Bản dịch
MIL 6.1.5 — CÂU HỎI VỀ VIỆC TRỞ LẠI ĐỜI SỐNG TẠI GIA TẦM THƯỜNG
5. Hīnāyāvattanapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, Giáo Pháp này của đức Như Lai là vĩ đại, có lõi, cao quý, tối thượng, ưu tú, không thể sánh bằng, thanh thịnh, vô nhiễm, trong trắng, không chê trách được, không thích hợp để cho người vẫn còn tại gia xuất gia. Người tại gia sau khi đã hướng dẫn đến một quả vị, khi nào có sự không quay trở lại nữa, khi ấy mới nên cho người ấy xuất gia. Vì lý do gì? Những người này vẫn còn là người xấu, sau khi xuất gia ở đây, trong Giáo Pháp trong sạch, sẽ quay lui, trở lại đời sống tại gia tầm thường. Với việc đi ngược trở lại của những người này, đám đông dân chúng này suy nghĩ như vầy: ‘Giáo Pháp này của Sa-môn Gotama quả là rỗng không, khiến những người này quay lui.’ Ở đây, điều này là lý do.”
BJT 2“Tâu đại vương, giống như hồ nước được tràn đầy nước sạch, không dơ, mát mẻ, rồi người nào đó bị lấm lem, bị vấy bụi bặm và bùn đất sau khi đi đến hồ nước ấy không tắm rửa, rồi quay lui, vẫn còn bị lấm lem. Tâu đại vương, trong trường hợp ấy dân chúng nên chê trách ai, kẻ bị lấm lem hay là hồ nước?”
“Thưa ngài, dân chúng nên chê trách kẻ bị lấm lem rằng: ‘Người này sau khi đi đến hồ nước ấy không tắm rửa, rồi quay lui, vẫn còn bị lấm lem. Làm sao hồ nước tự nó sẽ tắm rửa cho kẻ không có ý định tắm rửa này? Vậy có điều sai trái gì đối với hồ nước?’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai đã tạo ra hồ nước cao quý là Chánh Pháp, được tràn đầy nước cao quý là sự giải thoát (nghĩ rằng): ‘Những người nào đó bị lấm lem bụi bặm phiền não, có suy tư, có trí tuệ, những người ấy sau khi tắm rửa ở đây sẽ tẩy sạch tất cả các phiền não.’ Nếu người nào đó sau khi đi đến hồ nước Chánh Pháp cao quý ấy không tắm rửa, rồi quay lui, trở lại đời sống tại gia tầm thường, vẫn còn phiền não. Dân chúng sẽ chê trách chính kẻ ấy rằng: ‘Người này sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thằng, không đạt được chỗ đứng ở nơi ấy nên đã trở lại đời sống tại gia tầm thường. Làm sao Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng sẽ tự mình làm trong sạch kẻ không thực hành này được? Vậy có điều sai trái gì đối với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng?’
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam bị bệnh trầm trọng, sau khi gặp người thầy thuốc giải phẩu, rành rẽ về nguyên nhân gây bệnh, có sự chữa trị hiệu quả và lâu dài, lại không cho chữa trị, rồi quay lui, vẫn còn bị bệnh. Trong trường hợp ấy dân chúng nên chê trách ai, kẻ bị bệnh hay là người thầy thuốc?”
“Thưa ngài, dân chúng nên chê trách kẻ bị bệnh rằng: ‘Người này sau khi gặp người thầy thuốc giải phẩu, rành rẽ về nguyên nhân gây bệnh, có sự chữa trị hiệu quả và lâu dài, lại không cho chữa trị, rồi quay lui, vẫn còn bị bệnh. Làm sao người thầy thuốc tự mình sẽ chữa trị cho kẻ không chịu để cho chữa trị này? Vậy có điều sai trái gì đối với người thầy thuốc?’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai đã bỏ vào bên trong cái hộp Giáo Pháp phương thuốc Bất Tử có khả năng làm yên lặng toàn bộ tất cả căn bệnh phiền não (nghĩ rằng): ‘Những người nào đó bị hành hạ bởi căn bệnh phiền não, có suy tư, có trí tuệ, những người ấy sau khi uống vào phương thuốc Bất Tử này sẽ làm yên lặng mọi căn bệnh phiền não.’ Nếu người nào đó sau khi không uống vào phương thuốc Bất Tử ấy, rồi quay lui, trở lại đời sống tại gia tầm thường, vẫn còn phiền não. Dân chúng sẽ chê trách chính kẻ ấy rằng: ‘Người này sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thằng, không đạt được chỗ đứng ở nơi ấy nên đã trở lại đời sống tại gia tầm thường. Làm sao Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng sẽ làm trong sạch kẻ không thực hành này được? Vậy có điều sai trái gì đối với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng?’
BJT 4Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam bị đói, sau khi đi đến nơi phân phát vật thực phước thiện lớn lao, lại không ăn vật thực ấy, rồi quay lui, vẫn còn bị đói. Trong trường hợp ấy dân chúng nên chê trách ai, kẻ bị đói hay là vật thực phước thiện?”
“Thưa ngài, dân chúng nên chê trách kẻ bị đói: ‘Người này, bị hành hạ bởi cơn đói, sau khi nhận lãnh vật thực phước thiện không ăn, rồi quay lui, vẫn còn bị đói. Làm sao vật thực tự nó sẽ đi vào miệng của kẻ không ăn này được? Vậy có điều sai trái gì đối với vật thực?’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai đã để vào bên trong cái hộp Giáo Pháp món vật thực Niệm Đặt Ở Thân cao quý tột bậc, yên tịnh, an toàn, hảo hạng, bất tử, ngọt ngào tột bậc (nghĩ rằng): ‘Những người nào đó bị đói ở nội phần do phiền não, có tâm bị chế ngự bởi tham ái, có suy tư, có trí tuệ, những người ấy sau khi thọ dụng vật thực này sẽ xa lìa tất cả tham ái ở dục giới, sắc giới, và vô sắc giới.’ Nếu người nào đó sau khi không ăn vật thực ấy, rồi quay lui, trở lại đời sống tại gia tầm thường, vẫn còn bị ràng buộc bởi tham ái. Dân chúng sẽ chê trách chính kẻ ấy rằng: ‘Người này sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thằng, không đạt được chỗ đứng ở nơi ấy nên đã trở lại đời sống tại gia tầm thường. Làm sao Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng sẽ làm trong sạch kẻ không thực hành này được? Vậy có điều sai trái gì đối với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng?’
BJT 5Tâu đại vương, nếu đức Như Lai cho xuất gia chỉ riêng người tại gia (nào) đã được hướng dẫn đến một quả vị, thế chẳng phải việc xuất gia này nhằm đưa đến việc dứt bỏ phiền não hay đưa đến sự thanh tịnh? Và không có việc gì cần phải làm với việc xuất gia? Tâu đại vương, giống như người nam sau khi cho đào cái hồ nước bằng hàng trăm lao động rồi thông báo đến tập thể như vầy: ‘Này quý ông, chớ để bất cứ những ai bị lấm lem bước xuống hồ nước này của tôi. Hãy để cho những người có bụi bặm dơ dáy đã được tẩy uế, trong sạch, đã kỳ cọ vết nhơ bước xuống hồ nước này.’ Tâu đại vương, phải chăng những người có bụi bặm dơ dáy đã được tẩy uế, trong sạch, đã kỳ cọ vết nhơ ấy là có việc cần làm với cái hồ nước ấy?”
BJT 6“Thưa ngài, không đúng. Với mục đích nào mà những người ấy đi đến hồ nước ấy, việc cần làm ấy của những người ấy đã được làm ở tại nơi khác rồi. Họ còn có việc gì với hồ nước ấy?”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nếu đức Như Lai cho xuất gia chỉ riêng người tại gia (nào) đã được hướng dẫn đến một quả vị, chính ở trường hợp ấy việc cần phải làm của những người ấy đã được làm xong. Họ còn có việc gì với việc xuất gia? Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc giải phẩu, người phục vụ tín cẩn của các vị ẩn sĩ, có sự ghi nhớ các chú thuật và các đoạn kệ ngôn đã được nghe, không là kẻ ngớ ngẩn, rành rẽ về nguyên nhân gây bệnh, có sự chữa trị hiệu quả và lâu dài, sau khi gom lại các loại thuốc men làm yên lặng tất cả các căn bệnh rồi thông báo đến tập thể như vầy: ‘Này quý ông, chớ để bất cứ những ai có bệnh đi đến gặp tôi. Hãy để cho những người không có bệnh không ốm đau đi đến gặp tôi.’ Tâu đại vương, phải chăng những người không có bệnh, không ốm đau, được toàn vẹn, được hưng phấn ấy là có việc cần làm với người thầy thuốc ấy?”
