- Itivuttaka 49
- Dukanipāta
- Dutiyavagga
Bản dịch
ITI 49 — Kinh Tà Kiến
Diṭṭhigatasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, chư Thiên và nhân loại bị xâm nhập bởi hai tà kiến, một số chấp chặt, một số chạy quá mức, và những vị có mắt nhìn thấy.
2. Và này các tỳ khưu, một số chấp chặt nghĩa là thế nào?
Này các tỳ khưu, có sự ưa thích ở hữu, chư Thiên và nhân loại thích thú ở hữu, vui thích ở hữu. Đối với các vị ấy, trong khi Giáo Pháp về sự diệt tận của hữu đang được thuyết giảng, tâm của họ không hướng đến, không tin tưởng, không trú vào, không thiên về. Này các tỳ khưu, một số chấp chặt nghĩa là như thế.
3. Và này các tỳ khưu, một số chạy quá mức nghĩa là thế nào?
Trái lại, trong khi bị khổ sở, trong khi bị hổ thẹn, trong khi chán ghét bởi vì hữu, một số thỏa thích phi hữu (nói rằng): ‘Này ông, khi tự ngã này, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị tiêu diệt, bị hoại diệt, không hiện hữu sau khi chết đi. Điều này là an tịnh, điều này là hảo hạng, điều này là đúng như vậy.’ Này các tỳ khưu, một số chạy quá mức nghĩa là như thế.
4. Và này các tỳ khưu, những vị có mắt nhìn thấy nghĩa là thế nào?
Ở đây, vị tỳ khưu nhìn thấy hiện hữu là hiện hữu, sau khi nhìn thấy hiện hữu là hiện hữu vị ấy thực hành đưa đến nhàm chán, đưa đến xa lìa luyến ái, đưa đến tịch diệt đối với hiện hữu. Này các tỳ khưu, những vị có mắt nhìn thấy nghĩa là như thế.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
5. “Những người nào sau khi thấy được hiện hữu là hiện hữu, và có sự vượt qua hiện hữu, họ được giải thoát ở hiện hữu như thế nhờ vào sự diệt tận tham ái ở hữu.
6. Với sự hiểu biết toàn diện về hiện hữu, vị ấy quả thật đã xa lìa tham ái ở hữu và phi hữu. Do sự không hình thành của hiện hữu, vị tỳ khưu không đi đến sự hiện hữu lại nữa.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Phẩm thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 49
- The Book of the Twos
- Chapter Two
Misconceptions
12. Kinh Tri Kiến
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
49. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Dvīhi, bhikkhave, diṭṭhigatehi pariyuṭṭhitā devamanussā olīyanti eke, atidhāvanti eke; cakkhumanto ca passanti.
“Overcome by two misconceptions, mendicants, some gods and humans get stuck, some overreach, while those with vision see.
“Này các Tỳ khưu, bị ám ảnh bởi hai loại tri kiến, một số chư thiên và loài người bị tụt lại phía sau, một số khác lại vượt quá xa; và những người có mắt thì thấy.”
Kathañca, bhikkhave, olīyanti eke? Bhavārāmā, bhikkhave, devamanussā bhavaratā bhavasammuditā tesaṁ bhavanirodhāya dhamme desiyamāne cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati. Evaṁ kho, bhikkhave, olīyanti eke.
And how do some get stuck? Gods and humans like clinging, they love it and enjoy it. When the Dhamma is being taught to them for the cessation of existence, their minds do not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. That is how some get stuck.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là một số bị tụt lại phía sau? Này các Tỳ khưu, chư thiên và loài người thích thú trong sự hiện hữu, vui thích trong sự hiện hữu, hoan hỷ trong sự hiện hữu. Khi Pháp được thuyết giảng cho họ về sự đoạn diệt của hiện hữu, tâm của họ không hướng đến, không tịnh tín, không an trú, không quyết tâm. Như vậy, này các Tỳ khưu, là một số bị tụt lại phía sau.”
