Bản dịch
CND 7 — Diễn Giải Kinh Puṇṇaka
3. Puṇṇakamāṇavapucchāniddesa
(Tôn giả Puṇṇaka nói rằng:) “Với ý định hỏi câu hỏi, tôi đã đi đến với bậc không dục vọng, bậc có sự nhìn thấy gốc rễ (của các pháp): ‘Nương tựa vào điều gì, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, đối với các thiên thần, đã chuẩn bị lễ hiến tế đông đảo tại nơi này, ở thế gian. Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng: (Tôn giả Puṇṇaka nói rằng:) “Với ý định hỏi câu hỏi, tôi đã đi đến với bậc không dục vọng, bậc có sự nhìn thấy gốc rễ (của các pháp): ‘Nương tựa vào điều gì, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, đối với các thiên thần, đã chuẩn bị lễ hiến tế đông đảo tại nơi này, ở thế gian. Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
Ye kecime isayo manujā (puṇṇakāti bhagavā) khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ yaññamakappayiṃsu puthū ’dha loke āsiṃsamānā puṇṇaka itthabhāvaṃ jaraṃ sitā yaññamakappayiṃsu.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: (Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) bất cứ những ai, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, đối với các thiên thần, đã chuẩn bị lễ hiến tế đông đảo tại nơi này, ở thế gian, này Puṇṇaka, trong khi mong ước bản thể này, bị phụ thuộc vào tuổi già, họ đã chuẩn bị lễ hiến tế.”
(Tôn giả Puṇṇaka nói rằng:) “Bất cứ những ai, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, đối với các thiên thần, đã chuẩn bị lễ hiến tế đông đảo tại nơi này, ở thế gian, thưa đức Thế Tôn, có phải những người ấy, không xao lãng ở đường lối tế lễ, thưa ngài, thì họ đã vượt qua sanh và già? Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng: (Tôn giả Puṇṇaka nói rằng:) “Bất cứ những ai, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, đối với các thiên thần, đã chuẩn bị lễ hiến tế đông đảo tại nơi này, ở thế gian, thưa đức Thế Tôn, có phải những người ấy, không xao lãng ở đường lối tế lễ, thưa ngài, thì họ đã vượt qua sanh và già? Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) những kẻ mong ước, khen ngợi, cầu khấn, cúng tế, những kẻ cầu khấn các dục bởi vì lợi lộc, Ta nói rằng: ‘Những kẻ ấy, do sự gắn bó vào tế lễ, bị luyến ái với sự luyến ái vào hữu, đã không vượt qua sanh và già.’”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) những kẻ mong ước, khen ngợi, cầu khấn, cúng tế, những kẻ cầu khấn các dục bởi vì lợi lộc, Ta nói rằng: ‘Những kẻ ấy, do sự gắn bó vào tế lễ, bị luyến ái với sự luyến ái vào hữu, đã không vượt qua sanh và già.’”
(Tôn giả Puṇṇaka nói rằng:) “Thưa ngài, nếu những kẻ ấy, do sự gắn bó vào tế lễ, đã không vượt qua sanh và già nhờ vào các lễ hiến tế, vậy giờ đây, thưa ngài, người nào ở thế giới chư Thiên và nhân loại đã vượt qua sanh và già? Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
(Tôn giả Puṇṇaka nói rằng:) “Thưa ngài, nếu những kẻ ấy, do sự gắn bó vào tế lễ, đã không vượt qua sanh và già nhờ vào các lễ hiến tế, vậy giờ đây, thưa ngài, người nào ở thế giới chư Thiên và nhân loại đã vượt qua sanh và già? Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) sau khi đã suy xét nơi này và nơi khác ở thế gian, vị nào không có sự dao động tại bất cứ nơi nào ở thế gian, là bậc an tịnh, không còn khói mù, không phiền muộn, không mong cầu, Ta nói rằng, vị ấy đã vượt qua sanh và già.”
“ Này Bà-la-môn, đối với ngươi, ngã mạn chính là gánh nặng,
sự giận dữ là khói mù, lời nói dối trá là đống tro,
lưỡi là cái vá múc, trái tim là bệ thờ lửa,
bản thân đã khéo được rèn luyện là ánh sáng của con người .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) sau khi đã suy xét nơi này và nơi khác ở thế gian, vị nào không có sự dao động tại bất cứ nơi nào ở thế gian, là bậc an tịnh, không còn khói mù, không phiền muộn, không mong cầu, Ta nói rằng, vị ấy đã vượt qua sanh và già.”
Cùng với lúc kết thúc câu kệ ngôn, –nt– (vị ấy) đã ngồi xuống, chắp tay lên, cúi lạy đức Thế Tôn (nói rằng): “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Diễn Giải Kinh Puṇṇaka được hoàn tất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tiểu Diễn Giải (Cūḷaniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Anejaṃ mūladassāvinti ejā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ sā ejā taṇhā buddhassa bhagavato pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā. Tasmā buddho anejo. Ejāya pahīnattā anejo. Bhagavā lābhepi na iñjati, alābhepi na iñjati, yasepi na iñjati, ayasepi na iñjati, pasaṃsāyapi na iñjati, nindāyapi na iñjati, sukhepi na iñjati, dukkhepi na iñjati na calati na vedhati nappavedhatīti – anejaṃ. Mūladassāvinti bhagavā mūladassāvī hetudassāvī nidānadassāvī sambhavadassāvī pabhavadassāvī samuṭṭhānadassāvī āhāradassāvī ārammaṇadassāvī paccayadassāvī samudayadassāvī.