BJT 7“Thưa ngài, không đúng. Với mục đích nào mà những người ấy đi đến người thầy thuốc ấy, việc cần làm ấy của những người ấy đã được làm ở tại nơi khác rồi. Họ còn có việc gì với người thầy thuốc ấy?”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nếu đức Như Lai cho xuất gia chỉ riêng người tại gia (nào) đã được hướng dẫn đến một quả vị, chính ở trường hợp ấy việc cần phải làm của những người ấy đã được làm xong. Họ còn có việc gì với việc xuất gia?
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam nào đó, sau khi cho chuẩn bị bữa ăn hàng trăm đĩa cơm sữa, rồi thông báo đến tập thể như vầy: ‘Này quý ông, chớ để bất cứ những ai bị đói đi đến nơi phát chẩn này. Hãy để cho những người đã được ăn no, được thỏa mãn, được thừa thãi, no nê, cường tráng, đầy đủ đi đến nơi phát chẩn này.’ Tâu đại vương, phải chăng những người đã ăn xong, được thỏa mãn, được thừa thãi, no nê, cường tráng, đầy đủ ấy là có việc cần làm với bữa ăn ấy?”
BJT 8“Thưa ngài, không đúng. Với mục đích nào mà những người ấy đi đến nơi phát chẩn ấy, việc cần làm ấy của những người ấy đã được làm ở tại nơi khác rồi. Họ còn có việc gì với nơi phát chẩn ấy?”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nếu đức Như Lai cho xuất gia chỉ riêng người tại gia (nào) đã được hướng dẫn đến một quả vị, chính ở trường hợp ấy việc cần phải làm của những người ấy đã được làm xong. Họ còn có việc gì với việc xuất gia? Tâu đại vương, phải chăng những người nào trở lại đời sống tại gia tầm thường, những người ấy phô bày năm đức tính không thể so sánh ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Năm đức tính nào? Họ phô bày tính chất vĩ đại của lãnh địa, phô bày tính chất thanh tịnh không ô nhiễm, phô bày tính chất không sống chung với những kẻ ác, phô bày tính chất khó thấu triệt, phô bày tính chất cần được bảo vệ với nhiều sự thu thúc.
BJT 9Họ phô bày tính chất vĩ đại của lãnh địa là như thế nào? Tâu đại vương, giống như người nam không có tài sản, dòng dõi thấp kém, tầm thường, thấp thỏi về trí tuệ, sau khi đạt được vương quốc rộng lớn, không bao lâu sau sẽ sụp đổ, tiêu hoại, suy giảm về danh vọng, không thể duy trì vương quyền. Vì lý do gì? Vì tính chất vĩ đại của vương quyền. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào đó là tầm thường, không có phước báu đã tạo, thấp thỏi về trí tuệ, xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, những người ấy trong khi không thể duy trì việc xuất gia cao quý và tối thượng ấy, không bao lâu sau từ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng họ sụp đổ, tiêu hoại, suy giảm, trở lại đời sống tại gia tầm thường, không thể duy trì Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Vì lý do gì? Vì tính chất vĩ đại của lãnh địa Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Họ phô bày tính chất vĩ đại của lãnh địa là như thế ấy.
BJT 10Họ phô bày tính chất thanh tịnh không ô nhiễm là như thế nào? Tâu đại vương, giống như nước ở lá sen sẽ phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, rồi mất dạng, không bám níu. Vì lý do gì? Vì tính chất thanh tịnh không ô nhiễm của loài sen. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào đó là gian trá, giả dối, cong quẹo, quanh co, có quan điểm không ổn định, xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, những người ấy không bao lâu sau từ Giáo Pháp thanh tịnh không ô nhiễm, không gai góc, trong trắng, cao quý, và ưu tú, sẽ phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ vững, không bám níu, trở lại đời sống tại gia tầm thường. Vì lý do gì? Vì tính chất thanh tịnh không ô nhiễm ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Họ phô bày tính chất thanh tịnh không ô nhiễm là như thế ấy.
BJT 11Họ phô bày tính chất không sống chung với những kẻ ác là như thế nào? Tâu đại vương, giống như biển cả không sống chung với xác chết, nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ hoặc hất lên đất liền. Vì lý do gì? Vì việc cư trú của các chúng sanh to lớn ở nơi biển cả. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào đó có bản tánh không thu thúc, vô liêm sỉ, không nghiêm chỉnh, có sự tinh tấn yếu ớt, biếng nhác, ô uế, đê tiện, xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, những người ấy không bao lâu sau sẽ lìa khỏi Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, khỏi nơi cư trú của các chúng sanh to lớn, các bậc A-la-hán, vô nhiễm, lậu tận, không cộng trú, và trở lại đời sống tại gia tầm thường. Vì lý do gì? Vì tính chất không sống chung với những kẻ ác ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Họ phô bày tính chất không sống chung với những kẻ ác là như thế ấy.
BJT 12Họ phô bày tính chất khó thấu triệt là như thế nào? Tâu đại vương, giống như những người nào đó là cung thủ, không thành thạo, không được học tập, không rành nghề, không tập trung tâm, trong khi không thể xuyên thủng đầu của cọng tóc, buông rơi (cung), bỏ đi. Vì lý do gì? Vì tính chất tinh vi, tế nhị, khó xuyên thủng của đầu cọng tóc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào đó có tuệ tồi, ngu xuẩn, ngớ ngẩn, si mê, điệu bộ chậm chạp, xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, những người ấy trong khi không thể xuyên thủng việc thấu triệt ấy đối với bốn Chân Lý vô cùng tinh vi, tế nhị, buông rơi Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, bỏ đi, không bao lâu sau trở lại đời sống tại gia tầm thường. Vì lý do gì? Vì tính chất vô cùng tinh vi, tế nhị, khó thấu triệt của bốn Chân Lý. Họ phô bày tính chất khó thấu triệt là như thế ấy.
BJT 13Họ phô bày tính chất cần được bảo vệ với nhiều sự thu thúc là như thế nào? Tâu đại vương, giống như người nam nào đó đi đến gần bãi chiến trường lớn lao vĩ đại rồi bị bao vây chung quanh khắp các hướng chính hướng phụ bởi đội quân địch, sau khi nhìn thấy người tay cầm gươm đang tiến đến gần thì hoảng sợ, thối lui, quay trở lại, đào tẩu. Vì lý do gì? Vì nỗi sợ hãi trong việc bảo vệ các tiền tuyến của cuộc chiến đấu đa dạng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào đó, có bản tánh không thu thúc, vô liêm sỉ, không nghiêm chỉnh, không nhẫn nại, thất thường, bị dao động, hay thay đổi, là những người ngu dốt, xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, những người ấy trong khi không thể bảo vệ trọn vẹn điều học có nhiều loại, thì thối lui, quay trở lại, đào tẩu, không bao lâu sau thì trở lại đời sống tại gia tầm thường. Vì lý do gì? Vì tính chất cần được bảo vệ sự thu thúc có nhiều loại thuộc Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Họ phô bày tính chất cần được bảo vệ với nhiều sự thu thúc là như thế ấy.
BJT 14Tâu đại vương, ở bụi hoa nhài trâu, dầu là hạng nhất trong số các loài hoa mọc ở đất bằng, cũng có những bông hoa bị sâu ăn, những chồi non ấy, bị quắn lại, rồi rơi rụng chính vì sự hư hoại. Nhưng không vì chúng bị rơi rụng mà bụi hoa nhài bị xem thường. Những bông hoa nào còn tồn tại ở nơi ấy, chúng tỏa khắp các hướng chính phụ với hương thơm chân chánh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng rồi trở lại đời sống tại gia tầm thường, những người ấy trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng có giới không còn phẩm chất và hình tướng, ví như những bông hoa nhài bị sâu ăn, mất đi màu sắc và hương thơm, không thể đưa đến sự phát triển trọn vẹn. Nhưng không vì việc trở lại đời sống tại gia tầm thường của những người ấy mà Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng bị xem thường. Các vị tỳ khưu nào còn tồn tại ở nơi ấy, các vị ấy tỏa khắp thế gian luôn cả cõi Trời với hương thơm cao quý của giới.
