Bản dịch
MIL 5.5.2 — CÂU HỎI VỀ VIỆC HẠN CHẾ BAO TỬ
2. Udarasaṁyatapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’
Và thêm nữa, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa.’
Tâu đại vương, điều mà đức Thế Tôn đã nói là: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử,’ điều ấy là lời nói về bản thể, là lời nói không thiếu sót, là lời nói đầy đủ, là lời nói không thay đổi, là lời nói về sự thật, là lời nói đúng sự thật, là lời nói chính xác, là lời nói không sái quấy, là lời nói của bậc ẩn sĩ, là lời nói của bậc hiền triết, là lời nói của đức Thế Tôn, là lời nói của vị A-la-hán, là lời nói của vị Phật Độc Giác, là lời nói của đấng Chiến Thắng, là lời nói của đấng Toàn Tri, là lời nói của đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác.
Tâu đại vương, người không hạn chế ở bao tử giết hại mạng sống, lấy vật không cho, đi đến vợ người khác, nói lời dối trá, uống chất say, đoạt mạng sống của mẹ, đoạt mạng sống của cha, đoạt mạng sống của vị A-la-hán, chia rẽ Hội Chúng, làm chảy máu đức Như Lai với tâm ác xấu. Tâu đại vương, chẳng phải Devadatta, kẻ không hạn chế ở bao tử, đã chia rẽ Hội Chúng và đã gây nên nghiệp kéo dài một kiếp (trái đất). Tâu đại vương, sau khi nhìn thấy các lý do khác, nhiều loại, có hình thức như thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’
BJT 3Tâu đại vương, người hạn chế ở bao tử lãnh hội được sự lãnh hội về bốn Sự Thật, chứng ngộ bốn quả vị Sa-môn, đạt được bản thể năng lực về bốn tuệ Phân Tích, về tám Thiền Chứng, về sáu Thắng Trí, và làm tròn đủ toàn bộ phận sự của Sa-môn. Tâu đại vương, chẳng phải con bồ câu xinh, sau khi hạn chế ở bao tử, đã làm rung động đến tận cung Trời Đạo Lợi và đã khiến cho Sakka, Chúa của chư Thiên, phải đi đến chăm sóc. Tâu đại vương, sau khi nhìn thấy các lý do khác, nhiều loại, có hình thức như thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Không nên xao lãng trong việc đứng (khất thực), nên hạn chế ở bao tử.’
Tâu đại vương, trái lại về điều đã được đức Thế Tôn nói là: ‘Này Udāyi, tuy nhiên một đôi khi Ta thọ thực với bình bát này đầy ngang miệng, thậm chí Ta còn thọ thực nhiều hơn thế nữa,’ điều ấy đã được đấng Toàn Tri, bậc Tự Chủ, đức Như Lai, vị có phận sự đã làm xong, có công việc đã hoàn thành, có mục đích đã được thành tựu, có nhiệm vụ đã hoàn mãn, không còn chướng ngại, nói về bản thân Ngài.
Tâu đại vương, giống như đối với người bị bệnh cần được ói ra, cần được xổ, cần phải thải độc, thì công việc chăm sóc là cần thiết, tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người còn phiền não, chưa thấy được Sự Thật, thì việc hạn chế ở bao tử là việc nên làm. Tâu đại vương, giống như đối với viên ngọc quý ma-ni có hào quang, nguyên chất, có phẩm chất cao và hoàn toàn tinh khiết thì không có việc cần phải chùi mài, chà xát, đánh bóng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai, vị đã đi đến sự toàn hảo trong cương vị của một bậc Giác Ngộ, thì không có sự trở ngại trong các hành động và việc làm.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc hạn chế bao tử là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Udare asaṃyato, mahārāja, pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, majjampi pivati, mātarampi jīvitā voropeti, pitarampi jīvitā voropeti, arahantampi jīvitā voropeti, saṅghampi bhindati, duṭṭhena cittena tathāgatassa lohitampi uppādeti. Nanu, mahārāja, devadatto udare asaṃyato saṅghaṃ bhinditvā kappaṭṭhiyaṃ kammaṃ āyūhi †. Evarūpāni, mahārāja, aññānipi bahuvidhāni kāraṇāni disvā bhagavatā bhaṇitaṃ ‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṃyato siyā’ti.
“One who is unrestrained in the belly, great king, kills a living being, takes what is not given, engages in sexual misconduct, speaks falsely, drinks intoxicants, kills his mother, kills his father, kills an Arahant, splits the Saṅgha, and with a malevolent mind draws blood from the Tathāgata. Indeed, great king, did not Devadatta, being unrestrained in the belly, split the Saṅgha and accumulate a deed that lasts for an eon? Seeing such and many other diverse reasons, great king, the Blessed One said, ‘One should be diligent and not heedless; one should be restrained in the belly.’”
“Tâu Đại vương, người không thu thúc nơi bụng thì sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, uống rượu, giết mẹ, giết cha, giết A-la-hán, chia rẽ Tăng chúng, và với tâm ác ý làm chảy máu (thân) của đức Như Lai. Tâu Đại vương, há không phải Devadatta do không thu thúc nơi bụng, đã chia rẽ Tăng chúng và đã tạo nghiệp tồn tại suốt một kiếp hay sao? Tâu Đại vương, do thấy những lý do như thế này và nhiều lý do khác nữa, đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Nên đứng dậy (khất thực), không nên dể duôi; nên có sự thu thúc nơi bụng.’”
