- Itivuttaka 99
- Tikanipāta
- Pañcamavagga
Bản dịch
ITI 99 — Kinh Ba Minh
Tevijjasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, Ta tuyên bố (một người là) Bà-la-môn có ba Minh được căn cứ vào pháp, không phải chỉ vì lời nói lảm nhảm được thốt lên.
Và này các tỳ khưu, Ta tuyên bố (một người là) Bà-la-môn có ba Minh được căn cứ vào pháp, không phải chỉ vì lời nói lảm nhảm được thốt lên nghĩa là thế nào?
Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, một trăm ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Ở nơi ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại chỗ kia. Ở nơi kia, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ nơi kia, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét đại cương và cá biệt. Đối với vị này, đây là Minh thứ nhất được chứng đạt, vô minh được diệt tận, minh được sanh khởi, bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh khởi như thế trong khi vị này sống không xao lãng, nhiệt tâm, quyết tâm.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ, vị ấy biết được rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng (như vầy): ‘Quả đúng như vậy, những chúng sanh đang hiện hữu này có hành động xấu xa bằng thân, có hành động xấu xa bằng lời nói, có suy nghĩ xấu xa bằng ý, vu khống các bậc Thánh, theo tà kiến, tán thành các hành động do tà kiến. Những kẻ ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Trái lại, những chúng sanh đang hiện hữu này có hành động tốt đẹp bằng thân, có hành động tốt đẹp bằng lời nói, có suy nghĩ tốt đẹp bằng ý, không vu khống các bậc Thánh, theo chánh kiến, tán thành các hành động do chánh kiến. Những người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào chốn an vui, cõi Trời.’ Như thế, bằng Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, vị ấy nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ, vị ấy biết được rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng. Đối với vị này, đây là Minh thứ nhì được chứng đạt, vô minh được diệt tận, minh được sanh khởi, bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh khởi như thế trong khi vị này sống không xao lãng, nhiệt tâm, quyết tâm.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu do sự diệt tận các lậu hoặc, nhờ vào thắng trí của bản thân, ngay trong thời hiện tại chứng ngộ sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của tuệ, sự không còn lậu hoặc, rồi thể nhập và an trú. Đối với vị này, đây là Minh thứ ba được chứng đạt, vô minh được diệt tận, minh được sanh khởi, bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh khởi như thế trong khi vị này sống không xao lãng, nhiệt tâm, quyết tâm.
Này các tỳ khưu, Ta tuyên bố (một người là) Bà-la-môn có ba Minh được căn cứ vào pháp, không phải chỉ vì lời nói lảm nhảm được thốt lên nghĩa là như thế.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Vị nào biết về kiếp sống trước, nhìn thấy cõi Trời và đọa xứ, rồi đạt đến sự diệt trừ tái sanh, là bậc hiền trí, đã được hoàn hảo về thắng trí.
3. Với ba Minh này, trở thành vị Bà-la- môn có ba Minh, Ta nói vị ấy là vị Tam Minh, chứ không phải kẻ khác với lời nói lảm nhảm được thốt lên.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Phẩm thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 99
- The Book of the Threes
- Chapter Five
The Three Knowledges
10. Kinh Tam Minh
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
99. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vậy:
“Dhammenāhaṁ, bhikkhave, tevijjaṁ brāhmaṇaṁ paññāpemi, nāññaṁ lapitalāpanamattena.
“Mendicants, I define a brahmin in terms of the teaching as one who is master of the three knowledges, not the other who merely repeats what they are told.
“Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố một người là Bà-la-môn tam minh một cách đúng Pháp, chứ không phải chỉ đơn thuần qua lời nói lặp lại.”
Kathañcāhaṁ, bhikkhave, dhammena tevijjaṁ brāhmaṇaṁ paññāpemi, nāññaṁ lapitalāpanamattena? Idha, bhikkhave, bhikkhu anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto. So tato cuto amutra udapādiṁ. Tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto. So tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Ayamassa paṭhamā vijjā adhigatā hoti, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno, yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
How so? It’s when a mendicant recollects many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details. This is the first knowledge they achieved. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
“Này các tỳ khưu, thế nào là Như Lai tuyên bố một vị Bà-la-môn tam minh theo đúng Chánh pháp, chứ không phải chỉ bằng lời nói suông? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, cụ thể là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ như thế. Chết từ nơi đó, ta được sanh ra ở nơi kia. Tại đó, ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ như thế. Chết từ nơi đó, ta được sanh ra ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các hình thái và chi tiết. Đây là minh thứ nhất mà vị ấy đã chứng đắc; vô minh đã bị diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã bị diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi, cũng như điều ấy xảy ra cho người sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti. Ayamassa dutiyā vijjā adhigatā hoti, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno, yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato.
Furthermore, with clairvoyance that is purified and superhuman, a mendicant sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds. This is the second knowledge they achieved. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ các hành vi do tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thực hành thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ các hành vi do chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu phàm, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Đây là minh thứ hai mà vị ấy đã chứng đắc; vô minh đã bị diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã bị diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi, cũng như điều ấy xảy ra cho người sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Ayamassa tatiyā vijjā adhigatā hoti, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno, yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Evaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, dhammena tevijjaṁ brāhmaṇaṁ paññāpemi, nāññaṁ lapitalāpanamattenā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
Furthermore, a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This is the third knowledge which they achieved. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. That’s how I define a brahmin in terms of the teaching as one who is master of the three knowledges, not the other who merely repeats what they are told.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đây là minh thứ ba mà vị ấy đã chứng đắc; vô minh đã bị diệt trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã bị diệt trừ, ánh sáng đã sanh khởi, cũng như điều ấy xảy ra cho người sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần. Này các tỳ khưu, chính như vậy mà Như Lai tuyên bố một vị Bà-la-môn tam minh theo đúng Chánh pháp, chứ không phải chỉ bằng lời nói suông.” Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến như sau:
“Pubbenivāsaṁ yoveti, saggāpāyañca passati; Atho jātikkhayaṁ patto, abhiññāvosito muni.
“One who knows their past lives, sees heaven and places of loss, and has attained the end of rebirth, is a sage of perfect insight.
“Vị nào biết được đời quá khứ, thấy được thiên giới và ác thú, và đã đạt đến sự chấm dứt tái sanh, vị ẩn sĩ đã hoàn thiện với thắng trí.”
Etāhi tīhi vijjāhi, tevijjo hoti brāhmaṇo; Tamahaṁ vadāmi tevijjaṁ, nāññaṁ lapitalāpanan”ti.
Because of these three knowledges a brahmin is a master of the three knowledges. That’s who I call a three-knowledge master, and not the other <j>who repeats what they are told.”
“Với ba minh này, vị ấy là Bà-la-môn tam minh. Ta gọi người ấy là tam minh, chứ không phải người khác chỉ biết nói suông.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh thứ mười).
Pañcamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Phẩm thứ năm đã kết thúc.
Pasāda jīvita saṅghāṭi, aggi upaparikkhayā; Upapatti kāma kalyāṇaṁ, dānaṁ dhammena te dasāti.
Tín, mạng sống, y tăng-già-lê, lửa và sự quán sát, sự đoạn tận; sự tái sanh, dục, thiện, sự bố thí đúng pháp, đó là mười (kinh).
Tikanipāto niṭṭhito.
Chương Ba Pháp đã kết thúc.