Tâu đại vương, có loại lúa sāli tên là karumbhaka, sau khi mọc lên ở khoảng giữa của các giống lúa sāli gạo đỏ không bị èo oặt, rồi bị tiêu hoại lúc còn ở giai đoạn giữa chừng. Nhưng không vì việc bị tiêu hoại của loại lúa ấy mà giống lúa sāli gạo đỏ bị xem thường. Những lúa sāli nào còn tồn tại ở nơi ấy, chúng là vật thực của đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng rồi trở lại đời sống tại gia tầm thường, những người ấy, ví như karumbhaka ở khoảng giữa của các loại lúa sāli gạo đỏ, sau khi tăng trưởng không đạt đến sự phát triển trọn vẹn ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, rồi trở lại đời sống tại gia tầm thường từ ở chính khoảng giữa. Nhưng không vì việc trở lại đời sống tại gia tầm thường của những người ấy mà Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng bị xem thường. Các vị tỳ khưu nào còn tồn tại ở nơi ấy, các vị ấy là thích đáng đối với phẩm vị A-la-hán.
BJT 15Tâu đại vương, viên bảo ngọc ma-ni, vật ban cho điều ước, có một phần sần sùi sanh khởi. Nhưng không vì việc bị sanh khởi phần sần sùi ở chỗ ấy mà viên bảo ngọc ma-ni bị xem thường. Phần nào ở chỗ ấy của viên bảo ngọc ma-ni là trong suốt, phần ấy có sự tạo ra niềm vui thích cho dân chúng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng rồi trở lại đời sống tại gia tầm thường, những người ấy là lớp vỏ ngoài sần sùi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Nhưng không vì việc trở lại đời sống tại gia tầm thường của những người ấy mà Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng bị xem thường. Các vị tỳ khưu nào còn tồn tại ở nơi ấy, các vị ấy có sự tạo ra niềm vui thích cho chư Thiên và nhân loại.
Tâu đại vương, trầm hương màu đỏ chánh tông có một phần bị hư hỏng, [không có mùi thơm. Nhưng không vì việc ấy mà trầm hương màu đỏ bị xem thường.] Phần nào ở chỗ ấy là không hư hỏng, có mùi thơm, phần ấy xông khói, tỏa khắp xung quanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng rồi trở lại đời sống tại gia tầm thường, những người ấy ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, ví như phần bị hư hỏng ở giữa lõi trầm hương màu đỏ, đáng được quăng bỏ. Nhưng không vì việc trở lại đời sống tại gia tầm thường của những người ấy mà Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng bị xem thường. Các vị tỳ khưu nào còn tồn tại ở nơi ấy, các vị ấy bôi xức thế gian luôn cả cõi Trời với mùi thơm của trầm hương quý giá là giới.”
BJT 16“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Bằng lý lẽ thích đáng với mỗi một trường hợp, tương xứng với mỗi một trường hợp, sự không có lỗi lầm đã được ghi nhận, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với bản thể tối thượng đã được làm sáng tỏ. Thậm chí trong khi trở lại đời sống tại gia tầm thường, những người ấy cũng làm sáng tỏ chính bản thể tối thượng thuộc về Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.”
Câu hỏi về việc trở lại đời sống tại gia tầm thường là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Yathā, mahārāja, taḷāko bhaveyya sampuṇṇasucivimalasītalasalilo, atha yo koci kiliṭṭho malakaddamagato taṃ taḷākaṃ gantvā anahāyitvā kiliṭṭhova paṭinivatteyya, tattha, mahārāja, katamaṃ jano garaheyya kiliṭṭhaṃ vā taḷākaṃ vā’’ti? ‘‘Kiliṭṭhaṃ, bhante, jano garaheyya ‘ayaṃ taḷākaṃ gantvā anahāyitvā kiliṭṭhova paṭinivatto, kiṃ imaṃ anahāyitukāmaṃ taḷāko sayaṃ nahāpessati, ko doso taḷākassā’ti. Evameva kho, mahārāja, tathāgato vimuttivarasalilasampuṇṇaṃ saddhammavarataḷākaṃ māpesi ‘ye keci kilesamalakiliṭṭhā sacetanā budhā, te idha nahāyitvā sabbakilese pavāhayissantī’ti. Yadi koci taṃ saddhammavarataḷākaṃ gantvā anahāyitvā sakilesova paṭinivattitvā hīnāyāvattati taṃ yeva jano garahissati ‘ayaṃ jinasāsane pabbajitvā tattha patiṭṭhaṃ alabhitvā hīnāyāvatto, kiṃ imaṃ appaṭipajjantaṃ jinasāsanaṃ sayaṃ bodhessati, ko doso jinasāsanassā’ti?
“Great king, suppose there were a pond full of clear, pure, cool water. If someone who was dirty and covered in filth were to approach that pond and, without bathing, come out still dirty, who would people blame—the dirty person or the pond?” “They would blame the dirty person, venerable sir, saying, ‘This person went to the pond and, without bathing, came out still dirty. Will the pond itself bathe someone who does not wish to bathe? What fault is there in the pond?’ ” “Just so, great king, the Tathāgata has established this supreme Dhamma-pond, filled with the excellent waters of liberation, thinking, ‘Whoever is stained with the filth of defilements, if they are sentient and wise, may bathe here and wash away all their defilements.’ But if someone approaches this supreme Dhamma-pond and, without bathing, returns still defiled, reverting to a lower state—people will blame that very person, saying, ‘This person went forth in the teaching of the Victor but failed to gain a footing there and has reverted to a lower state. How can the teaching of the Victor itself enlighten someone who does not practice? What fault is there in the teaching of the Victor?’ ”
“Tâu Đại vương, ví như có một cái hồ đầy nước trong sạch, không tỳ vết, mát mẻ. Bấy giờ, có người nào đó dơ bẩn, lấm lem bùn nhơ đi đến hồ ấy, không tắm mà vẫn dơ bẩn trở về. Tâu Đại vương, trong trường hợp đó, người đời sẽ chê trách ai, người dơ bẩn hay cái hồ?” “Kính bạch ngài, người đời sẽ chê trách người dơ bẩn rằng: ‘Người này đã đến hồ mà không tắm, vẫn dơ bẩn trở về. Cái hồ làm sao có thể tự mình tắm cho kẻ không muốn tắm này được? Cái hồ có lỗi gì đâu?’. Cũng vậy, tâu Đại vương, Như Lai đã tạo ra cái hồ Diệu pháp cao quý, đầy nước giải thoát cao quý, với ý nghĩ rằng: ‘Những người trí nào có tâm, bị ô uế bởi phiền não, họ sẽ tắm ở đây và gột rửa mọi phiền não.’ Nếu có người nào đi đến cái hồ Diệu pháp cao quý ấy, không tắm mà vẫn còn phiền não, hoàn tục, trở về đời sống thấp hèn, thì người đời sẽ chê trách chính người ấy rằng: ‘Người này đã xuất gia trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, không tìm được chỗ nương tựa ở đó nên đã hoàn tục. Giáo pháp của bậc Chiến Thắng làm sao có thể tự mình làm cho kẻ không thực hành này giác ngộ được? Giáo pháp của bậc Chiến Thắng có lỗi gì đâu?’”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, puriso paramabyādhito roguppattikusalaṃ amoghadhuvasiddhakammaṃ bhisakkaṃ sallakattaṃ disvā atikicchāpetvā sabyādhikova paṭinivatteyya, tattha katamaṃ jano garaheyya āturaṃ vā bhisakkaṃ vā’’ti? ‘‘Āturaṃ, bhante, jano garaheyya ‘ayaṃ roguppattikusalaṃ amoghadhuvasiddhakammaṃ bhisakkaṃ sallakattaṃ disvā atikicchāpetvā sabyādhikova paṭinivatto, kiṃ imaṃ atikicchāpentaṃ bhisakko sayaṃ tikicchissati, ko doso bhisakkassā’’’ti? ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgato antosāsanasamugge kevalaṃ sakalakilesabyādhivūpasamanasamatthaṃ amatosadhaṃ pakkhipi, ‘ye keci kilesabyādhipīḷitā sacetanā budhā, te imaṃ amatosadhaṃ pivitvā sabbakilesabyādhiṃ vūpasamessantī’ti. Yadi koci yaṃ amatosadhaṃ apivitvā sakilesova paṭinivattitvā hīnāyāvattati, taṃ yeva jano garahissati ‘ayaṃ jinasāsane pabbajitvā tattha patiṭṭhaṃ alabhitvā hīnāyāvatto, kiṃ imaṃ appaṭipajjantaṃ jinasāsanaṃ sayaṃ bodhessati, ko doso jinasāsanassā’ti?
