- Itivuttaka 84
- Tikanipāta
- Catutthavagga
Bản dịch
ITI 84 — Kinh Lợi Ích Cho Nhiều Người
Bahujanahitasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, ba hạng người này, trong khi sanh lên ở thế gian, sanh lên đem lại sự lợi ích cho nhiều người, đem lại sự an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, đem lại sự tấn hóa, đem lại sự lợi ích, đem lại sự an lạc cho chư Thiên và nhân loại. Ba hạng người nào?
Này các tỳ khưu, ở đây đức Như Lai sanh lên ở thế gian, là bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự. Vị ấy giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Này các tỳ khưu, đây là hạng người thứ nhất, trong khi sanh lên ở thế gian, sanh lên đem lại sự lợi ích cho nhiều người, đem lại sự an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, đem lại sự tấn hóa, đem lại sự lợi ích, đem lại sự an lạc cho chư Thiên và nhân loại.
Này các tỳ khưu, còn có hạng người khác nữa, vị đệ tử của chính bậc Đạo Sư ấy là vị A-la-hán, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có việc cần làm đã làm, có gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, đã hiểu biết đúng đắn và đã được giải thoát. Vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự. Vị ấy giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Này các tỳ khưu, đây là hạng người thứ nhì, trong khi sanh lên ở thế gian, sanh lên đem lại sự lợi ích cho nhiều người, đem lại sự an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, đem lại sự tấn hóa, đem lại sự lợi ích, đem lại sự an lạc cho chư Thiên và nhân loại.
Này các tỳ khưu, còn có hạng người khác nữa, vị đệ tử của chính bậc Đạo Sư ấy là vị hữu học, có sự thực hành, nghe nhiều, thành tựu về giới và phận sự. Vị ấy cũng thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự. Vị ấy giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Này các tỳ khưu, đây là hạng người thứ ba, trong khi sanh lên ở thế gian, sanh lên đem lại sự lợi ích cho nhiều người, đem lại sự an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, đem lại sự tấn hóa, đem lại sự lợi ích, đem lại sự an lạc cho chư Thiên và nhân loại.
Này các tỳ khưu, ba hạng người này, trong khi sanh lên ở thế gian, sanh lên đem lại sự lợi ích cho nhiều người, đem lại sự an lạc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, đem lại sự tấn hóa, đem lại sự lợi ích, đem lại sự an lạc cho chư Thiên và nhân loại.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Chính bậc Đạo Sư là vị đại ẩn sĩ thứ nhất ở thế gian, đệ tử tiếp nối vị ấy có bản thân đã được tu tập, rồi vị khác nữa cũng có sự thực hành là vị hữu học, nghe nhiều, thành tựu về giới và phận sự.
3. Ba vị này là tối thượng ở chư Thiên và nhân loại, các bậc phát ra ánh sáng, trong khi nói lên Giáo Pháp, mở ra cánh cửa của sự Bất Tử, các vị ấy giúp cho nhiều người giải thoát khỏi sự ràng buộc.
4. Những ai lần theo Đạo Lộ đã khéo được thuyết giảng bởi bậc Lãnh Đạo đoàn xe, bởi bậc Vô Thượng, những ai không xao lãng về lời dạy của đấng Thiện Thệ thực hiện việc chấm dứt khổ đau ngay tại nơi đây.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 84
- The Book of the Threes
- Chapter Four
For the Welfare of the People
5. Kinh Hạnh Phúc Cho Số Đông (Bahujanahita)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
84. Điều này đã được Thế Tôn, bậc A-la-hán thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy:
“Tayome puggalā loke uppajjamānā uppajjanti bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame tayo? Idha, bhikkhave, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo puggalo loke uppajjamāno uppajjati bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
“These three individuals, mendicants, arise in the world for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. What three? It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. This is the first individual who arises in the world for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.
“Này các Tỷ-kheo, có ba hạng người này khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện của họ là vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Ba hạng người ấy là những ai? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; vị ấy trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện của vị ấy là vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, tasseva satthu sāvako arahaṁ hoti khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo puggalo loke uppajjamāno uppajjati bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, tasseva satthu sāvako sekho hoti pāṭipado bahussuto sīlavatūpapanno.
Furthermore, it’s when a mendicant is a perfected one, with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment. They teach Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. This is the second individual who arises in the world for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.
Furthermore, it’s when a disciple of that Teacher is a trainee, a learned practitioner with precepts and observances intact.
“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị đệ tử của bậc Đạo Sư ấy là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí. Vị ấy cũng thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; vị ấy trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ hai khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện của vị ấy là vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người.”
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị đệ tử của bậc Đạo Sư ấy là bậc hữu học, đang trên đường tu tập, là người đa văn, có giới hạnh. Vị ấy cũng thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; vị ấy trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ ba khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện của vị ấy là vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Này các Tỷ-kheo, chính ba hạng người này khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện của họ là vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người.” Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về vấn đề này, điều đó được nói đến như sau:
“Satthā hi loke paṭhamo mahesi, Tassanvayo sāvako bhāvitatto; Athāparo pāṭipadopi sekho, Bahussuto sīlavatūpapanno.
“The Teacher is the first, the great seer, following whom is the evolved disciple, and then a trainee, a practitioner, learned, with precepts and observances intact.
“Bậc Đạo Sư, bậc Đại Sĩ, là vị thứ nhất ở đời, Kế đến là vị đệ tử đã tu tập tự thân; Rồi đến vị hữu học, đang trên đường tu tập, Là người đa văn, có giới hạnh.”
Ete tayo devamanussaseṭṭhā, Pabhaṅkarā dhammamudīrayantā; Apāpuranti amatassa dvāraṁ, Yogā pamocenti bahujjanaṁ te.
These three are first among gods and humans, beacons proclaiming the teaching! They fling open the door to freedom from death, freeing many from yokes.
“Ba vị này, bậc tối thắng giữa trời người, Là những người tạo ra ánh sáng, tuyên thuyết Chánh pháp; Các vị ấy mở ra cánh cửa bất tử, Giải thoát chúng sanh khỏi các ách縛.”
Ye satthavāhena anuttarena, Sudesitaṁ maggamanukkamanti; Idheva dukkhassa karonti antaṁ, Ye appamattā sugatassa sāsane”ti.
Following the path so well taught by the unsurpassed caravan leader, those who are diligent in the Holy One’s teaching make an end of suffering in this very life.”
“Những ai theo con đường đã được khéo giảng, Bởi bậc Đạo Sư, vị dẫn dắt vô song; Những ai không phóng dật trong giáo pháp của Thiện Thệ, Ngay tại đời này, họ chấm dứt khổ đau.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Pañcamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn nói đến. Như vậy tôi đã nghe. (Kinh thứ) năm.