Regarding 'Unwavering, seer of the root': 'agitation' (ejā) is a term for craving. Whatever is lust, passion... covetousness, greed, the unwholesome root—that agitation, that craving, has been abandoned by the Buddha, the Blessed One, cut off at the root, made like a palm stump, brought to a state of non-existence, and is of a nature not to arise in the future. Therefore, the Buddha is unwavering. Because of having abandoned agitation, he is unwavering. The Blessed One does not waver in gain or loss, in fame or disgrace, in praise or blame, in pleasure or pain; he does not move, shake, or tremble. Thus, he is 'unwavering.' Regarding 'Seer of the root': The Blessed One is a seer of the root, a seer of the cause, a seer of the source, a seer of the coming-into-being, a seer of the origin, a seer of the arising, a seer of the nutriment, a seer of the object, a seer of the condition, and a seer of the origination.
Về (cụm từ) 'bậc không còn tham ái, bậc đã thấy rõ các cội rễ': 'Sự rung động' được gọi là tham ái. Sự tham muốn, sự tham muốn mãnh liệt... (vân vân)... sự tham lam, lòng tham, cội rễ bất thiện; sự rung động ấy, tức tham ái ấy, đã được đức Phật, đức Thế Tôn đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây thốt nốt bị chặt, đã được làm cho không còn hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai. Vì thế, đức Phật là bậc không còn rung động. Do đã đoạn trừ sự rung động nên là bậc không còn rung động. Đức Thế Tôn không rung động khi được lợi, không rung động khi không được lợi, không rung động khi có danh, không rung động khi không có danh, không rung động khi được tán dương, không rung động khi bị chê bai, không rung động khi được an lạc, không rung động khi bị đau khổ, không lay động, không chao đảo, không dao động. Như vậy là 'bậc không còn rung động'. Về (cụm từ) 'bậc đã thấy rõ các cội rễ': Đức Thế Tôn là bậc thấy rõ cội rễ, bậc thấy rõ nhân, bậc thấy rõ duyên cớ, bậc thấy rõ sự phát sanh, bậc thấy rõ nguồn gốc, bậc thấy rõ sự khởi sanh, bậc thấy rõ vật thực, bậc thấy rõ đối tượng, bậc thấy rõ duyên, bậc thấy rõ sự tập khởi.
Tīṇi akusalamūlāni – lobho akusalamūlaṃ, doso akusalamūlaṃ, moho akusalamūlaṃ.
There are three unwholesome roots: greed is an unwholesome root, hatred is an unwholesome root, and delusion is an unwholesome root.
Có ba cội rễ bất thiện: tham là cội rễ bất thiện, sân là cội rễ bất thiện, si là cội rễ bất thiện.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – † ‘‘tīṇimāni, bhikkhave, nidānāni kammānaṃ samudayāya. Katamāni tīṇi? Lobho nidānaṃ kammānaṃ samudayāya, doso nidānaṃ kammānaṃ samudayāya, moho nidānaṃ kammānaṃ samudayāya. Na, bhikkhave, lobhajena kammena dosajena kammena mohajena kammena devā paññāyanti, manussā paññāyanti, yā vā panaññāpi kāci sugatiyo. Atha kho, bhikkhave, lobhajena kammena dosajena kammena mohajena kammena nirayo paññāyati, tiracchānayoni paññāyati, pettivisayo paññāyati, yā vā panaññāpi kāci duggatiyo niraye tiracchānayoniyā pettivisaye attabhāvābhinibbattiyā’’. Imāni tīṇi akusalamūlānīti bhagavā jānāti passati. Evampi bhagavā mūladassāvī…pe… samudayadassāvī. Tīṇi kusalamūlāni – alobho kusalamūlaṃ, adoso kusalamūlaṃ, amoho kusalamūlaṃ.
This was said by the Blessed One: 'Bhikkhus, there are these three sources for the origination of kamma. What three? Greed is a source for the origination of kamma, hatred is a source for the origination of kamma, and delusion is a source for the origination of kamma. It is not, bhikkhus, by kamma born of greed, born of hatred, and born of delusion that gods are discerned, or human beings, or any other good destinations. But rather, bhikkhus, by kamma born of greed, born of hatred, and born of delusion, hell is discerned, the animal realm is discerned, the sphere of ghosts is discerned, or whatever other bad destinations there might be for the arising of an existence in hell, the animal realm, or the sphere of ghosts.' The Blessed One knows and sees that these are the three unwholesome roots. In this way too, the Blessed One is a seer of the root ... a seer of the origination. There are three wholesome roots: non-greed is a wholesome root, non-hatred is a wholesome root, and non-delusion is a wholesome root.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói rằng: "Này các Tỳ khưu, có ba duyên cớ này cho sự tập khởi của các nghiệp. Ba là những gì? Tham là duyên cớ cho sự tập khởi của các nghiệp, sân là duyên cớ cho sự tập khởi của các nghiệp, si là duyên cớ cho sự tập khởi của các nghiệp. Này các Tỳ khưu, do nghiệp sanh từ tham, do nghiệp sanh từ sân, do nghiệp sanh từ si, các vị trời không được biết đến, loài người không được biết đến, hay bất cứ thiện thú nào khác cũng vậy. Mà này các Tỳ khưu, do nghiệp sanh từ tham, do nghiệp sanh từ sân, do nghiệp sanh từ si, địa ngục được biết đến, loài súc sanh được biết đến, cảnh giới ngạ quỷ được biết đến, hay bất cứ ác thú nào khác cũng vậy, cho sự tái sanh của tự thể trong địa ngục, trong loài súc sanh, trong cảnh giới ngạ quỷ". Đức Thế Tôn biết và thấy rằng: "Đây là ba cội rễ bất thiện". Như vậy, đức Thế Tôn là bậc thấy rõ cội rễ... (vân vân)... bậc thấy rõ sự tập khởi. Có ba cội rễ thiện: vô tham là cội rễ thiện, vô sân là cội rễ thiện, vô si là cội rễ thiện.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘tīṇimāni…pe… na, bhikkhave, alobhajena kammena adosajena kammena amohajena kammena nirayo paññāyati, tiracchānayoni paññāyati, pettivisayo paññāyati, yā vā panaññāpi kāci duggatiyo. Atha kho, bhikkhave, alobhajena kammena adosajena kammena amohajena kammena devā paññāyanti, manussā paññāyanti, yā vā panaññāpi kāci sugatiyo deve ca manusse ca attabhāvābhinibbattiyā’’. Imāni tīṇi kusalamūlānīti bhagavā jānāti passati. Evampi bhagavā mūladassāvī…pe… samudayadassāvī.