“Or just as, great king, a man gravely ill, seeing a physician and surgeon skilled in the origin of diseases, whose work is infallible, constant, and successful, might, without having himself treated, return still afflicted—who would people blame in that case, the patient or the physician?” “People would blame the patient, venerable sir, saying, ‘This man, seeing a physician and surgeon skilled in the origin of diseases, whose work is infallible, constant, and successful, returned still afflicted without having himself treated. How can the physician himself treat this one who does not seek treatment? What fault is there in the physician?’ ” “Just so, great king, the Tathāgata has placed within the casket of his teaching the deathless medicine, capable of completely pacifying the entire disease of defilements, thinking, ‘Whoever is afflicted by the disease of defilements, if they are sentient and wise, will drink this deathless medicine and pacify the entire disease of defilements.’ But if someone, without drinking this deathless medicine, returns still afflicted by defilements and reverts to a lower state—people will blame only him, saying, ‘This man, having gone forth in the dispensation of the Victor, failed to gain a footing there and reverted to a lower state. How can the dispensation of the Victor itself enlighten someone who does not practice? What fault is there in the dispensation of the Victor?’ ”
“Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như một người bị bệnh nặng, thấy một vị lương y giỏi về nguyên nhân bệnh, việc chữa trị không vô ích, chắc chắn thành công, có khả năng trừ bệnh, nhưng lại không cho chữa trị mà vẫn mang bệnh trở về. Trong trường hợp đó, người đời sẽ chê trách ai, người bệnh hay vị lương y?” “Kính bạch ngài, người đời sẽ chê trách người bệnh rằng: ‘Người này thấy vị lương y giỏi về nguyên nhân bệnh, việc chữa trị không vô ích, chắc chắn thành công, có khả năng trừ bệnh, nhưng lại không cho chữa trị mà vẫn mang bệnh trở về. Vị lương y làm sao có thể tự mình chữa trị cho người bệnh không chịu chữa này được? Vị lương y có lỗi gì đâu?’. Cũng vậy, tâu Đại vương, Như Lai đã đặt vào trong hộp thuốc giáo pháp phương thuốc bất tử có khả năng làm dịu mọi bệnh phiền não, với ý nghĩ rằng: ‘Những người trí nào có tâm, bị bệnh phiền não hành hạ, họ sẽ uống phương thuốc bất tử này và làm dịu mọi bệnh phiền não.’ Nếu có người nào không uống phương thuốc bất tử ấy mà vẫn còn phiền não, hoàn tục, trở về đời sống thấp hèn, thì người đời sẽ chê trách chính người ấy rằng: ‘Người này đã xuất gia trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, không tìm được chỗ nương tựa ở đó nên đã hoàn tục. Giáo pháp của bậc Chiến Thắng làm sao có thể tự mình làm cho kẻ không thực hành này giác ngộ được? Giáo pháp của bậc Chiến Thắng có lỗi gì đâu?’”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, chāto puriso mahatimahāpuññabhattaparivesanaṃ gantvā taṃ bhattaṃ abhuñjitvā chātova paṭinivatteyya, tattha katamaṃ jano garaheyya chātaṃ vā puññabhattaṃ vā’’ti? ‘‘Chātaṃ, bhante, jano garaheyya ‘ayaṃ khudāpīḷito puññabhattaṃ paṭilabhitvā abhuñjitvā chātova paṭinivatto, kiṃ imassa abhuñjantassa bhojanaṃ sayaṃ mukhaṃ pavisissati, ko doso bhojanassā’’’ti? ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgato antosāsanasamugge paramapavaraṃ santaṃ sivaṃ paṇītaṃ amataṃ paramamadhuraṃ kāyagatāsatibhojanaṃ ṭhapesi ‘ye keci kilesachātajjhattā taṇhāparetamānasā sacetanā budhā, te imaṃ bhojanaṃ bhuñjitvā kāmarūpārūpabhavesu sabbaṃ taṇhamapanessantī’ti. Yadi koci taṃ bhojanaṃ abhuñjitvā taṇhāsitova paṭinivattitvā hīnāyāvattati, taññeva jano garahissati ‘ayaṃ jinasāsane pabbajitvā tattha patiṭṭhaṃ alabhitvā hīnāyāvatto, kiṃ imaṃ appaṭipajjantaṃ jinasāsanaṃ sayaṃ bodhessasi, ko doso jinasāsanassā’ti.
“Or just as, great king, a hungry man might go to a great and meritorious distribution of food but, without eating the food, return still hungry—who would people blame in that case, the hungry man or the meritorious food?” “The hungry man, venerable sir, would people blame, saying: ‘This man, afflicted by hunger, obtained the meritorious food but did not eat and returned still hungry. Will the food enter his mouth by itself if he does not eat? What fault is there in the food?’ ” “Just so, great king, the Tathāgata has set forth within the casket of his teaching the food of mindfulness directed to the body, which is supreme, excellent, peaceful, auspicious, sublime, deathless, and supremely sweet, thinking: ‘All those who are inwardly famished by defilements, whose minds are overwhelmed by craving, if they are sentient and wise—should they partake of this food, they will remove all craving for sensual, form, and formless existences.’ But if someone, without partaking of this food, returns still afflicted by craving and reverts to a lower state, people will blame that very person: ‘This one, having gone forth in the dispensation of the Victor, failed to gain a footing there and reverted to a lower state. How can the dispensation of the Victor enlighten him by itself if he does not practice? What fault is there in the dispensation of the Victor?’ ”
“Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như một người đói đi đến nơi cúng dường vật thực của những người có phước lớn, không ăn vật thực ấy mà vẫn đói trở về. Trong trường hợp đó, người đời sẽ chê trách ai, người đói hay vật thực phước báu?” “Kính bạch ngài, người đời sẽ chê trách người đói rằng: ‘Người này bị đói hành hạ, nhận được vật thực phước báu mà không ăn, vẫn đói trở về. Thức ăn làm sao có thể tự mình đi vào miệng của người không ăn này được? Thức ăn có lỗi gì đâu?’. Cũng vậy, tâu Đại vương, Như Lai đã đặt vào trong hộp đựng giáo pháp món ăn là niệm thân, một món ăn tuyệt hảo, an tịnh, an lành, vi diệu, bất tử, vô cùng ngọt ngào, với ý nghĩ rằng: ‘Những người trí nào có tâm, bên trong bị cái đói phiền não, tâm bị ái dục chi phối, họ sẽ ăn món ăn này và loại bỏ mọi ái dục trong các cõi dục, sắc, và vô sắc.’ Nếu có người nào không ăn món ăn ấy mà vẫn bị ái dục đói khát, hoàn tục, trở về đời sống thấp hèn, thì người đời sẽ chê trách chính người ấy rằng: ‘Người này đã xuất gia trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, không tìm được chỗ nương tựa ở đó nên đã hoàn tục. Giáo pháp của bậc Chiến Thắng làm sao có thể tự mình làm cho kẻ không thực hành này giác ngộ được? Giáo pháp của bậc Chiến Thắng có lỗi gì đâu?’”
‘‘Yadi, mahārāja, tathāgato gihiṃ yeva ekasmiṃ phale vinītaṃ pabbājeyya, na nāmāyaṃ pabbajjā kilesappahānāya visuddhiyā vā, natthi pabbajjāya karaṇīyaṃ. Yathā, mahārāja, puriso anekasatena kammena taḷākaṃ khaṇāpetvā parisāya evamanussāveyya ‘mā me, bhonto, keci saṃkiliṭṭhā imaṃ taḷākaṃ otaratha, pavāhitarajojallā parisuddhā vimalamaṭṭhā imaṃ taḷākaṃ otarathā’ti. Api nu kho, mahārāja, tesaṃ pavāhitarajojallānaṃ parisuddhānaṃ vimalamaṭṭhānaṃ tena taḷākena karaṇīyaṃ bhaveyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, yassatthāya te taṃ taḷākaṃ upagaccheyyuṃ, taṃ aññatreva tesaṃ kataṃ karaṇīyaṃ, kiṃ tesaṃ tena taḷākenā’’ti? ‘‘Evameva kho, mahārāja, yadi tathāgato gihiṃ yeva ekasmiṃ phale vinītaṃ pabbājeyya, tattheva tesaṃ kataṃ karaṇīyaṃ, kiṃ tesaṃ pabbajjāya.
