- Itivuttaka 48
- Dukanipāta
- Dutiyavagga
Bản dịch
ITI 48 — Kinh Kẻ Sanh Đọa Xứ
Āpāyikasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, hai hạng người này là những kẻ sanh đọa xứ, những kẻ đi địa ngục, sau khi không dứt bỏ điều này. Hai hạng nào? Kẻ không có Phạm hạnh tự nhận là có Phạm hạnh, và kẻ nào bôi nhọ vị đang thực hành Phạm hạnh trọn vẹn thanh tịnh bằng điều phi Phạm hạnh không có nguyên cớ. Này các tỳ khưu, hai hạng người này là những kẻ sanh đọa xứ, những kẻ đi địa ngục, sau khi không dứt bỏ điều này.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Kẻ có lời nói không thật đi đến địa ngục, hoặc thậm chí người nào, sau khi làm, đã nói là: ‘Tôi không làm;’ cả hai hạng người có nghiệp hạ liệt ấy, sau khi chết, là giống như nhau ở cảnh giới khác.
3. Có nhiều kẻ, cổ quấn y casa, (hành) theo pháp ác, không tự chế ngự, những kẻ xấu xa ấy, do các nghiệp ác, bị sanh vào địa ngục.
4. Hòn sắt cháy rực tựa như ngọn lửa được ăn vào là tốt hơn so với kẻ có giới tồi, không tự chế ngự, ăn đồ ăn khất thực của xứ sở.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 48
- The Book of the Twos
- Chapter Two
Bound for Loss
11. Kinh Thuộc Về Cõi Dữ
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
48. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Dveme, bhikkhave, āpāyikā nerayikā idamappahāya. Katame dve? Yo ca abrahmacārī brahmacāripaṭiñño, yo ca paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carantaṁ amūlakena abrahmacariyena anuddhaṁseti. Ime kho, bhikkhave, dve āpāyikā nerayikā idamappahāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, these two are bound for a place of loss, bound for hell, if they don’t give up this fault. What two? Someone who is unchaste, but claims to be chaste; and someone who makes a groundless accusation of unchastity against a person whose chastity is pure. These are the two who are bound for a place of loss, bound for hell, if they don’t give up this fault.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, có hai hạng người này, do không từ bỏ điều này, sẽ phải sanh vào cõi dữ, vào địa ngục. Hai hạng người nào? Người không sống phạm hạnh nhưng tự nhận là người sống phạm hạnh, và người vu khống một cách vô căn cứ bằng tội không phạm hạnh đối với người đang sống đời phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh. Này các Tỳ khưu, chính hai hạng người này, do không từ bỏ điều này, sẽ phải sanh vào cõi dữ, vào địa ngục.” Nội dung này đã được Thế Tôn nói đến. Về điều này, có lời dạy như sau:
“Abhūtavādī nirayaṁ upeti, Yo vāpi katvā na karomi cāha; Ubhopi te pecca samā bhavanti, Nihīnakammā manujā parattha.
“A liar goes to hell, as does one who denies what they did. Both are equal in the hereafter, those men of base deeds.
“Người nói lời không thật sẽ đi đến địa ngục, và cả người đã làm mà nói ‘tôi không làm.’ Cả hai người ấy, những người có hành vi thấp kém, sau khi chết, trở nên giống nhau ở đời sau.”
Kāsāvakaṇṭhā bahavo, pāpadhammā asaññatā; Pāpā pāpehi kammehi, nirayaṁ te upapajjare.
Many who wear a scrap of ocher cloth are unrestrained and wicked. Being wicked, they are reborn in hell due to their bad deeds.
“Nhiều người quấn y cà-sa quanh cổ, có các pháp ác, không được chế ngự. Những người ác ấy, do các nghiệp ác của mình, sẽ sanh vào địa ngục.”
Seyyo ayoguḷo bhutto, tatto aggisikhūpamo; Yañce bhuñjeyya dussīlo, raṭṭhapiṇḍamasaññato”ti.
It’d be better for the immoral and unrestrained to eat an iron ball, scorching, like a burning flame, than to eat the nation’s alms.”
“Thà nuốt một hòn sắt nóng cháy, như một ngọn lửa, còn hơn là một người không có giới hạnh, không được chế ngự, lại ăn vật thực của quốc độ.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Ekādasamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Nội dung này cũng đã được Thế Tôn nói đến, và tôi đã nghe như vậy. (Kinh thứ) mười một.