This was said by the Blessed One: 'These three...pe... It is not, bhikkhus, by kamma produced by non-greed, by kamma produced by non-hatred, and by kamma produced by non-delusion that hell is discerned, the animal realm is discerned, the sphere of petas is discerned, or any other bad destinations. But rather, bhikkhus, by kamma produced by non-greed, by kamma produced by non-hatred, and by kamma produced by non-delusion, gods are discerned, human beings are discerned, or whatever other good destinations there might be for the production of an existence as a god or a human being.' The Blessed One knows and sees that these are the three wholesome roots. In this way too, the Blessed One is a seer of the root ... a seer of the origination.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói rằng: "Có ba điều này... (vân vân)... Này các Tỳ khưu, do nghiệp sanh từ vô tham, do nghiệp sanh từ vô sân, do nghiệp sanh từ vô si, địa ngục không được biết đến, loài súc sanh không được biết đến, cảnh giới ngạ quỷ không được biết đến, hay bất cứ ác thú nào khác cũng vậy. Mà này các Tỳ khưu, do nghiệp sanh từ vô tham, do nghiệp sanh từ vô sân, do nghiệp sanh từ vô si, các vị trời được biết đến, loài người được biết đến, hay bất cứ thiện thú nào khác cũng vậy, cho sự tái sanh của tự thể trong cõi trời và cõi người". Đức Thế Tôn biết và thấy rằng: "Đây là ba cội rễ thiện". Như vậy, đức Thế Tôn là bậc thấy rõ cội rễ... (vân vân)... bậc thấy rõ sự tập khởi.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘ye keci, bhikkhave, dhammā akusalā akusalabhāgiyā akusalapakkhikā sabbe te avijjāmūlakā avijjāsamosaraṇā avijjāsamugghātā’’. Sabbe te samugghātaṃ gacchantīti bhagavā jānāti passati. Evampi bhagavā mūladassāvī…pe… samudayadassāvī.
This was said by the Blessed One: 'Bhikkhus, whatever states are unwholesome, partake of the unwholesome, and are on the side of the unwholesome—all of them are rooted in ignorance and converge on ignorance. By the uprooting of ignorance, all of them are uprooted.' The Blessed One knows and sees this. In this way too, the Blessed One is a seer of the root ... a seer of the origination.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói rằng: "Này các Tỳ khưu, bất cứ pháp nào là bất thiện, thuộc phần bất thiện, thuộc phe bất thiện, tất cả chúng đều có vô minh làm cội rễ, đều quy tụ về vô minh; (khi) vô minh được nhổ bật, tất cả chúng đều đi đến sự nhổ bật". Đức Thế Tôn biết và thấy như vậy. Như vậy, đức Thế Tôn là bậc thấy rõ cội rễ... (vân vân)... bậc thấy rõ sự tập khởi.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘ye keci, bhikkhave, dhammā kusalā kusalabhāgiyā kusalapakkhikā, sabbe te appamādamūlakā appamādasamosaraṇā. Appamādo tesaṃ dhammānaṃ aggamakkhāyatī’’ti bhagavā jānāti passati. Evampi bhagavā mūladassāvī…pe… samudayadassāvī.
This was said by the Blessed One: 'Bhikkhus, whatever states are wholesome, partake of the wholesome, and are on the side of the wholesome—all of them are rooted in diligence and converge on diligence. Diligence is declared to be the chief among those states.' The Blessed One knows and sees this. In this way too, the Blessed One is a seer of the root ... a seer of the origination.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói rằng: "Này các Tỳ khưu, bất cứ pháp nào là thiện, thuộc phần thiện, thuộc phe thiện, tất cả chúng đều có sự không dể duôi làm cội rễ, đều quy tụ về sự không dể duôi. Sự không dể duôi được tuyên bố là tối thượng trong các pháp ấy". Đức Thế Tôn biết và thấy như vậy. Như vậy, đức Thế Tôn là bậc thấy rõ cội rễ... (vân vân)... bậc thấy rõ sự tập khởi.