“Great king, if the Tathāgata were to ordain only a householder who is already trained in one fruit, then this ordination would not be for the sake of abandoning defilements or for purification; there would be nothing to be done by ordination. Just as, great king, if a man were to have a pond dug with many hundreds of labors and then announce to the assembly: ‘Sirs, let none who are soiled enter this pond of mine. Only those who have washed away dust and dirt, who are pure, stainless, and polished, may enter this pond.’ Now, great king, would those who have washed away dust and dirt, who are pure, stainless, and polished, have any need for that pond?” “No, venerable sir. The purpose for which they would approach that pond would already have been accomplished by them elsewhere. What need would they have for that pond?” “Just so, great king, if the Tathāgata were to ordain only a householder who is already trained in one fruit, their task would already be accomplished right there. What need would they have for ordination?”
“Tâu Đại vương, nếu Như Lai chỉ cho xuất gia người tại gia đã được huấn luyện trong một quả vị, thì việc xuất gia này sẽ không phải để đoạn trừ phiền não hay để thanh tịnh nữa; không còn việc gì phải làm trong đời xuất gia. Tâu Đại vương, ví như một người cho đào một cái hồ với vô số công sức, rồi thông báo cho đại chúng rằng: ‘Này các vị, những ai dơ bẩn chớ có xuống hồ này của tôi. Chỉ những ai đã gột sạch bụi bẩn, đã trong sạch, không tỳ vết, sáng sủa mới được xuống hồ này.’ Tâu Đại vương, đối với những người đã gột sạch bụi bẩn, đã trong sạch, không tỳ vết, sáng sủa ấy, liệu họ còn có việc gì phải làm với cái hồ đó không?” “Bạch ngài, không ạ. Mục đích mà họ đến cái hồ đó, việc đó đã được họ làm xong ở nơi khác rồi. Họ còn cần gì đến cái hồ đó nữa?” “Cũng vậy, tâu Đại vương, nếu Như Lai chỉ cho xuất gia người tại gia đã được huấn luyện trong một quả vị, thì việc cần làm của họ đã được làm xong ngay tại đó rồi. Họ còn cần gì đến việc xuất gia nữa.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, sabhāvaisibhattiko sutamantapadadharo atakkiko roguppattikusalo amoghadhuvasiddhakammo bhisakko sallakatto sabbarogūpasamabhesajjaṃ sannipātetvā parisāya evamanussāveyya ‘mā kho, bhonto, keci sabyādhikā mama santike upagacchatha, abyādhikā arogā mama santike upagacchathā’ti. Api nu kho, mahārāja, tesaṃ abyādhikānaṃ arogānaṃ paripuṇṇānaṃ udaggānaṃ tena bhisakkena karaṇīyaṃ bhaveyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, yassatthāya te taṃ bhisakkaṃ sallakattaṃ upagaccheyyuṃ, taṃ aññatreva tesaṃ kataṃ karaṇīyaṃ, kiṃ tesaṃ tena bhisakkenā’’ti? ‘‘Evameva kho, mahārāja, yadi tathāgato gihiṃ yeva ekasmiṃ phale vinītaṃ pabbājeyya, tattheva tesaṃ kataṃ karaṇīyaṃ, kiṃ tesaṃ pabbajjāya?
“Just as, great king, a physician and surgeon—supported by his natural talent, well-versed in the texts, not speculative, skilled in the arising of diseases, whose actions are infallible and whose success is assured—having compounded a medicine that alleviates all diseases, might announce to an assembly: ‘Let no one who is sick come near me; let only those who are not sick, the healthy, come near me.’ Now, great king, would there be anything for that physician to do for those who are not sick, the healthy, complete, and joyful?” “No, venerable sir. The purpose for which they would approach that physician or surgeon would already have been accomplished by them elsewhere. What need would they have of that physician?” “Just so, great king, if the Tathāgata were to ordain a householder who is already established in one fruit, their task would already be accomplished right there. What need would they have for ordination?”
“Tâu Đại vương, lại nữa, ví như có một vị y sĩ giải phẫu, là môn đệ của một vị ẩn sĩ tự nhiên, thuộc lòng các câu thần chú, không cần suy đoán mà vẫn giỏi về nguồn gốc của bệnh tật, việc chữa trị không bao giờ thất bại, luôn thành công, có khả năng loại trừ bệnh tật, sau khi thu thập và bào chế các loại thuốc chữa được bách bệnh, liền loan báo giữa hội chúng rằng: ‘Này các bạn, những ai có bệnh thì đừng đến gần tôi. Những ai không bệnh, không tật thì hãy đến gần tôi.’ Tâu Đại vương, đối với những người không bệnh, không tật, sung mãn, phấn chấn ấy, liệu họ có còn việc gì cần đến vị y sĩ đó không?” “Bạch ngài, không ạ. Mục đích mà họ cần đến vị y sĩ giải phẫu ấy, việc đó của họ đã được thực hiện ở nơi khác rồi. Họ còn cần gì đến vị y sĩ ấy nữa?” “Cũng vậy, tâu Đại vương, nếu Như Lai cho một người tại gia đã được huấn luyện trong một Thánh quả nào đó xuất gia, thì việc cần làm của họ đã được thực hiện ngay tại đó rồi. Họ còn cần gì đến việc xuất gia nữa?”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, koci puriso anekathālipākasataṃ bhojanaṃ paṭiyādāpetvā parisāya evamanussāveyya ‘mā me, bhonto, keci chātā imaṃ parivesanaṃ upagacchatha, subhuttā tittā suhitā dhātā pīṇitā paripuṇṇā imaṃ parivesanaṃ upagacchathā’’ti. Api nu kho mahārāja, tesaṃ bhuttāvīnaṃ tittānaṃ suhitānaṃ dhātānaṃ pīṇitānaṃ paripuṇṇānaṃ tena bhojanena karaṇīyaṃ bhaveyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, yassatthāya te taṃ parivesanaṃ upagaccheyyuṃ, taṃ aññatreva tesaṃ kataṃ karaṇīyaṃ, kiṃ tesaṃ tāya parivesanāyā’’ti? ‘‘Evameva kho, mahārāja, yadi tathāgato gihiṃ yeva ekasmiṃ phale vinītaṃ pabbājeyya, tattheva tesaṃ kataṃ karaṇīyaṃ, kiṃ tesaṃ pabbajjāya?
“Just as, great king, a man might prepare hundreds of dishes of various kinds of food and announce to an assembly: ‘Let none of you, good sirs, who are hungry come to this serving of food. Let those who are already well-fed, satisfied, nourished, refreshed, and full come to this serving of food.’ Now, great king, would those who are already well-fed, satisfied, nourished, refreshed, and full have any need for that food?” “No, venerable sir. The purpose for which they would approach that serving of food would already be accomplished for them elsewhere. What need would they have of that serving of food?” “Just so, great king, if the Tathāgata were to ordain a householder who is already established in one fruit, their task would already be accomplished right there. What need would they have for ordination?”
“Tâu Đại vương, lại nữa, ví như có người nào đó cho dọn một bữa ăn nấu trong hàng trăm nồi niêu, rồi loan báo giữa hội chúng rằng: ‘Này các bạn, những ai đói bụng thì đừng đến nơi đãi ăn này của tôi. Chỉ những ai đã ăn no, đã thỏa mãn, đã hài lòng, đã no nê, đã béo tốt, đã sung mãn thì hãy đến nơi đãi ăn này.’ Tâu Đại vương, đối với những người đã ăn, đã thỏa mãn, đã hài lòng, đã no nê, đã béo tốt, đã sung mãn ấy, liệu họ có còn việc gì cần đến bữa ăn đó không?” “Bạch ngài, không ạ. Mục đích mà họ cần đến nơi đãi ăn ấy, việc đó của họ đã được thực hiện ở nơi khác rồi. Họ còn cần gì đến nơi đãi ăn ấy nữa?” “Cũng vậy, tâu Đại vương, nếu Như Lai cho một người tại gia đã được huấn luyện trong một Thánh quả nào đó xuất gia, thì việc cần làm của họ đã được thực hiện ngay tại đó rồi. Họ còn cần gì đến việc xuất gia nữa?”
