Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
JA 473

Bản dịch

JA 473Chuyện Bạn - Thù (Tiền thân Mitàmitta)

10. Mittāmittajātaka

1770. “Sau khi nhìn thấy và lằng nghe kẻ đang làm những hành động gì mà các bậc sáng suốt có sự thông minh, có thể nhận biết đây là thù? Người hiểu biết nên nỗ lực như thế nào (để nhận ra kẻ ấy)?”

1771. “Gã không tươi cười sau khi thấy vị kia, không vui mừng với vị kia, không đáp trả những ánh mắt của vị này, và xử sự theo cách ngược lại.

1772. Gã giao thiệp với những kẻ thù của vị ấy, không phục vụ các bạn bè của vị ấy, ngăn chận những người có ý muốn tán dương, khen ngợi những kẻ đang khiển trách (vị ấy).

1773. Gã không nói điều bí mật cho vị ấy, không che dấu điều bí mật của vị ấy, không tán dương việc làm của vị ấy, không khen ngợi trí tuệ của vị này.

1774. Gã hân hoan ở sự không thành công của vị ấy, không hân hoan ở sự thành công của vị ấy. Sau khi nhận được thức ăn tuyệt hảo, không tưởng nhớ đến vị ấy. Gã không có lòng trắc ẩn đến vị kia từ phần chia ở nơi ấy, (nói rằng): ‘Ồ, thậm chí vị ấy cũng có thể nhận phần từ nơi này.’

1775. Như thế, mười sáu biểu hiện này được thiết lập ở kẻ thù; nhờ vào những điều ấy, người sáng suốt sau khi nhìn thấy và lằng nghe có thể nhận biết đây là thù.”

1776. “Sau khi nhìn thấy và lằng nghe người đang làm những hành động gì mà các bậc sáng suốt có sự thông minh có thể nhận biết đây là bạn? Người hiểu biết nên nỗ lực như thế nào (để nhận ra người ấy)?”

1777. “Người ấy ghi nhớ việc đã đi xa của vị này, vui mừng việc trở lại của vị này. Do việc ấy, người được yêu thích đáp lại sự hân hoan qua lời nói.

1778. Người ấy giao thiệp với những bạn bè của chính vị ấy, không phục vụ các kẻ thù của vị ấy, ngăn chận những kẻ đang khiển trách, khen ngợi những người có ý muốn tán dương (vị ấy).

1779. Người ấy nói điều bí mật cho vị ấy, che đậy điều bí mật của vị ấy, tán dương việc làm của vị ấy, không khen ngợi trí tuệ của vị này.

1780. Người ấy hân hoan ở sự thành công của vị ấy, không hân hoan ở sự không thành công của vị ấy. Sau khi nhận được thức ăn tuyệt hảo, liền tưởng nhớ đến vị ấy. Người ấy có lòng trắc ẩn đến vị ấy từ phần chia ở nơi đó, (nói rằng): ‘Ồ, thậm chí vị ấy cũng có thể nhận phần từ nơi này.’

1781. Như thế, mười sáu biểu hiện này khéo được thiết lập ở người bạn, nhờ vào những điều ấy, người sáng suốt sau khi nhìn thấy và lằng nghe có thể nhận biết đây là bạn.”