Atha vā, bhagavā jānāti passati. ‘‘Avijjā mūlaṃ saṅkhārānaṃ, saṅkhārā mūlaṃ viññāṇassa, viññāṇaṃ mūlaṃ nāmarūpassa, nāmarūpaṃ mūlaṃ saḷāyatanassa, saḷāyatanaṃ mūlaṃ phassassa, phasso mūlaṃ vedanāya, vedanā mūlaṃ taṇhāya, taṇhā mūlaṃ upādānassa, upādānaṃ mūlaṃ bhavassa, bhavo mūlaṃ jātiyā, jāti mūlaṃ jarāmaraṇassā’’ti – bhagavā jānāti passati. Evampi bhagavā mūladassāvī…pe… samudayadassāvī.
Or alternatively, the Blessed One knows and sees. 'Ignorance is the root of formations, formations are the root of consciousness, consciousness is the root of name-and-form, name-and-form is the root of the six sense bases, the six sense bases are the root of contact, contact is the root of feeling, feeling is the root of craving, craving is the root of clinging, clinging is the root of becoming, becoming is the root of birth, birth is the root of aging-and-death'—thus the Blessed One knows and sees. In this way too, the Blessed One is a seer of the root … a seer of the origination.
Hoặc là, đức Thế Tôn biết và thấy: "Vô minh là cội rễ của các hành, các hành là cội rễ của thức, thức là cội rễ của danh-sắc, danh-sắc là cội rễ của sáu xứ, sáu xứ là cội rễ của xúc, xúc là cội rễ của thọ, thọ là cội rễ của ái, ái là cội rễ của thủ, thủ là cội rễ của hữu, hữu là cội rễ của sanh, sanh là cội rễ của già-chết". Đức Thế Tôn biết và thấy như vậy. Như vậy, đức Thế Tôn là bậc thấy rõ cội rễ... (vân vân)... bậc thấy rõ sự tập khởi.
Atha vā, bhagavā jānāti passati. ‘‘Cakkhu mūlaṃ cakkhurogānaṃ, sotaṃ mūlaṃ sotarogānaṃ, ghānaṃ mūlaṃ ghānarogānaṃ, jivhā mūlaṃ jivhārogānaṃ, kāyo mūlaṃ kāyarogānaṃ, mano mūlaṃ cetasikānaṃ dukkhāna’’nti – bhagavā jānāti passati. Evampi bhagavā mūladassāvī hetudassāvī nidānadassāvī sambhavadassāvī pabhavadassāvī samuṭṭhānadassāvī āhāradassāvī ārammaṇadassāvī paccayadassāvī samudayadassāvīti – anejaṃ mūladassāvī.
Or, the Blessed One knows and sees: 'The eye is the root of eye-diseases, the ear is the root of ear-diseases, the nose is the root of nose-diseases, the body is the root of bodily diseases, the mind is the root of mental sufferings.' Thus the Blessed One knows and sees. In this way too, the Blessed One is a seer of the root, a seer of the cause, a seer of the source, a seer of the coming-into-being, a seer of the arising, a seer of the nutriment, a seer of the object, and a seer of the condition. Thus is He 'unwavering, a seer of the root'.
Hoặc là, đức Thế Tôn biết và thấy: "Mắt là cội rễ của các bệnh về mắt, tai là cội rễ của các bệnh về tai, mũi là cội rễ của các bệnh về mũi, lưỡi là cội rễ của các bệnh về lưỡi, thân là cội rễ của các bệnh về thân, ý là cội rễ của các khổ tâm". Đức Thế Tôn biết và thấy như vậy. Như vậy, đức Thế Tôn là bậc thấy rõ cội rễ, bậc thấy rõ nhân, bậc thấy rõ duyên cớ, bậc thấy rõ sự phát sanh, bậc thấy rõ nguồn gốc, bậc thấy rõ sự khởi sanh, bậc thấy rõ vật thực, bậc thấy rõ đối tượng, bậc thấy rõ duyên, bậc thấy rõ sự tập khởi. Như vậy là (ý nghĩa của) 'bậc không còn tham ái, bậc đã thấy rõ các cội rễ'.
Iccāyasmā puṇṇakoti iccāti padasandhi…pe… āyasmā puṇṇako.
'Thus the venerable Puṇṇaka': 'iccā' is a euphonic combination of words... (and so on)... 'the venerable Puṇṇaka'.
Về (cụm từ) 'iccāyasmā puṇṇako': 'iccā' là sự nối kết các từ... (vân vân)... trưởng lão Puṇṇaka.
Atthi pañhena āgamanti pañhena atthiko āgatomhi, † pañhaṃ pucchitukāmo āgatomhi, pañhaṃ sotukāmo āgatomhīti – evampi atthi pañhena āgamaṃ. Atha vā, pañhatthikānaṃ pañhaṃ pucchitukāmānaṃ pañhaṃ sotukāmānaṃ āgamanaṃ abhikkamanaṃ upasaṅkamanaṃ payirupāsanaṃ atthīti – evampi atthi pañhena āgamaṃ. Atha vā, pañhāgamo tuyhaṃ atthi, tvampi pahu tvamasi alamatto. Mayā pucchitaṃ kathetuṃ visajjetuṃ vahassetaṃ bhāranti † – evampi atthi pañhena āgamaṃ.
'I have come with a question': This means: I have come being one with a need for a question, I have come desiring to ask a question, I have come desiring to hear a question. This is one meaning of 'I have come with a question.' Or it means: there is the coming, approaching, drawing near, and attending of those who have a need for a question, who desire to ask a question, who desire to hear a question. This is another meaning of 'I have come with a question.' Or it means: 'You are one to whom people come with questions; you are capable, you are competent, you are able to speak on and explain what is asked by me. Bear this burden!' This is another meaning of 'I have come with a question.'