‘‘Api ca, mahārāja, ye hīnāyāvattanti, te jinasāsanassa pañca atuliye guṇe dassenti. Katame pañca? Bhūmimahantabhāvaṃ dassenti, parisuddhavimalabhāvaṃ dassenti, pāpehi asaṃvāsiyabhāvaṃ dassenti, duppaṭivedhabhāvaṃ dassenti, bahusaṃvararakkhiyabhāvaṃ dassenti.
“Moreover, great king, those who revert to the lower life demonstrate five incomparable qualities of the Victor’s Dispensation. What five? They demonstrate the greatness of its ground, its purity and stainlessness, its non-association with evil, its difficulty of penetration, and its quality of being guarded by many restraints.”
“Hơn nữa, tâu Đại vương, những người hoàn tục về đời sống thấp kém, họ cho thấy năm đức tính vô song của giáo pháp của Đấng Chiến Thắng. Năm đức tính ấy là gì? Họ cho thấy sự vĩ đại của nền tảng. Họ cho thấy tính chất thanh tịnh, không tỳ vết. Họ cho thấy tính chất không thể chung sống với điều ác. Họ cho thấy tính chất khó thâm nhập. Họ cho thấy tính chất cần được gìn giữ và bảo vệ bằng nhiều sự thu thúc.”
‘‘Kathaṃ bhūmimahantabhāvaṃ dassenti? Yathā, mahārāja, puriso adhano hīnajacco nibbiseso buddhiparihīno mahārajjaṃ paṭilabhitvā na cirasseva paripatati paridhaṃsati parihāyati yasato, na sakkoti issariyaṃ sandhāretuṃ. Kiṃ kāraṇaṃ? Mahantattā issariyassa. Evameva kho, mahārāja, ye keci nibbisesā akatapuññā buddhiparihīnā jinasāsane pabbajanti, te taṃ pabbajjaṃ pavaruttamaṃ sandhāretuṃ avisahantā na cirasseva jinasāsanā paripatitvā paridhaṃsitvā parihāyitvā hīnāyāvattanti, na sakkonti jinasāsanaṃ sandhāretuṃ. Kiṃ kāraṇaṃ? Mahantattā jinasāsanabhūmiyā. Evaṃ bhūmimahantabhāvaṃ dassenti.
“How do they show the greatness of the ground? Just as, great king, a poor man of low birth, insignificant and lacking wisdom, upon obtaining a great kingdom, soon falls, declines, and deteriorates from his glory, unable to maintain his sovereignty. What is the reason? The vastness of the sovereignty. In the same way, great king, those who are insignificant, lacking merit, and deficient in wisdom, who go forth in the Dispensation of the Victor, being unable to sustain that supreme going forth, before long fall away, decline, and deteriorate from the Dispensation of the Victor, returning to a lower state, unable to uphold the Dispensation of the Victor. What is the reason? The vastness of the ground of the Dispensation of the Victor. Thus, they show the greatness of the ground.”
“Họ cho thấy sự vĩ đại của nền tảng như thế nào? Tâu Đại vương, ví như một người nghèo khó, dòng dõi thấp hèn, không có gì đặc biệt, trí tuệ kém cỏi, khi có được vương quyền to lớn, chẳng bao lâu liền sa sút, bại hoại, mất hết danh vọng, không thể duy trì được quyền lực. Vì sao vậy? Vì sự vĩ đại của vương quyền. Cũng vậy, tâu Đại vương, những người không có gì đặc biệt, không có phước báu đã tạo, trí tuệ kém cỏi, khi xuất gia trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng, họ không thể duy trì được đời sống xuất gia cao quý tuyệt vời ấy, chẳng bao lâu liền sa sút, bại hoại, suy tàn khỏi giáo pháp của Đấng Chiến Thắng rồi hoàn tục về đời sống thấp kém, không thể gánh vác được giáo pháp của Đấng Chiến Thắng. Vì sao vậy? Vì sự vĩ đại của nền tảng giáo pháp của Đấng Chiến Thắng. Như vậy, họ cho thấy sự vĩ đại của nền tảng.”
‘‘Kathaṃ parisuddhavimalabhāvaṃ dassenti? Yathā, mahārāja, vāri pokkharapatte vikirati vidhamati vidhaṃseti, na ṭhānamupagacchati nūpalimpati. Kiṃ kāraṇaṃ? Parisuddhavimalattā padumassa. Evameva kho, mahārāja, ye keci saṭhā kūṭā vaṅkā kuṭilā visamadiṭṭhino jinasāsane pabbajanti, te parisuddhavimalanikkaṇṭakapaṇḍaravarappavarasāsanato na cirasseva vikiritvā vidhamitvā vidhaṃsetvā asaṇṭhahitvā anupalimpitvā hīnāyāvattanti. Kiṃ kāraṇaṃ? Parisuddhavimalattā jinasāsanassa. Evaṃ parisuddhavimalabhāvaṃ dassenti.
“How do they show purity and stainlessness? Just as, great king, water on a lotus leaf scatters, dissipates, and vanishes, not staying or sticking to it. What is the reason? The purity and stainlessness of the lotus. In the same way, great king, whatever deceitful, fraudulent, devious, dishonest, and wrong-viewed persons go forth in the Dispensation of the Victor, they are soon scattered, dissipated, and destroyed from this supremely pure, stainless, thornless, excellent, and superior Dispensation, unable to settle or adhere, returning to a lower state. What is the reason? The purity and stainlessness of the Dispensation of the Victor. Thus, they show purity and stainlessness.”
“Họ cho thấy tính chất thanh tịnh, không tỳ vết như thế nào? Tâu Đại vương, ví như giọt nước trên lá sen, nó bị phân tán, bị thổi bay, bị tan vỡ, không đứng lại được, không dính vào. Vì sao vậy? Vì tính chất thanh tịnh, không tỳ vết của hoa sen. Cũng vậy, tâu Đại vương, những người xảo trá, gian dối, cong queo, quanh co, có tà kiến, khi xuất gia trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng, họ chẳng bao lâu liền bị phân tán, bị thổi bay, bị tan vỡ, không đứng vững được, không bám trụ được vào giáo pháp thanh tịnh, không tỳ vết, không chướng ngại, trong trắng, cao quý, tuyệt vời này, rồi hoàn tục về đời sống thấp kém. Vì sao vậy? Vì tính chất thanh tịnh, không tỳ vết của giáo pháp của Đấng Chiến Thắng. Như vậy, họ cho thấy tính chất thanh tịnh, không tỳ vết.”
‘‘Kathaṃ pāpehi asaṃvāsiyabhāvaṃ dassenti? Yathā, mahārāja, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṃvasati, yaṃ hoti mahāsamudde mataṃ kuṇapaṃ, taṃ khippameva tīraṃ upaneti thalaṃ vā ussāreti. Kiṃ kāraṇaṃ? Mahābhūtānaṃ bhavanattā mahāsamuddassa. Evameva kho, mahārāja, ye keci pāpakā asaṃvutā ahirikā akiriyā osannavīriyā kusītā kiliṭṭhā dujjanā manussā jinasāsane pabbajanti, te na cirasseva jinasāsanato arahantavimalakhīṇāsavamahābhūtabhavanato nikkhamitvā asaṃvasitvā hīnāyāvattanti. Kiṃ kāraṇaṃ? Pāpehi asaṃvāsiyattā jinasāsanassa. Evaṃ pāpehi asaṃvāsiyabhāvaṃ dassenti.
“How do they show non-association with evil people? Just as, great king, the great ocean does not co-reside with a dead corpse. Whatever dead corpse there is in the great ocean, it quickly carries it to the shore or casts it upon dry land. What is the reason? Because the great ocean is the abode of great beings. In the same way, great king, whatever wicked, unrestrained, shameless, inactive, enervated, lazy, defiled, and base people go forth in the Dispensation of the Victor, they soon depart from the Dispensation of the Victor—the abode of Arahants, who are stainless, whose corruptions are destroyed, great beings—and do not co-reside, returning to a lower state. What is the reason? The Dispensation of the Victor's non-association with evil people. Thus, they show non-association with evil people.”
