Bản dịch
MIL 3.4.5 — IV. PHẨM NIẾT BÀN
5. Vāyāmakaraṇapañha
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Làm cách nào để cho khổ này diệt và khổ khác không thể sanh lên? Tâu đại vương, sự xuất gia của chúng tôi là với mục đích ấy.’ Có lợi ích gì với việc đã tinh tấn trước đây? Chẳng phải là nên tinh tấn trong thời hiện tại hay sao?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, sự tinh tấn trong thời hiện tại thì chưa làm được việc, sự tinh tấn trước đây thì đã làm được việc.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào đại vương bị khát thì khi ấy đại vương mới bảo đào giếng nước, mới bảo đào hồ nước (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ uống nước’?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự tinh tấn trong thời hiện tại thì chưa làm được việc, sự tinh tấn trước đây thì đã làm được việc.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào đại vương thèm ăn thì khi ấy đại vương mới bảo cày ruộng, mới bảo trồng lúa sāli, mới bảo đem thóc lại (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thọ dụng bữa ăn’?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự tinh tấn trong thời hiện tại thì chưa làm được việc, sự tinh tấn trước đây thì đã làm được việc.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng khi nào đại vương lâm trận thì khi ấy đại vương mới bảo đào hào, mới bảo đắp lũy, mới bảo xây cổng thành, mới bảo làm vọng gác, mới bảo đem lại thóc, khi ấy đại vương mới rèn luyện về voi, mới rèn luyện về ngựa, mới rèn luyện về xe, mới rèn luyện về cung, mới rèn luyện về gươm?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sự tinh tấn trong thời hiện tại thì chưa làm được việc, sự tinh tấn trước đây thì đã làm được việc. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Người biết việc nào lợi ích cho mình thì nên làm việc ấy trước. Không có ý nghĩ như kẻ đánh xe bò, bậc thông minh sáng trí nên cố gắng.
Giống như kẻ đánh xe bò từ bỏ con đường lớn bằng phẳng đi vào con đường gồ ghề, bị gãy trục xe rồi bực bội.
Như vậy, sau khi xa lìa Chánh Pháp, xu hướng theo phi pháp, kẻ ngu bị rơi vào miệng thần chết, sầu muộn như kẻ bị gãy trục xe vậy.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Rājā āha ‘‘bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘kinti imaṃ dukkhaṃ nirujjheyya, aññañca dukkhaṃ nuppajjeyyā’ti. Etadatthā, mahārāja, amhākaṃ pabbajjā’’ti. ‘‘Kiṃ paṭikacceva vāyamitena, nanu sampatte kāle vāyamitabba’’nti? Thero āha ‘‘sampatte kāle, mahārāja, vāyāmo akiccakaro bhavati, paṭikacceva vāyāmo kiccakaro bhavatī’’ti.
5. The king said, "Venerable Nāgasena, you say, 'How might this suffering cease, and other suffering not arise?' and 'For this purpose, great king, is our going forth.' What then is the use of striving beforehand? Should one not strive only when the time has arrived?" The elder replied, "Striving when the time has arrived, great king, is ineffective; striving beforehand is effective."
5. Vua nói: "Thưa ngài Nāgasena, các ngài nói rằng: 'Làm thế nào để khổ này được đoạn diệt, và khổ khác không sanh khởi? Tâu Đại vương, sự xuất gia của chúng tôi là vì mục đích ấy'. Việc nỗ lực từ trước thì có ích gì? Chẳng phải nên nỗ lực khi thời điểm đã đến hay sao?". Trưởng lão nói: "Tâu Đại vương, khi thời điểm đã đến, sự nỗ lực không mang lại kết quả; sự nỗ lực từ trước mới mang lại kết quả".
‘‘Opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, yadā tvaṃ pipāsito bhaveyyāsi, tadā tvaṃ udapānaṃ khaṇāpeyyāsi, taḷākaṃ khaṇāpeyyāsi ‘pānīyaṃ pivissāmī’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sampatte kāle vāyāmo akiccakaro bhavati, paṭikacceva vāyāmo kiccakaro bhavatī’’ti.
"Provide an analogy." "What do you think, great king? If you were thirsty, would you then have a well dug, or a pond dug, thinking, 'I will drink water'?" "Certainly not, venerable sir." "Just so, great king, striving when the time has arrived is ineffective; striving beforehand is effective."
"Xin ngài hãy cho một ví dụ". "Tâu Đại vương, ngài nghĩ sao về điều này: khi ngài khát nước, lúc đó ngài mới cho đào giếng, cho đào ao để 'ta sẽ uống nước' hay sao?". "Thưa ngài, không phải vậy". "Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, khi thời điểm đã đến, sự nỗ lực không mang lại kết quả; sự nỗ lực từ trước mới mang lại kết quả".