Về (cụm từ) 'con đã đến với một câu hỏi cần hỏi': (có nghĩa là) "con đã đến, là người có nhu cầu về câu hỏi", "con đã đến, là người muốn hỏi câu hỏi", "con đã đến, là người muốn nghe câu hỏi". Như vậy cũng là ý nghĩa của 'con đã đến với một câu hỏi cần hỏi'. Hoặc là, (có nghĩa là) "có sự đến, sự tiến đến, sự đi đến gần, sự hầu cận của những người có nhu cầu về câu hỏi, những người muốn hỏi câu hỏi, những người muốn nghe câu hỏi". Như vậy cũng là ý nghĩa của 'con đã đến với một câu hỏi cần hỏi'. Hoặc là, (có nghĩa là) "có sự đến hỏi của người hỏi đối với Ngài; Ngài cũng là người có khả năng, Ngài là người đầy đủ năng lực. (Ngài) hãy gánh vác gánh nặng này là nói và giải đáp điều được con hỏi". Như vậy cũng là ý nghĩa của 'con đã đến với một câu hỏi cần hỏi'.
Kiṃ nissitā isayo manujāti kiṃ nissitā āsitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttā. Isayoti isināmakā ye keci isipabbajjaṃ pabbajitā ājīvakā nigaṇṭhā jaṭilā tāpasā. Manujāti manussā vuccantīti – kiṃ nissitā isayo manujā.
'Relying on what, seers and men...': 'Relying on what' means depending on what, devoted to what, adhering to what, having approached what, being committed to what, and being intent on what. 'Seers' refers to any of those who have gone forth into the ascetic life under the name of 'seer'—Ājīvakas, Nigaṇṭhas, matted-hair ascetics, and penitents. 'Men' refers to human beings. Thus: 'Relying on what, seers and men...'
(Câu) "Các vị ẩn sĩ và loài người nương tựa vào điều gì?" (có nghĩa là): Nương tựa vào điều gì, thân cận điều gì, gắn bó điều gì, lại gần điều gì, thọ trì điều gì, hướng tâm đến điều gì? (Về từ) Isayo (ẩn sĩ) là: những người có tên là ẩn sĩ, bất cứ ai đã xuất gia theo hạnh ẩn sĩ, các vị lõa thể, các vị Ni-kiền-tử, các vị bện tóc, các vị khổ hạnh. (Về từ) Manujā (loài người) là: được gọi là con người. – (Đây là ý nghĩa của câu) "Các vị ẩn sĩ và loài người nương tựa vào điều gì?".
Khattiyā brāhmaṇā devatānanti. Khattiyāti ye keci khattiyajātikā. Brāhmaṇāti ye keci bhovādikā. Devatānanti ājīvakasāvakānaṃ ājīvakā devatā, nigaṇṭhasāvakānaṃ nigaṇṭhā devatā, jaṭilasāvakānaṃ jaṭilā devatā, paribbājakasāvakānaṃ paribbājakā devatā, aviruddhakasāvakānaṃ aviruddhakā † devatā, hatthivatikānaṃ hatthī devatā, assavatikānaṃ assā devatā, govatikānaṃ gāvo devatā, kukkuravatikānaṃ kukkurā devatā, kākavatikānaṃ kākā devatā, vāsudevavatikānaṃ vāsudevo devatā, baladevavatikānaṃ baladevo devatā, puṇṇabhaddavatikānaṃ puṇṇabhaddo devatā, maṇibhaddavatikānaṃ maṇibhaddo devatā, aggivatikānaṃ aggi devatā, nāgavatikānaṃ nāgā devatā, supaṇṇavatikānaṃ supaṇṇā devatā, yakkhavatikānaṃ yakkhā devatā, asuravatikānaṃ asurā devatā, gandhabbavatikānaṃ gandhabbā devatā, mahārājavatikānaṃ mahārājāno devatā, candavatikānaṃ cando devatā, sūriyavatikānaṃ sūriyo devatā, indavatikānaṃ indo devatā, brahmavatikānaṃ brahmā devatā, devavatikānaṃ devo devatā, disāvatikānaṃ disā devatā, ye yesaṃ dakkhiṇeyyā te tesaṃ devatāti – khattiyabrāhmaṇā devatānaṃ.
'Khattiyas, brahmins, deities.' 'Khattiyas' means any of khattiya birth. 'Brahmins' means any who use the address 'bho.' 'Deities' means: for the disciples of the Ājīvakas, the Ājīvakas are their deities; for the disciples of the Nigaṇṭhas, the Nigaṇṭhas are their deities; for the disciples of the matted-hair ascetics, the matted-hair ascetics are their deities; for the disciples of the wanderers, the wanderers are their deities; for the disciples of the Aviruddhakas, the Aviruddhakas are their deities; for elephant-vow practitioners, the elephant is their deity; for horse-vow practitioners, the horse is their deity; for cow-vow practitioners, the cow is their deity; for dog-vow practitioners, the dog is their deity; for crow-vow practitioners, the crow is their deity; for devotees of Vāsudeva, Vāsudeva is their deity; for devotees of Baladeva, Baladeva is their deity; for devotees of Puṇṇabhadda, Puṇṇabhadda is their deity; for devotees of Maṇibhadda, Maṇibhadda is their deity; for fire-worshippers, fire is their deity; for nāga-worshippers, nāgas are their deities; for supaṇṇa-worshippers, supaṇṇas are their deities; for yakkha-worshippers, yakkhas are their deities; for asura-worshippers, asuras are their deities; for gandhabba-worshippers, gandhabbas are their deities; for worshippers of the great kings, the great kings are their deities; for moon-worshippers, the moon is their deity; for sun-worshippers, the sun is their deity; for Inda-worshippers, Inda is their deity; for Brahmā-worshippers, Brahmā is their deity; for worshippers of the cloud-deva, the cloud-deva is their deity; for direction-worshippers, the directions are their deities. Whoever are worthy of offerings for some, they are the deities for them.
