heaven. In the future, may I see Metteyya and hear the highest Dhamma.
Tại thành Doṇi ở xứ Laṅkā, do vị Đại Trưởng lão tên là Doṇi, người trú tại đó, đã ghi chép và gìn giữ lại đúng như đã được nghe: những câu hỏi của vua Milinda và những lời giải đáp của ngài Nāgasena. Vua Milinda quả là bậc đại trí, ngài Nāgasena là bậc rất hiền trí. Do công đức này, nguyện cho con từ đây được sanh về cõi trời Tusita. Trong tương lai, nguyện cho con được thấy Đức Metteyya, được nghe Chánh pháp tối thượng.
The Questions of Milinda is concluded.
Milinda Vấn Đạo đã hoàn tất.