“Họ cho thấy tính chất không thể chung sống với điều ác như thế nào? Tâu Đại vương, ví như biển lớn không chung sống với xác chết. Bất cứ xác chết nào có trong biển lớn, nó nhanh chóng đưa vào bờ hoặc tống lên đất liền. Vì sao vậy? Vì biển lớn là nơi ở của các loài sinh vật to lớn. Cũng vậy, tâu Đại vương, những người độc ác, không thu thúc, không hổ thẹn, không hành động (đúng pháp), tinh tấn suy giảm, lười biếng, ô uế, là kẻ xấu, khi xuất gia trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng, họ chẳng bao lâu liền rời khỏi giáo pháp của Đấng Chiến Thắng—vốn là nơi ở của các bậc A-la-hán, những bậc vĩ đại không tỳ vết, đã đoạn tận lậu hoặc—không thể chung sống được và hoàn tục về đời sống thấp kém. Vì sao vậy? Vì tính chất không thể chung sống với điều ác của giáo pháp của Đấng Chiến Thắng. Như vậy, họ cho thấy tính chất không thể chung sống với điều ác.”
‘‘Kathaṃ duppaṭivedhabhāvaṃ dassenti? Yathā, mahārāja, ye keci achekā asikkhitā asippino mativippahīnā issāsā † vālaggavedhaṃ avisahantā vigaḷanti pakkamanti. Kiṃ kāraṇaṃ? Saṇhasukhumaduppaṭivedhattā vālaggassa. Evameva kho, mahārāja, ye keci duppaññā jaḷā eḷamūgā mūḷhā dandhagatikā janā jinasāsane pabbajanti, te taṃ paramasaṇhasukhumacatusaccappaṭivedhaṃ paṭivijjhituṃ avisahantā jinasāsanā vigaḷitvā pakkamitvā na cirasseva hīnāyāvattanti. Kiṃ kāraṇaṃ? Paramasaṇhasukhumaduppaṭivedhatāya saccānaṃ. Evaṃ duppaṭivedhabhāvaṃ dassenti.
“How do they show the difficulty of penetration? Just as, great king, any archers who are unskillful, untrained, inexpert, and of diminished understanding, unable to accomplish piercing a hair-tip, fail and retreat. What is the reason? Because a hair-tip is delicate, subtle, and difficult to penetrate. In the same way, great king, those people who are of little wisdom, dull, doltish, deluded, and slow in progress, having gone forth in the Dispensation of the Victor, unable to accomplish the penetration of the four noble truths, which is extremely delicate and subtle, fail, retreat from the Dispensation of the Victor, and before long return to the lower life. What is the reason? Because the truths are supremely delicate, subtle, and hard to penetrate. Thus, they show the difficulty of penetration.”
“Họ cho thấy tính chất khó thâm nhập như thế nào? Tâu Đại vương, ví như những cung thủ không khéo léo, không được huấn luyện, không có kỹ năng, trí tuệ kém cỏi, khi không thể bắn xuyên qua đầu một sợi lông ngựa, họ liền nản lòng và bỏ đi. Vì sao vậy? Vì đầu sợi lông ngựa rất nhỏ nhiệm, vi tế, khó bắn xuyên qua. Cũng vậy, tâu Đại vương, những người ít trí tuệ, ngu đần, câm ngọng, si mê, chậm lụt, khi xuất gia trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng, họ không thể thâm nhập được sự thấu suốt Tứ Thánh Đế vốn vô cùng nhỏ nhiệm, vi tế, nên đã nản lòng, rời bỏ giáo pháp của Đấng Chiến Thắng và chẳng bao lâu liền hoàn tục về đời sống thấp kém. Vì sao vậy? Vì các chân lý (Tứ Thánh Đế) có tính chất vô cùng nhỏ nhiệm, vi tế, khó thâm nhập. Như vậy, họ cho thấy tính chất khó thâm nhập.”
‘‘Kathaṃ bahusaṃvararakkhiyabhāvaṃ dassenti? Yathā, mahārāja, kocideva puriso mahatimahāyuddhabhūmimupagato parasenāya disāvidisāhi samantā parivārito sattihatthaṃ janamupentaṃ disvā bhīto osakkati paṭinivattati palāyati. Kiṃ kāraṇaṃ? Bahuvidhayuddhamukharakkhaṇabhayā. Evameva kho, mahārāja, ye keci pāpakā asaṃvutā ahirikā akiriyā akkhantī capalā calitā ittarā bālajanā jinasāsane pabbajanti, te bahuvidhaṃ sikkhāpadaṃ parirakkhituṃ avisahantā osakkitvā paṭinivattitvā palāyitvā na cirasseva hīnāyāvattanti. Kiṃ kāraṇaṃ? Bahuvidhasaṃvararakkhiyabhāvattā jinasāsanassa. Evaṃ bahuvidhasaṃvararakkhiyabhāvaṃ dassenti.
“How do they demonstrate the quality of being guarded by many restraints? Just as, great king, a certain man who has entered a great battlefield, surrounded on all sides by the enemy forces, seeing people approaching armed with spears, becomes frightened, shrinks back, retreats, and flees. What is the reason? Out of fear of having to defend the many-fronted battle line. In the same way, great king, those evil, unrestrained, shameless, inactive, impatient, flighty, unsteady, and foolish people who go forth into the Dispensation of the Victor, unable to bear guarding the many kinds of precepts, shrink back, retreat, flee, and before long return to the lower life. What is the reason? Because the Dispensation of the Victor has the quality of being guarded by many kinds of restraint. Thus, they demonstrate the quality of being guarded by many restraints.”
“Làm thế nào để cho thấy (giáo pháp) có đặc tính cần được phòng hộ và gìn giữ nhiều? Tâu Đại vương, ví như có người kia đi đến một chiến trường rộng lớn, bị quân địch bao vây tứ phía, thấy kẻ địch tay cầm giáo mác tiến đến gần, liền sợ hãi, lùi lại, quay đi, và bỏ chạy. Vì lý do gì? Vì sợ hãi việc phải bảo vệ nhiều mặt trận. Tâu Đại vương, cũng thế ấy, có những kẻ ngu si, ác độc, không thu thúc, không hổ thẹn, không hành động (thiện), không nhẫn nại, dao động, chao đảo, phù du, xuất gia trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng. Họ, vì không thể gìn giữ được nhiều học giới, nên đã lùi bước, quay đi, bỏ chạy, và không bao lâu sau đã hoàn tục về đời sống thấp hèn. Vì lý do gì? Vì giáo pháp của Đấng Chiến Thắng có đặc tính cần được phòng hộ và gìn giữ bằng nhiều cách. Như vậy, họ đã cho thấy (giáo pháp) có đặc tính cần được phòng hộ và gìn giữ nhiều.”
‘‘Thalajuttamepi, mahārāja, vassikāgumbe kimividdhāni pupphāni honti, tāni aṅkurāni saṅkuṭitāni antarā yeva paripatanti, na ca tesu paripatitesu vassikāgumbo hīḷito nāma hoti. Yāni tattha ṭhitāni pupphāni, tāni sammā gandhena disāvidisaṃ abhibyāpenti. Evameva kho, mahārāja, ye te jinasāsane pabbajitvā hīnāyāvattanti, te jinasāsane kimividdhāni vassikāpupphāni viya vaṇṇagandharahitā nibbaṇṇākārasīlā abhabbā vepullāya, na ca tesaṃ hīnāyāvattanena jinasāsanaṃ hīḷitaṃ nāma hoti. Ye tattha ṭhitā bhikkhū, te sadevakaṃ lokaṃ sīlavaragandhena abhibyāpenti.
“Great king, even in a jasmine bush, the most excellent of flowers that grow on land, there are blossoms riddled by insects; those buds, being stunted, fall away prematurely. But when those blossoms fall away, the jasmine bush is not disparaged. Those blossoms that remain there fully pervade all directions with their proper fragrance. Just so, great king, those who, having gone forth into the Dispensation of the Victor, revert to the lower life, are like the jasmine blossoms riddled by insects in the Dispensation of the Victor—devoid of the color and fragrance of virtue, of base character, and incapable of growth. Yet their reverting to the lower life does not disparage the Dispensation of the Victor. Those monks who remain there fully pervade the world with its devas with the fragrance of their excellent virtue.”