(Về câu) "Đối với các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, và chư thiên". (Về từ) Khattiyā (Sát-đế-lỵ) là: bất cứ ai thuộc dòng dõi vua chúa. (Về từ) Brāhmaṇā (Bà-la-môn) là: bất cứ ai có thói quen xưng hô "bho". (Về từ) Devatānaṃ (của chư thiên) là: đối với các đệ tử của phái Lõa thể, các vị Lõa thể là chư thiên; đối với các đệ tử của phái Ni-kiền-tử, các vị Ni-kiền-tử là chư thiên; đối với các đệ tử của các vị bện tóc, các vị bện tóc là chư thiên; đối với các đệ tử của các vị du sĩ, các vị du sĩ là chư thiên; đối với các đệ tử của những người không chống đối, những người không chống đối là chư thiên; đối với những người theo hạnh con voi, con voi là chư thiên; đối với những người theo hạnh con ngựa, con ngựa là chư thiên; đối với những người theo hạnh con bò, con bò là chư thiên; đối với những người theo hạnh con chó, con chó là chư thiên; đối với những người theo hạnh con quạ, con quạ là chư thiên; đối với những người theo hạnh Vāsudeva, Vāsudeva là chư thiên; đối với những người theo hạnh Baladeva, Baladeva là chư thiên; đối với những người theo hạnh Puṇṇabhadda, Puṇṇabhadda là chư thiên; đối với những người theo hạnh Maṇibhadda, Maṇibhadda là chư thiên; đối với những người theo hạnh thần lửa, thần lửa là chư thiên; đối với những người theo hạnh loài rồng, loài rồng là chư thiên; đối với những người theo hạnh loài supaṇṇa, loài supaṇṇa là chư thiên; đối với những người theo hạnh loài dạ-xoa, loài dạ-xoa là chư thiên; đối với những người theo hạnh loài a-tu-la, loài a-tu-la là chư thiên; đối với những người theo hạnh loài càn-thát-bà, loài càn-thát-bà là chư thiên; đối với những người theo hạnh các vị Đại vương, các vị Đại vương là chư thiên; đối với những người theo hạnh thần mặt trăng, thần mặt trăng là chư thiên; đối với những người theo hạnh thần mặt trời, thần mặt trời là chư thiên; đối với những người theo hạnh thần Indra, thần Indra là chư thiên; đối với những người theo hạnh Phạm thiên, Phạm thiên là chư thiên; đối với những người theo hạnh chư thiên, chư thiên là chư thiên; đối với những người theo hạnh các phương, các phương là chư thiên. Những vị nào là bậc đáng cúng dường của những người nào, thì những vị ấy là chư thiên của những người ấy. – (Đây là ý nghĩa của câu) "Đối với các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, và chư thiên".
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loketi yaññaṃ vuccati deyyadhammo cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ annaṃ pānaṃ vatthaṃ yānaṃ mālāgandhavilepanaṃ † seyyāvasathapadīpeyyaṃ. Yaññamakappayiṃsūti yepi yaññaṃ esanti gavesanti pariyesanti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ annaṃ pānaṃ vatthaṃ yānaṃ mālāgandhavilepanaṃ seyyāvasathapadīpeyyaṃ, tepi yaññaṃ kappenti. Yepi yaññaṃ abhisaṅkharonti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ annaṃ pānaṃ…pe… seyyāvasathapadīpeyyaṃ, tepi yaññaṃ kappenti. Yepi yaññaṃ denti yajanti pariccajanti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ annaṃ pānaṃ…pe… seyyāvasathapadīpeyyaṃ, tepi yaññaṃ kappenti. Puthūti yaññā vā ete puthū, yaññayājakā † vā ete puthū, dakkhiṇeyyā vā ete puthū. Kathaṃ yaññā vā ete puthū? Bahukānaṃ ete yaññā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā annaṃ pānaṃ vatthaṃ yānaṃ mālaṃ gandhaṃ vilepanaṃ seyyāvasathapadīpeyyaṃ – evaṃ yaññā vā ete puthū.
In the phrase, 'They arranged many sacrifices in this world': 'sacrifice' is called a gift-item, that is, robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick; food, drink, clothing, vehicles, garlands, scents, ointments, beds, dwellings, and lamps. As for 'They arranged sacrifices': those who seek, search for, and look for a sacrifice—that is, robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick; food, drink, clothing, vehicles, garlands, scents, ointments, beds, dwellings, and lamps—they too arrange a sacrifice. Those who prepare a sacrifice—that is, robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick; food, drink … beds, dwellings, and lamps—they too arrange a sacrifice. Those who give, offer, and relinquish a sacrifice—that is, robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick; food, drink … beds, dwellings, and lamps—they too arrange a sacrifice. As for 'Many': either these sacrifices are many, or these sacrificers are many, or these recipients of offerings are many. How are these sacrifices many? These sacrifices are many: robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick; food, drink, clothing, vehicles, garlands, scents, ointments, beds, dwellings, and lamps. Thus, these sacrifices are many.