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, yadā tvaṃ bubhukkhito bhaveyyāsi, tadā tvaṃ khettaṃ kasāpeyyāsi, sāliṃ ropāpeyyāsi, dhaññaṃ atiharāpeyyāsi ‘bhattaṃ bhuñjissāmī’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sampatte kāle vāyāmo akiccakaro bhavati, paṭikacceva vāyāmo kiccakaro bhavatīti.
"Provide a further analogy." "What do you think, great king? If you were hungry, would you then have a field plowed, rice planted, and grain brought in, thinking, 'I will eat a meal'?" "Certainly not, venerable sir." "Just so, great king, striving when the time has arrived is ineffective; striving beforehand is effective."
"Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ nữa". "Tâu Đại vương, ngài nghĩ sao về điều này: khi ngài đói bụng, lúc đó ngài mới cho cày ruộng, cho cấy lúa, cho mang lúa về để 'ta sẽ ăn cơm' hay sao?". "Thưa ngài, không phải vậy". "Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, khi thời điểm đã đến, sự nỗ lực không mang lại kết quả; sự nỗ lực từ trước mới mang lại kết quả".
‘‘Bhiyyo opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Taṃ kiṃ maññasi, mahārāja, yadā te saṅgāmo paccupaṭṭhito bhaveyya, tadā tvaṃ parikhaṃ khaṇāpeyyāsi, pākāraṃ kārāpeyyāsi, gopuraṃ kārāpeyyāsi, aṭṭālakaṃ kārāpeyyāsi, dhaññaṃ atiharāpeyyāsi, tadā tvaṃ hatthismiṃ sikkheyyāsi, assasmiṃ sikkheyyāsi, rathasmiṃ sikkheyyāsi, dhanusmiṃ sikkheyyāsi, tharusmiṃ sikkheyyāsī’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sampatte kāle vāyāmo akiccakaro bhavati, paṭikacceva vāyāmo kiccakaro bhavati. Bhāsitampetaṃ mahārāja bhagavatā –
"Provide a further analogy." "What do you think, great king? If a battle were imminent for you, would you then have a moat dug, a rampart built, a gate-tower constructed, and a watchtower constructed? Would you have grain brought in? Would you then train in elephantry, train in horsemanship, train in chariotry, train in archery, and train in swordsmanship?" "Certainly not, venerable sir." "Just so, great king, striving when the time has arrived is ineffective; striving beforehand is effective. And this, great king, was spoken by the Blessed One:"
"Xin ngài hãy cho thêm một ví dụ nữa". "Tâu Đại vương, ngài nghĩ sao về điều này: khi chiến tranh sắp xảy ra, lúc đó ngài mới cho đào hào, cho xây thành, cho làm cổng thành, cho làm tháp canh, cho mang lúa thóc vào kho? Lúc đó ngài mới học cưỡi voi, học cưỡi ngựa, học điều khiển xe, học bắn cung, học dùng gươm hay sao?". "Thưa ngài, không phải vậy". "Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, khi thời điểm đã đến, sự nỗ lực không mang lại kết quả; sự nỗ lực từ trước mới mang lại kết quả. Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn nói đến: –
‘‘‘Paṭikacceva taṃ kayirā, yaṃ jaññā hitamattano;
Na sākaṭikacintāya, mantā dhīro parakkame.
"'One should do beforehand what one knows to be for one's own welfare. A wise person should not strive sluggishly with the mindset of a cart-driver.
"'Nên làm ngay từ trước, việc gì biết lợi mình; bậc trí chớ chần chừ, với ý nghĩ người đánh xe.
‘‘‘Yathā sākaṭiko maṭṭhaṃ †, samaṃ hitvā mahāpathaṃ;
Visamaṃ maggamāruyha, akkhacchinnova jhāyati.
"'Just as a cart-driver, having left the smooth, level main road, ascends a rough path and grieves like one with a broken axle.
"'Như người đánh xe kia, bỏ đường lớn bằng phẳng; đi vào con đường xấu, gãy trục xe, ưu phiền.
‘‘‘Evaṃ dhammā apakkamma, adhammamanuvattiya;
Mando maccu mukhaṃ patto, akkhacchinnova jhāyatī’’’ti †.
"'So too, a fool, having departed from the Dhamma and followed what is not the Dhamma, upon reaching the mouth of death, grieves like one with a broken axle.'"
"'Cũng vậy, kẻ ngu si, xa rời Chánh pháp lành, đi theo đường tà vạy; đến miệng tử thần rồi, sầu muộn như gãy trục.'"
‘‘Kallosi, bhante nāgasenā’’ti.
"You are skillful, venerable Nāgasena."
"Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khéo léo."
Vāyāmakaraṇapañho pañcamo.
The fifth question on making exertion is concluded.
Câu hỏi thứ năm về việc nỗ lực.