Chuyện những người bạn của bà Visākhā (Thiện Chi)
Cười gì, hân hoan gì, Khi đời mãi bị thiêu? Bị tối tăm bao trùm, Sao không tìm ngọn đèn?
Bản dịch
Jarāvagga
Cười gì, hân hoan gì, Khi đời mãi bị thiêu? Bị tối tăm bao trùm, Sao không tìm ngọn đèn?
Hãy xem bong bóng đẹp, Chỗ chất chứa vết thương, Bệnh hoạn nhiều suy tư, Thật không gì trường cửu.
Sắc này bị suy già, Ổ tật bệnh, mỏng manh, Nhóm bất tịnh đổ vỡ, Chết chấm dứt mạng sống.
Như trái bầu mùa thu, Bị vất bỏ quăng đi, Nhóm xương trắng bồ câu, Thấy chúng còn vui gì?
Thành này làm bằng xương, Quét tô bằng thịt máu, Ở đây già và chết, Mạn, lừa đảo chất chứa.
Xe vua đẹp cũng già, Thân này rồi sẽ già. Pháp bậc thiện, không già. Như vậy bậc chí thiện Nói lên cho bậc thiện.
Người ít nghe kém học, Lớn già như trâu đực. Thịt nó tuy lớn lên, Nhưng tuệ không tăng trưởng.
Lang thang bao kiếp sống Ta tìm nhưng chẳng gặp, Người xây dựng nhà này, Khổ thay, phải tái sanh.
Ôi! Người làm nhà kia Nay ta đã thấy ngươi! Người không làm nhà nữa. Ðòn tay ngươi bị gẫy, Kèo cột ngươi bị tan Tâm ta đạt tịch diệt, Tham ái thảy tiêu vong.
Lúc trẻ, không phạm hạnh, Không tìm kiếm bạc tiền. Như cò già bên ao, Ủ rũ, không tôm cá.
Lúc trẻ, không phạm hạnh, Không tìm kiếm bạc tiền. Như cây cung bị gãy, Thở than những ngày qua.
Hết phẩm Già
Bản dịch: HT. Thích Minh Châu
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: HT. Thích Minh Châu
Tiểu Bộ Kinh
Kinh Pháp Cú
Phẩm Già
Chuyện những người bạn của bà Visākhā (Thiện Chi)
Ko nu hāso kimānando,
What is joy, what is laughter,
Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?
Chuyện kỹ nữ Sirimā
Passa cittakataṁ bimbaṁ,
See this fancy puppet,
Hãy xem bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu.
Chuyện Trưởng lão ni Uttarā
Parijiṇṇamidaṁ rūpaṁ,
This body is decrepit and frail,
Sắc này bị suy già,
Ổ tật bệnh, mỏng manh,
Nhóm bất tịnh đổ vỡ,
Chết chấm dứt mạng sống.
Chuyện nhóm Tỳ-kheo tăng thượng mạn
Yānimāni apatthāni,
These dove-grey bones
Như trái bầu mùa thu,
Bị vất bỏ quăng đi,
Nhóm xương trắng bồ câu,
Thấy chúng còn vui gì?
Chuyện Trưởng lão ni Rūpanandā (Sắc Khánh Hỷ)
Aṭṭhīnaṁ nagaraṁ kataṁ,
In this city built of bones,
Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa.
Chuyện hoàng hậu Mallikā (Mạt-lỵ) băng hà
Jīranti ve rājarathā sucittā,
Fancy chariots of kings wear out,
Xe vua đẹp cũng già,
Thân này rồi sẽ già.
Pháp bậc thiện, không già.
Như vậy bậc chí thiện Nói lên cho bậc thiện.
Chuyện Trưởng lão Lāḷudāyī
Appassutāyaṁ puriso,
A person of little learning
Người ít nghe kém học,
Lớn già như trâu đực.
Thịt nó tuy lớn lên,
Nhưng tuệ không tăng trưởng.
Chuyện Phật thành đạo
Anekajātisaṁsāraṁ,
Transmigrating through countless rebirths,
Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
Gahakāraka diṭṭhosi,
I’ve seen you, house-builder!
Ôi! Người làm nhà kia Nay ta đã thấy ngươi!
Người không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.
Chuyện bá hộ Mahādhana (Cự Phú)
Acaritvā brahmacariyaṁ,
When young they spurned the spiritual path
Lúc trẻ, không phạm hạnh,
Không tìm kiếm bạc tiền.
Như cò già bên ao,
Ủ rũ, không tôm cá.
Acaritvā brahmacariyaṁ,
When young they spurned the spiritual path
Lúc trẻ, không phạm hạnh,
Không tìm kiếm bạc tiền.
Như cây cung bị gãy,
Thở than những ngày qua.
Jarāvaggo ekādasamo.
Hết phẩm Già