(Về câu) "Họ đã thực hiện nhiều lễ tế ở thế gian này": Yaññaṃ (lễ tế) được gọi là vật phẩm cúng dường: y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng cần thiết, cơm, nước uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa, chỗ nằm, trú xứ, đèn đuốc. (Về từ) Yaññamakappayiṃsu (họ đã thực hiện lễ tế) là: những người nào tìm kiếm, truy tìm, lùng tìm lễ tế, tức là y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng cần thiết, cơm, nước uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa, chỗ nằm, trú xứ, đèn đuốc, những người ấy cũng thực hiện lễ tế. Những người nào chuẩn bị lễ tế, tức là y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng cần thiết, cơm, nước uống... cho đến... chỗ nằm, trú xứ, đèn đuốc, những người ấy cũng thực hiện lễ tế. Những người nào cho, cúng dường, từ bỏ (để cúng dường) lễ tế, tức là y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng cần thiết, cơm, nước uống... cho đến... chỗ nằm, trú xứ, đèn đuốc, những người ấy cũng thực hiện lễ tế. (Về từ) Puthū (nhiều) là: hoặc là những lễ tế này nhiều, hoặc là những người thực hiện lễ tế này nhiều, hoặc là những người thọ nhận cúng dường này nhiều. Thế nào là những lễ tế này nhiều? Những lễ tế này là nhiều: y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng cần thiết, cơm, nước uống, vải, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa, chỗ nằm, trú xứ, đèn đuốc. – Như vậy, hoặc là những lễ tế này nhiều.
Kathaṃ yaññayājakā vā ete puthū? Bahukā ete yaññayājakā khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā ca – evaṃ yaññayājakā vā ete puthū.
How are these sacrificers many? These sacrificers are many: nobles, brahmins, merchants, workers, householders, and the ordained; gods and humans. Thus, these sacrificers are many.
Thế nào là những người thực hiện lễ tế này nhiều? Những người thực hiện lễ tế này là nhiều: các vị Sát-đế-lỵ, và các vị Bà-la-môn, và các vị Phệ-xá, và các vị Thủ-đà-la, và các vị tại gia, và các vị xuất gia, và chư thiên, và loài người. – Như vậy, hoặc là những người thực hiện lễ tế này nhiều.
Kathaṃ dakkhiṇeyyā vā ete puthū? Bahukā ete dakkhiṇeyyā puthū samaṇabrāhmaṇā kapaṇaddhikavanibbakayācakā † – evaṃ dakkhiṇeyyā vā ete puthū. Idha loketi manussaloketi yaññamakappayiṃsu – puthūdha loke.
How are these recipients of offerings many? These recipients of offerings are many: ascetics and brahmins, the poor, wayfarers, mendicants, and beggars. Thus, these recipients of offerings are many. 'In this world' means in the human world. They arranged many sacrifices in this world.
Thế nào là những người thọ nhận cúng dường này nhiều? Những người thọ nhận cúng dường này là nhiều: các vị sa-môn, Bà-la-môn, những người nghèo khổ, lữ khách, người ăn xin, người cầu xin. – Như vậy, hoặc là những người thọ nhận cúng dường này nhiều. (Về từ) Idha loke (ở thế gian này) là ở trong cõi người. – (Đây là ý nghĩa của câu) "Họ đã thực hiện nhiều lễ tế ở thế gian này".
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metanti. Pucchāti tisso pucchā – adiṭṭhajotanā pucchā, diṭṭhasaṃsandanā pucchā, vimaticchedanā pucchā. Katamā adiṭṭhajotanā pucchā? Pakatiyā lakkhaṇaṃ aññātaṃ hoti adiṭṭhaṃ atulitaṃ atīritaṃ avibhūtaṃ avibhāvitaṃ, tassa ñāṇāya dassanāya tulanāya tīraṇāya vibhūtatthāya vibhāvanatthāya pañhaṃ pucchati – ayaṃ adiṭṭhajotanā pucchā.
“I ask you, Blessed One, tell me this.” Regarding “I ask”: there are three kinds of questions—the question illuminating the unseen, the question for comparing what has been seen, and the question for cutting off uncertainty. What is the question illuminating the unseen? When a characteristic is by nature unknown, unseen, unweighed, unjudged, unmanifest, and undeveloped, one asks a question for the sake of knowing it, seeing it, weighing it, judging it, making it manifest, and developing it. This is the question illuminating the unseen.
(Về câu) "Con xin hỏi Ngài, bạch Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều ấy". (Về từ) Pucchā (câu hỏi) là: có ba loại câu hỏi – câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy, câu hỏi để đối chiếu điều đã thấy, câu hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ. Thế nào là câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy? Vốn dĩ, đặc tính (của pháp) chưa được biết, chưa được thấy, chưa được cân nhắc, chưa được thẩm xét, chưa được hiển lộ, chưa được tu tập; vị ấy hỏi câu hỏi để biết, để thấy, để cân nhắc, để thẩm xét, để làm cho hiển lộ, để tu tập về điều ấy. – Đây là câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy.
Katamā diṭṭhasaṃsandanā pucchā? Pakatiyā lakkhaṇaṃ ñātaṃ hoti diṭṭhaṃ tulitaṃ tīritaṃ vibhūtaṃ vibhāvitaṃ. Aññehi paṇḍitehi saddhiṃ saṃsandanatthāya pañhaṃ pucchati – ayaṃ diṭṭhasaṃsandanā pucchā.