Kathañca, bhikkhave, atidhāvanti eke? Bhaveneva kho paneke aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā vibhavaṁ abhinandanti—yato kira, bho, ayaṁ attā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā; etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ etaṁ yāthāvanti. Evaṁ kho, bhikkhave, atidhāvanti eke.
And how do some overreach? Some, becoming horrified, repelled, and disgusted with existence, delight in nonexistence: ‘When this self is annihilated and destroyed when the body breaks up, and doesn’t exist after death: that is peaceful, that is sublime, that is how it is.’ That is how some overreach.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là một số vượt quá xa? Một số người, bị phiền muộn, xấu hổ, và chán ghét chính sự hiện hữu, lại hoan hỷ trong sự phi hiện hữu, (nghĩ rằng): ‘Thưa ngài, vì rằng tự ngã này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không còn tồn tại sau khi chết; điều này là an tịnh, điều này là cao thượng, điều này là chân thật.’ Như vậy, này các Tỳ khưu, là một số vượt quá xa.”
Kathañca, bhikkhave, cakkhumanto passanti? Idha bhikkhu bhūtaṁ bhūtato passati; bhūtaṁ bhūtato disvā bhūtassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, cakkhumanto passantī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Ye bhūtaṁ bhūtato disvā,
And how do those with vision see? It’s when a mendicant sees what has come to be as having come to be. Seeing this, they are practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding what has come to be. That is how those with vision see.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Those who see what has come to be <j>as having come to be,
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là những người có mắt thấy? Ở đây, vị Tỳ khưu thấy cái đã hiện hữu đúng như nó đã hiện hữu. Sau khi thấy cái đã hiện hữu đúng như nó đã hiện hữu, vị ấy thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt cái đã hiện hữu. Như vậy, này các Tỳ khưu, là những người có mắt thấy.” Nội dung này đã được Thế Tôn nói đến. Về điều này, có lời dạy như sau:
“Những ai thấy cái đã hiện hữu đúng như nó đã hiện hữu, và sự vượt qua cái đã hiện hữu, các vị ấy được giải thoát một cách chân chánh, do sự đoạn tận của ái hữu.”
Sa ve bhūtapariñño so, vītataṇho bhavābhave; Bhūtassa vibhavā bhikkhu, nāgacchati punabbhavan”ti.
They completely understand what has come to be, rid of craving for rebirth in this or that state. When what has come to be ceases to be, a mendicant does not come back to future lives.”
“Vị ấy, người đã liễu tri cái đã hiện hữu, người đã hết ái trong các cõi hữu; vị Tỳ khưu ấy, do sự chấm dứt của cái đã hiện hữu, không đi đến tái sanh nữa.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dvādasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Nội dung này cũng đã được Thế Tôn nói đến, và tôi đã nghe như vậy. (Kinh thứ) mười hai.
Dve indriyā dve tapanīyā, sīlena apare duve; Anottāpī kuhanā dve ca, saṁvejanīyena te dasa.
Hai (kinh) về các căn, hai về sự hối hận, hai kinh khác về giới; hai về không ghê sợ tội lỗi và lừa dối, và (hai) về sự xúc động, có mười kinh ấy.
Vitakkā desanā vijjā, paññā dhammena pañcamaṁ; Ajātaṁ dhātusallānaṁ, sikkhā jāgariyena ca; Apāyadiṭṭhiyā ceva, bāvīsati pakāsitāti.
(Các kinh về) các tầm, sự thuyết giảng, minh, trí tuệ là thứ năm cùng với pháp; (các kinh về) không sanh, các giới, mũi tên, sự học tập, và sự tỉnh thức; và (các kinh) về cõi khổ và tà kiến, hai mươi hai (kinh) đã được tuyên thuyết.
Dukanipāto niṭṭhito.
Dứt phẩm Hai Pháp.