“Tâu Đại vương, ngay cả trong bụi hoa lài, loài hoa trên cạn cao quý nhất, cũng có những bông hoa bị sâu ăn. Những nụ hoa ấy bị quăn queo, co rúm lại và rụng xuống giữa chừng. Nhưng vì những bông hoa ấy rụng đi mà bụi hoa lài không bị xem là đáng chê trách. Những bông hoa còn lại ở đó tỏa hương thơm ngát khắp các phương. Tâu Đại vương, cũng thế ấy, những người đã xuất gia trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng rồi hoàn tục, họ giống như những bông hoa lài bị sâu ăn trong giáo pháp, không có sắc và hương, giới hạnh của họ có hình tướng xấu xí, không thể phát triển rộng lớn. Nhưng vì sự hoàn tục của họ mà giáo pháp của Đấng Chiến Thắng không bị xem là đáng chê trách. Các vị Tỳ khưu còn ở lại trong giáo pháp đã làm cho thế giới cùng với chư Thiên tỏa ngát hương thơm cao quý của giới hạnh.”
‘‘Sālīnampi, mahārāja, nirātaṅkānaṃ lohitakānaṃ antare karumbhakaṃ nāma sālijāti uppajjitvā antarā yeva vinassati, na ca tassā vinaṭṭhattā lohitakasālī hīḷitā nāma honti. Ye tattha ṭhitā sālī, te rājūpabhogā honti. Evameva kho, mahārāja, ye te jinasāsane pabbajitvā hīnāyāvattanti, te lohitakasālīnamantare karumbhakā viya jinasāsane na vaḍḍhitvā vepullataṃ na pāpuṇitvā † antarā yeva hīnāyāvattanti, na ca tesaṃ hīnāyāvattanena jinasāsanaṃ hīḷitaṃ nāma hoti. Ye tattha ṭhitā bhikkhū te arahattassa anucchavikā honti.
“Even among unblemished red rice, great king, a variety called karumbhaka arises and perishes midway, yet the red rice is not despised because of its destruction. The rice that remains there is fit for the king's use. Just so, great king, those who go forth in the Dispensation of the Conqueror and revert to a lower state are like the karumbhaka among the red rice—they do not grow and reach fullness in the Dispensation of the Conqueror but revert midway. Yet their reverting does not bring disgrace to the Dispensation. The monks who remain there are suitable for Arahantship.”
“Tâu Đại vương, ngay cả giữa những cây lúa đỏ, giống lúa không bị sâu bệnh, cũng có một loại lúa tên là karumbhaka mọc lên rồi bị hư hoại giữa chừng. Nhưng vì sự hư hoại của nó mà giống lúa đỏ không bị xem là đáng chê trách. Những cây lúa còn lại ở đó trở thành vật dụng cho nhà vua. Tâu Đại vương, cũng thế ấy, những người đã xuất gia trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng rồi hoàn tục, họ giống như loại lúa karumbhaka giữa những cây lúa đỏ, đã không tăng trưởng trong giáo pháp, không đạt đến sự phát triển rộng lớn, và đã hoàn tục giữa chừng. Nhưng vì sự hoàn tục của họ mà giáo pháp của Đấng Chiến Thắng không bị xem là đáng chê trách. Các vị Tỳ khưu còn ở lại trong giáo pháp là những người xứng đáng với quả A-la-hán.”
‘‘Kāmadadassāpi, mahārāja, maṇiratanassa ekadesaṃ † kakkasaṃ uppajjati, na ca tattha kakkasuppannattā maṇiratanaṃ hīḷitaṃ nāma hoti. Yaṃ tattha parisuddhaṃ maṇiratanassa, taṃ janassa hāsakaraṃ hoti. Evameva kho, mahārāja, ye te jinasāsane pabbajitvā hīnāyāvattanti, kakkasā te jinasāsane papaṭikā, na ca tesaṃ hīnāyāvattanena jinasāsanaṃ hīḷitaṃ nāma hoti. Ye tattha ṭhitā bhikkhū, te devamanussānaṃ hāsajanakā honti.
“Even in a wish-fulfilling gem, great king, a rough part may arise, yet the gem is not despised because of that rough part. The pure part of the gem brings joy to people. Just so, great king, those who go forth in the Dispensation of the Conqueror and revert to a lower state are the rough, flaky parts in the Dispensation. Yet their reverting does not bring disgrace to the Dispensation. The monks who remain there are a source of joy to gods and humans.”
“Tâu Đại vương, ngay cả viên ngọc báu như ý cũng có một phần thô ráp phát sinh. Nhưng vì có phần thô ráp phát sinh ở đó mà viên ngọc báu không bị xem là đáng chê trách. Phần trong sạch của viên ngọc báu ở đó làm cho chúng sanh vui mừng. Tâu Đại vương, cũng thế ấy, những người đã xuất gia trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng rồi hoàn tục, họ là những phiến đá thô ráp trong giáo pháp. Nhưng vì sự hoàn tục của họ mà giáo pháp của Đấng Chiến Thắng không bị xem là đáng chê trách. Các vị Tỳ khưu còn ở lại trong giáo pháp là những người mang lại niềm vui cho chư Thiên và nhân loại.”
‘‘Jātisampannassapi, mahārāja, lohitacandanassa ekadesaṃ pūtikaṃ hoti appagandhaṃ. Na tena lohitacandanaṃ hīḷitaṃ nāma hoti. Yaṃ tattha apūtikaṃ sugandhaṃ, taṃ samantā vidhūpeti abhibyāpeti. Evameva kho, mahārāja, ye te jinasāsane pabbajitvā hīnāyāvattanti, te lohitacandanasārantare pūtikadesamiva chaḍḍanīyā jinasāsane, na ca tesaṃ hīnāyāvattanena jinasāsanaṃ hīḷitaṃ nāma hoti. Ye tattha ṭhitā bhikkhū, te sadevakaṃ lokaṃ sīlavaracandanagandhena anulimpayantī’’ti.
“Even in the finest red sandalwood, great king, a part may become rotten and have little fragrance. Yet the red sandalwood is not disparaged because of that. The unspoiled, fragrant part emits its fragrance and pervades all around. Just so, great king, those who go forth in the Dispensation of the Conqueror and revert to a lower state are like the rotten part in the heartwood of red sandalwood—they are to be discarded in the Dispensation. Yet their reverting does not bring disgrace to the Dispensation. The monks who remain there anoint the world with its gods with the fragrance of the excellent sandalwood of virtue.”
“Tâu Đại vương, ngay cả cây gỗ chiên đàn đỏ thuộc dòng dõi cao quý cũng có một phần bị mục nát, ít hương thơm. Vì điều đó mà cây gỗ chiên đàn đỏ không bị xem là đáng chê trách. Phần không mục nát, có hương thơm ngát ở đó đã tỏa hương, lan tỏa khắp xung quanh. Tâu Đại vương, cũng thế ấy, những người đã xuất gia trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng rồi hoàn tục, họ là những người đáng bị loại bỏ trong giáo pháp, giống như phần mục nát bên trong lõi gỗ chiên đàn đỏ. Nhưng vì sự hoàn tục của họ mà giáo pháp của Đấng Chiến Thắng không bị xem là đáng chê trách. Các vị Tỳ khưu còn ở lại trong giáo pháp đã xông ướp thế giới cùng với chư Thiên bằng hương thơm của gỗ chiên đàn cao quý là giới hạnh.”
‘‘Sādhu, bhante nāgasena, tena tena anucchavikena tena tena sadisena kāraṇena niravajjamanupāpitaṃ jinasāsanaṃ seṭṭhabhāvena paridīpitaṃ, hīnāyāvattamānāpi te jinasāsanassa seṭṭhabhāvaṃ yeva paridīpentī’’ti.
“Excellent, Venerable Nāgasena! By each appropriate and suitable reason, you have shown the Dispensation of the Conqueror to be blameless and have illuminated its supreme nature. Even those who revert to a lower state still illuminate the supreme nature of the Conqueror’s Dispensation.”
“Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, ngài đã dùng những lý do thích hợp và tương tự ấy để chứng minh giáo pháp của Đấng Chiến Thắng là không thể chê trách, và đã làm sáng tỏ tính chất cao thượng của giáo pháp. Ngay cả những người hoàn tục kia cũng chỉ làm sáng tỏ tính chất cao thượng của giáo pháp của Đấng Chiến Thắng mà thôi.”
Hīnāyāvattanapañho pañcamo.
The Fifth Question on Reverting to a Lower State.
Câu hỏi về sự hoàn tục, câu thứ năm.