- Itivuttaka 58
- Tikanipāta
- Paṭhamavagga
Taṇhāsutta
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
Bản dịch
Taṇhāsutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đây là ba tham ái. Ba tham ái nào? Tham ái liên quan đến các dục, tham ái liên quan đến hữu, tham ái liên quan đến phi hữu.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Bị ràng buộc bởi sự ràng buộc của tham ái, có tâm bị ái luyến ở hữu và phi hữu, những người ấy, bị trói buộc bởi sự trói buộc của Ma Vương, không có sự an toàn đối với các trói buộc; bị dính mắc, họ đi đến luân hồi, với việc đi đến sanh và tử.
3. Và những vị nào, sau khi tiêu diệt tham ái, có tham ái đã được xa lìa ở hữu và phi hữu, đã đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, những vị ấy đã đi đến bờ kia, ở thế gian.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
58. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Tisso imā, bhikkhave, taṇhā. Katamā tisso? Kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā—imā kho, bhikkhave, tisso taṇhā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, there are these three cravings. What three? Craving for sensual pleasures, craving for continued existence, and craving for nonexistence. These are the three cravings.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, có ba loại ái này. Thế nào là ba? Dục ái, hữu ái, và phi hữu ái. Này các Tỳ khưu, đây là ba loại ái.” Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều này, được nói như sau:
“Taṇhāyogena saṁyuttā, rattacittā bhavābhave; Te yogayuttā mārassa, ayogakkhemino janā; Sattā gacchanti saṁsāraṁ, jātīmaraṇagāmino.
Ye ca taṇhaṁ pahantvāna,
“Bound by craving, minds full of desire for rebirth in this or that state, yoked by Māra’s yoke, these people find no sanctuary from the yoke. Sentient beings continue to transmigrate, with ongoing birth and death.
Those who have given up craving,
“Những ai bị trói buộc bởi ách của ái, tâm tham đắm trong các cõi hiện hữu, những người ấy bị ách của Ma vương trói buộc, không đạt được sự an ổn khỏi các ách縛. Các chúng sanh ấy đi vào vòng luân hồi, phải chịu sanh và tử.
“Còn những ai đã từ bỏ ái, không còn tham ái trong các cõi hiện hữu, các vị ấy thật đã đến bờ kia trong thế gian, là những vị đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Navamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn nói đến, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ chín.