- Itivuttaka 63
- Tikanipāta
- Dutiyavagga
Addhāsutta
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
Bản dịch
Addhāsutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đây là ba khoảng thời gian. Khoảng thời gian quá khứ, khoảng thời gian vị lai, khoảng thời gian hiện tại. Này các tỳ khưu, đây là ba khoảng thời gian.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Có sự nhận biết về điều được thuyết giảng, chúng sinh đứng vững ở điều được thuyết giảng. Không biết toàn diện về điều được thuyết giảng chúng sinh đi đến sự trói buộc của thần chết.
3. Và sau khi biết toàn diện về điều được thuyết giảng, không nghĩ đến người thuyết giảng, tâm chạm dến sự giải thoát, vị thế an tịnh vô thượng.
4. Vị ấy quả thật đã thành tựu điều được thuyết giảng, được an tịnh, được thích thú ở vị thế an tịnh, có sự thực hành sau khi đã suy xét, đã đứng ở pháp, bậc hiểu biết sâu sắc không đi đến sự suy xét.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
63. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như vậy:
“Tayome, bhikkhave, addhā. Katame tayo? Atīto addhā, anāgato addhā, paccuppanno addhā—ime kho, bhikkhave, tayo addhā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, there are these three periods. What three? Past, future, and present. These are the three periods.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, có ba thời này. Ba thời ấy là gì? Thời quá khứ, thời vị lai, thời hiện tại. Này các Tỳ khưu, đây là ba thời.” Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Về điều này, được nói như sau:
“Akkheyyasaññino sattā, akkheyyasmiṁ patiṭṭhitā; Akkheyyaṁ apariññāya, yogamāyanti maccuno.
“Sentient beings who perceive the communicable, become established in the communicable. Not understanding the communicable, they fall under the yoke of Death.
Chúng sanh có tưởng về uẩn, an trú ở trong các uẩn; do không liễu tri các uẩn, nên bị ách của tử thần.
Akkheyyañca pariññāya, akkhātāraṁ na maññati; Phuṭṭho vimokkho manasā, santipadamanuttaraṁ.
But having fully understood the communicable, they don’t conceive a communicator, as they’ve touched liberation with their mind, the supreme state of peace.
Và do liễu tri các uẩn, không tưởng đến người nói năng; tâm đã chạm đến giải thoát, là trạng thái tịch tịnh vô thượng.
Sa ve akkheyyasampanno, santo santipade rato; Saṅkhāya sevī dhammaṭṭho, saṅkhyaṁ nopeti vedagū”ti.
Accomplished in the communicable, peaceful, in love with the state of peace; one who makes use after appraisal, firm in principle, a knowledge master cannot be reckoned.”
Vị ấy thành tựu các uẩn, tịch tịnh, hoan hỷ nơi tịch tịnh; thực hành với sự thẩm sát, an trú trong Pháp, bậc thông suốt không đi vào sự tính đếm.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Catutthaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. Kinh thứ tư.