- Itivuttaka 22
- Ekakanipāta
- Tatiyavagga
Mettasutta
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
Bản dịch
Mettasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, chớ sợ hãi đối với các phước thiện. Này các tỳ khưu, điều này là từ biểu trưng của sự an lạc, của điều được thích, được muốn, đáng mến, đáng yêu, tức là các phước thiện. Này các tỳ khưu, hơn nữa Ta biết rõ về quả thành tựu được thích, được muốn, đáng mến, đáng yêu, đã được kinh nghiệm, của các việc phước thiện đã làm trong một thời gian dài. Sau khi tu tập tâm từ trong bảy năm, Ta đã không trở lại thế gian này trong bảy thành và hoại kiếp. Này các tỳ khưu, vào giai đoạn thành kiếp Ta đi đến cõi Quang Âm Thiên, vào giai đoạn hoại kiếp Ta sanh lên Phạm Thiên Cung trống vắng. Này các tỳ khưu, tại nơi ấy Ta là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, đấng chiến thắng, bậc không bị chế ngự, bậc nhìn thấy tất cả, bậc vận hành quyền lực. Này các tỳ khưu, hơn nữa ba mươi sáu lần Ta đã là Sakka, Chúa của chư Thiên. Nhiều trăm lần Ta đã là vị vua, Chuyển Luân Vương, bậc công minh, đấng Pháp vương, bậc cai trị bốn phương, bậc chiến thắng bậc đã đạt được sự ổn định của xứ sở, bậc có đầy đủ bảy vật báu. Còn nói gì đến vương quyền của địa phận. Này các tỳ khưu, Ta đây đã khởi ý điều này: ‘Đối với Ta, quả báu này là của nghiệp nào, quả thành tựu này là của nghiệp nào, nhờ vào nó hiện nay Ta có đại thần lực như vầy, có đại oai lực như vầy?’ Này các tỳ khưu, Ta đây đã khởi ý điều này: ‘Đối với Ta, quả báu này là của ba nghiệp, quả thành tựu này là của ba nghiệp, nhờ vào nó hiện nay Ta có đại thần lực như vầy, có đại oai lực như vầy;’ tức là của sự bố thí, của sự thuần hóa, của sự chế ngự.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Nên học tập thuần về phước thiện làm sanh lên an lạc tối cao kéo dài, nên tu tập bố thí, sự thực hành bình lặng, và tâm từ ái.
3. Sau khi tu tập ba pháp làm sanh lên an lạc này, bậc sáng suốt sanh lên cõi an lạc, không khổ sầu.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
22. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vậy:
“Mā, bhikkhave, puññānaṁ bhāyittha. Sukhassetaṁ, bhikkhave, adhivacanaṁ iṭṭhassa kantassa piyassa manāpassa yadidaṁ puññāni. Abhijānāmi kho panāhaṁ, bhikkhave, dīgharattaṁ katānaṁ puññānaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ piyaṁ manāpaṁ vipākaṁ paccanubhūtaṁ. Satta vassāni mettacittaṁ bhāvetvā satta saṁvaṭṭavivaṭṭakappe nayimaṁ lokaṁ punarāgamāsiṁ. Saṁvaṭṭamāne sudaṁ, bhikkhave, kappe ābhassarūpago homi; vivaṭṭamāne kappe suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjāmi.
“Mendicants, don’t fear good deeds. For ‘good deeds’ is a term for happiness, for what is likable, desirable, and agreeable. I recall undergoing for a long time the likable, desirable, and agreeable results of good deeds performed over a long time. Having developed a mind of love for seven years, for seven eons of the cosmos contracting and expanding I didn’t return to this world again. As the eon contracted I went to the realm of streaming radiance. As it expanded I was reborn in an empty mansion of divinity.
“Này các Tỳ khưu, chớ sợ hãi các phước thiện. Này các Tỳ khưu, đó là tên gọi của hạnh phúc, của điều mong muốn, đáng yêu, đáng quý, đáng hài lòng, tức là các phước thiện. Này các Tỳ khưu, Ta biết rõ rằng Ta đã trải nghiệm quả báo mong muốn, đáng yêu, đáng quý, đáng hài lòng của các phước thiện đã làm trong một thời gian dài. Sau khi tu tập tâm từ trong bảy năm, Ta đã không trở lại thế giới này trong bảy kiếp thành và hoại. Này các Tỳ khưu, khi kiếp hoại, Ta sanh vào cõi Quang Âm; khi kiếp thành, Ta sanh vào cung Phạm thiên trống không.”
Tatra sudaṁ, bhikkhave, brahmā homi mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī. Chattiṁsakkhattuṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, sakko ahosiṁ devānamindo; anekasatakkhattuṁ rājā ahosiṁ cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Ko pana vādo padesarajjassa.
There I was the Divinity, the Great Divinity, the vanquisher, the unvanquished, the universal seer, the wielder of power. I was Sakka, lord of gods, thirty-six times. Many hundreds of times I was a king, a wheel-turning monarch, a just and principled king. My dominion extended to all four sides, I achieved stability in the country, and I possessed the seven treasures. Not to mention regional kingship!
“Này các Tỳ khưu, ở đó, Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, bậc chinh phục, không bị chinh phục, bậc thấy biết tất cả, bậc tự tại. Này các Tỳ khưu, Ta đã ba mươi sáu lần làm Đế Thích, vua của chư thiên; nhiều trăm lần làm vua Chuyển luân vương, một vị vua đúng pháp, pháp vương, chinh phục bốn phương, đạt được sự ổn định trong xứ sở, đầy đủ bảy báu. Còn nói gì đến việc làm vua một tiểu quốc!”
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘kissa nu kho me idaṁ kammassa phalaṁ, kissa kammassa vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo’ti? Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘tiṇṇaṁ kho me idaṁ kammānaṁ phalaṁ, tiṇṇaṁ kammānaṁ vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvoti, seyyathidaṁ—dānassa, damassa, saññamassā’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
Then I thought, ‘Of what deed of mine is this the fruit and result, that I am now so mighty and powerful?’ Then I thought, ‘It is the fruit and result of three kinds of deeds: giving, self-control, and restraint.’”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, Ta đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Quả này của ta là do nghiệp nào, dị thục này là do nghiệp nào, mà nay ta có đại thần lực, đại oai đức như vậy?’ Này các Tỳ khưu, Ta đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Quả này của ta là do ba nghiệp, dị thục này là do ba nghiệp, mà nay ta có đại thần lực, đại oai đức như vậy, đó là: bố thí, điều phục, và tự chế.’” Đức Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về vấn đề này, được nói như sau:
“Puññameva so sikkheyya, āyataggaṁ sukhudrayaṁ; Dānañca samacariyañca, mettacittañca bhāvaye.
“One should practice only good deeds, whose happy outcome stretches ahead. Giving and moral conduct, developing a mind of love:
“Người ấy nên thực hành phước thiện, có kết quả cao quý, mang lại hạnh phúc; nên tu tập bố thí, thiện hạnh, và tâm từ.”
Ete dhamme bhāvayitvā, tayo sukhasamuddaye; Abyāpajjaṁ sukhaṁ lokaṁ, paṇḍito upapajjatī”ti.
having developed these three things yielding happiness, that astute one is reborn in a happy, pleasing world.”
“Sau khi tu tập ba pháp này, là những pháp sanh ra hạnh phúc, bậc hiền trí sanh vào thế giới an lạc, không phiền não.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dutiyaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Đức Thế Tôn nói đến, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ hai.