‘‘Udare saṃyato, mahārāja, catusaccābhisamayaṃ abhisameti, cattāri sāmaññaphalāni sacchikaroti, catūsu paṭisambhidāsu aṭṭhasu samāpattīsu chasu abhiññāsu vasībhāvaṃ pāpuṇāti, kevalañca samaṇadhammaṃ pūreti. Nanu, mahārāja, sukapotako udare saṃyato hutvā yāva tāvatiṃsabhavanaṃ kampetvā sakkaṃ devānamindaṃ upaṭṭhānamupanesi, evarūpāni, mahārāja, aññānipi bahuvidhāni kāraṇāni disvā bhagavatā bhaṇitaṃ ‘uttiṭṭhe nappamajjeyya, udare saṃyato siyā’ti.
“Restrained in the belly, great king, one fully understands the four truths, realizes the four fruits of recluseship, attains mastery in the four analytical knowledges, the eight attainments, and the six higher knowledges, and fulfills the entire ascetic practice. Indeed, great king, did not a young parrot, being restrained in the belly, shake the realm of the Thirty-Three and bring Sakka, the lord of the gods, to attend upon him? Seeing such and many other diverse reasons, great king, the Blessed One said, ‘One should be diligent and not heedless; one should be restrained in the belly.’”
“Tâu Đại vương, người thu thúc nơi bụng thì liễu ngộ Bốn Sự Thật, chứng ngộ Bốn Sa-môn Quả, đạt đến sự thuần thục trong Bốn Tuệ Phân Tích, Tám Thiền Chứng, Sáu Thắng Trí, và hoàn thành trọn vẹn pháp của sa-môn. Tâu Đại vương, há không phải con vẹt con do thu thúc nơi bụng đã làm rung động đến cõi trời Ba Mươi Ba và đã khiến cho Sakka, vua của chư thiên, phải đến hầu hạ hay sao? Tâu Đại vương, do thấy những lý do như thế này và nhiều lý do khác nữa, đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Nên đứng dậy (khất thực), không nên dể duôi; nên có sự thu thúc nơi bụng.’”
‘‘Yaṃ pana, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘ahaṃ kho panudāyi appekadā iminā pattena samatittikampi bhuñjāmi, bhiyyopi bhuñjāmī’ti, taṃ katakiccena niṭṭhitakiriyena siddhatthena vusitavosānena nirāvaraṇena sabbaññunā sayambhunā tathāgatena attānaṃ upādāya bhaṇitaṃ.
“And what, great king, was spoken by the Blessed One—‘And yet, Udāyi, sometimes I eat this bowl full to the brim, and sometimes I eat even more’—that was spoken by the Tathāgata, who had done what was to be done, finished his task, accomplished his goal, lived the holy life to its conclusion, was without obstruction, all-knowing, and self-awakened, with reference to himself.
“Tâu Đại vương, còn về điều mà đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Này Udāyi, có khi Như Lai dùng bằng với miệng bát này, có khi Như Lai dùng nhiều hơn nữa,’ điều ấy đã được đức Như Lai, bậc đã làm xong việc cần làm, đã hoàn tất phận sự, đã thành tựu mục đích, đã sống xong đời sống phạm hạnh, đã không còn chướng ngại, bậc Toàn Tri, bậc Tự Giác Ngộ, thuyết dạy liên hệ đến chính bản thân Ngài.”
‘‘Yathā, mahārāja, vantassa virittassa anuvāsitassa āturassa sappāyakiriyā icchitabbā hoti, evameva kho, mahārāja, sakilesassa adiṭṭhasaccassa udare saṃyamo karaṇīyo hoti. Yathā, mahārāja, maṇiratanassa sappabhāsassa jātimantassa abhijātiparisuddhassa majjananighaṃsanaparisodhanena karaṇīyaṃ na hoti, evameva kho, mahārāja, tathāgatassa buddhavisaye pāramiṃ gatassa kiriyākaraṇesu āvaraṇaṃ na hotī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Just as, great king, for a sick person who has vomited and been purged, a suitable regimen is desirable, so too, great king, for one with defilements who has not seen the truths, restraint in the belly must be practiced. Just as, great king, a radiant, high-quality, and perfectly pure gemstone does not require polishing, rubbing, or cleaning, so too, great king, for the Tathāgata, who has reached perfection in the Buddha’s domain, there is no obstruction in what is to be done.” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it thus, just as you say.”
“Tâu Đại vương, ví như người bệnh đã nôn mửa, đã xổ, đã được thụt rửa, cần phải có sự điều trị thích hợp. Cũng vậy, tâu Đại vương, người còn phiền não, chưa thấy chân lý, cần phải có sự tiết chế trong bụng. Tâu Đại vương, ví như viên ngọc quý sáng chói, thuộc loại tốt, có nguồn gốc thuần khiết, không cần phải lau chùi, đánh bóng, làm sạch. Cũng vậy, tâu Đại vương, đối với đức Như Lai đã đạt đến ba-la-mật trong cảnh giới Phật, không có sự ngăn ngại trong các việc cần làm.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.”
Udarasaṃyatapañho dutiyo.
The Second Question on Restraint of the Belly.
Câu hỏi về sự tiết chế trong bụng, câu thứ hai.