Bản dịch
MIL 3.7.5 — VII. PHẨM XÁC ĐỊNH CÁC PHÁP VÔ SẮC
5. Dvinnaṁlokuppannānaṁsamakabhāvapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người từ trần ở đây rồi sanh vào cõi Phạm Thiên, và người từ trần ở đây rồi sanh vào xứ Kasmīra, ai là lâu hơn, ai là mau hơn?”
“Tâu đại vương, bằng nhau.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, thành phố quê hương của ngài ở đâu?”
“Thưa ngài, có ngôi làng tên là Kalasi. Trẫm sanh ra tại nơi ấy.”
“Tâu đại vương, ngôi làng Kalasi cách đây bao xa?”
“Thưa ngài, khoảng cách hai trăm do-tuần.”
“Tâu đại vương, Kasmīra cách đây bao xa?”
“Thưa ngài, mười hai do-tuần.”
“Tâu đại vương, đại vương hãy nghĩ đến ngôi làng Kalasi đi?”
“Thưa ngài, đã nghĩ đến rồi.”
“Tâu đại vương, đại vương hãy nghĩ đến Kasmīra đi?”
“Thưa ngài, đã nghĩ đến rồi.”
“Tâu đại vương, cái nào đã được suy nghĩ lâu, cái nào mau hơn?”
“Thưa ngài, bằng nhau.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế người từ trần ở đây rồi sanh vào cõi Phạm Thiên, và người từ trần ở đây rồi sanh vào xứ Kasmīra, họ sanh lên đều bằng nhau.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Hai con chim bay ở không trung, một con trong số đó đậu xuống ở cây cao, một con đậu ở cây thấp. Khi chúng đồng thời đáp xuống, bóng của con nào thành lập ở mặt đất trước, bóng của con nào thành lập ở mặt đất lâu hơn?”
“Thưa ngài, bằng nhau.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế người từ trần ở đây rồi sanh vào cõi Phạm Thiên, và người từ trần ở đây rồi sanh vào xứ Kasmīra, họ sanh lên đều bằng nhau.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Kuhiṃ pana, mahārāja, tava jātanagara’’nti? ‘‘Atthi, bhante, kalasigāmo nāma, tatthāhaṃ jāto’’ti. ‘‘Kīva dūro, mahārāja, ito kalasigāmo hotī’’ti. ‘‘Dvimattāni, bhante, yojanasatānī’’ti. ‘‘Kīva dūraṃ, mahārāja, ito kasmīraṃ hotī’’ti? ‘‘Dvādasa, bhante, yojanānī’’ti. ‘‘Iṅgha, tvaṃ mahārāja, kalasigāmaṃ cintehī’’ti. ‘‘Cintito, bhante’’ti. ‘‘Iṅgha, tvaṃ mahārāja, kasmīraṃ cintehī’’ti. ‘‘Cintitaṃ bhante’’ti. ‘‘Katamaṃ nu kho, mahārāja, cirena cintitaṃ, katamaṃ sīghatara’’nti? ‘‘Samakaṃ bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, yo idha kālaṅkato brahmaloke uppajjeyya, yo ca idha kālaṅkato kasmīre uppajjeyya, samakaṃ yeva uppajjantī’’ti.
“Provide a simile.” “Great king, where is your native town?” “Venerable sir, there is a village named Kalasigāma; I was born there.” “How far, great king, is Kalasigāma from here?” “Two hundred yojanas, venerable sir.” “And how far, great king, is Kashmir from here?” “Twelve yojanas, venerable sir.” “Come now, great king, think of Kalasigāma.” “I have thought of it, venerable sir.” “Come now, great king, think of Kashmir.” “I have thought of it, venerable sir.” “Which, now, did you think of later, and which more quickly?” “Simultaneously, venerable sir.” “Even so, great king, one who has died here and arises in the Brahmā world, and one who has died here and arises in Kashmir—they arise at the very same time.”
– Xin ngài hãy cho một ví dụ. – Tâu đại vương, thành phố quê hương của ngài ở đâu? – Thưa ngài, có một ngôi làng tên là Kalasi, trẫm sinh ra ở đó. – Tâu đại vương, từ đây đến làng Kalasi bao xa? – Thưa ngài, khoảng hai trăm do-tuần. – Tâu đại vương, từ đây đến xứ Kasmīra bao xa? – Thưa ngài, mười hai do-tuần. – Nào, tâu đại vương, ngài hãy nghĩ đến làng Kalasi đi. – Thưa ngài, đã nghĩ đến rồi. – Nào, tâu đại vương, ngài hãy nghĩ đến xứ Kasmīra đi. – Thưa ngài, đã nghĩ đến rồi. – Tâu đại vương, ngài nghĩ đến nơi nào lâu hơn, nơi nào nhanh hơn? – Thưa ngài, đồng thời như nhau. – Cũng thế ấy, tâu đại vương, một người ở đây sau khi chết sanh về cõi Phạm thiên, và một người khác ở đây sau khi chết sanh về xứ Kasmīra, cả hai đều sanh khởi đồng thời.
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, dve sakuṇā ākāsena gaccheyyuṃ, tesu eko ucce rukkhe nisīdeyya, eko nīce rukkhe nisīdeyya, tesaṃ samakaṃ patiṭṭhitānaṃ katamassa chāyā paṭhamataraṃ pathaviyaṃ patiṭṭhaheyya, katamassa chāyā cirena pathaviyaṃ patiṭṭhaheyyā’’ti? ‘‘Samakaṃ, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, yo idha kālaṅkato brahmaloke uppajjeyya, yo ca idha kālaṅkato kasmīre uppajjeyya, samakaṃ yeva uppajjantī’’ti.
“Provide a further simile.” “What do you think, great king? Two birds might be flying through the sky; one might alight on a tall tree and the other on a low tree. Of them, having alighted at the same time, whose shadow would be established on the earth first, and whose later?” “Simultaneously, venerable sir.” “Even so, great king, one who has died here and arises in the Brahmā world, and one who has died here and arises in Kashmir—they arise at the very same time.”
– Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ nữa. – Tâu đại vương, ngài nghĩ thế nào về điều này: Có hai con chim bay trên trời, một con đậu trên cây cao, một con đậu trên cây thấp. Khi chúng đậu xuống cùng một lúc, bóng của con nào sẽ chạm đất trước, bóng của con nào sẽ chạm đất sau? – Thưa ngài, chúng chạm đất đồng thời. – Cũng thế ấy, tâu đại vương, một người ở đây sau khi chết sanh về cõi Phạm thiên, và một người khác ở đây sau khi chết sanh về xứ Kasmīra, cả hai đều sanh khởi đồng thời.
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
“You are skillful, venerable Nāgasena.”
– Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo.
Dvinnaṃ lokuppannānaṃ samakabhāvapañho pañcamo.
The Fifth Question on the Simultaneous Arising of Two Beings.
Câu hỏi thứ năm về sự đồng thời của việc sanh khởi ở hai cõi.