What is the question for comparing what has been seen? When a characteristic is by nature known, seen, weighed, judged, manifest, and developed, one asks a question for the sake of comparing it with other wise persons. This is the question for comparing what has been seen.
Thế nào là câu hỏi để đối chiếu điều đã thấy? Vốn dĩ, đặc tính (của pháp) đã được biết, đã được thấy, đã được cân nhắc, đã được thẩm xét, đã được hiển lộ, đã được tu tập. Vị ấy hỏi câu hỏi để đối chiếu cùng với các bậc hiền trí khác. – Đây là câu hỏi để đối chiếu điều đã thấy.
Katamā vimaticchedanā pucchā? Pakatiyā saṃsayapakkhando † hoti vimatipakkhando dveḷhakajāto – ‘‘evaṃ nu kho, na nu kho, kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’’ti! So vimaticchedanatthāya pañhaṃ pucchati – ayaṃ vimaticchedanā pucchā. Imā tisso pucchā.
What is the question for cutting off uncertainty? When one has by nature fallen into doubt, fallen into uncertainty, and has become of two minds—“Could it be so? Could it not be so? What could it be? How could it be?”—one asks a question for the sake of cutting off that uncertainty. This is the question for cutting off uncertainty. These are the three questions.
Thế nào là câu hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ? Vốn dĩ, vị ấy rơi vào hoài nghi, rơi vào phân vân, sinh tâm lưỡng lự: "Có phải như thế này chăng? Hay không phải như thế này chăng? Là cái gì chăng? Là như thế nào chăng?". Vị ấy hỏi câu hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ. – Đây là câu hỏi để cắt đứt sự nghi ngờ. Đây là ba loại câu hỏi.
Aparāpi tisso pucchā – manussapucchā, amanussapucchā, nimmitapucchā. Katamā manussapucchā? Manussā buddhaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pucchanti, bhikkhū pucchanti, bhikkhuniyo pucchanti, upāsakā pucchanti, upāsikāyo pucchanti, rājāno pucchanti, khattiyā pucchanti, brāhmaṇā pucchanti, vessā pucchanti, suddā pucchanti, gahaṭṭhā pucchanti, pabbajitā pucchanti – ayaṃ manussapucchā.
There are also another three questions: the human question, the non-human question, and the created question. What is the human question? Humans approach the Buddha, the Blessed One, and ask; monks ask, nuns ask, male lay followers ask, female lay followers ask, kings ask, nobles ask, brahmins ask, merchants ask, workers ask, householders ask, and renunciants ask. This is the human question.
Lại có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi của loài người, câu hỏi của phi nhân, câu hỏi của vị hóa nhân. Thế nào là câu hỏi của loài người? Loài người đến hầu Đức Phật, bậc Thế Tôn, và hỏi; các vị tỳ-khưu hỏi, các vị tỳ-khưu-ni hỏi, các vị cận sự nam hỏi, các vị cận sự nữ hỏi, các vị vua hỏi, các vị Sát-đế-lỵ hỏi, các vị Bà-la-môn hỏi, các vị Phệ-xá hỏi, các vị Thủ-đà-la hỏi, các vị tại gia hỏi, các vị xuất gia hỏi. – Đây là câu hỏi của loài người.
Katamā amanussapucchā? Amanussā buddhaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchanti, nāgā pucchanti, supaṇṇā pucchanti, yakkhā pucchanti, asurā pucchanti, gandhabbā pucchanti, mahārājāno pucchanti, indā pucchanti, brahmāno pucchanti, devatāyo pucchanti – ayaṃ amanussapucchā.
What is the non-human question? Non-humans approach the Buddha, the Blessed One, and ask a question; nāgas ask, supaṇṇas ask, yakkhas ask, asuras ask, gandhabbas ask, the Great Kings ask, Indras ask, Brahmās ask, and deities ask. This is the non-human question.
Thế nào là câu hỏi của phi nhân? Các phi nhân sau khi đi đến đức Phật, Thế Tôn, đã hỏi câu hỏi, các loài rồng hỏi, các loài kim xí điểu hỏi, các loài dạ-xoa hỏi, các loài a-tu-la hỏi, các loài càn-thát-bà hỏi, các vị Đại vương hỏi, các vị Đế-thích hỏi, các vị Phạm thiên hỏi, các vị chư thiên hỏi – đây là câu hỏi của phi nhân.
Katamā nimmitapucchā? Yaṃ bhagavā rūpaṃ abhinimmināti manomayaṃ sabbaṅgapaccaṅgaṃ ahīnindriyaṃ, so nimmito buddhaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchati; bhagavā visajjeti † – ayaṃ nimmitapucchā. Imā tisso pucchā.
What is the question by a created form? The Blessed One creates a mind-made form, complete with all its major and minor limbs, with unimpaired faculties. That created form approaches the Blessed One, the Buddha, and asks a question; the Blessed One answers. This is the question by a created form. These are the three questions.
Thế nào là câu hỏi của vị hóa thân? Sắc pháp nào do tâm tạo, có đầy đủ tất cả các chi phần lớn nhỏ, có các căn không khiếm khuyết, mà đức Thế Tôn đã hóa hiện ra, vị hóa thân ấy sau khi đi đến đức Phật, Thế Tôn, đã hỏi câu hỏi; đức Thế Tôn trả lời – đây là câu hỏi của vị hóa thân. Đây là ba loại câu hỏi.
Aparāpi tisso pucchā – attatthapucchā, paratthapucchā, ubhayatthapucchā. Aparāpi tisso pucchā – diṭṭhadhammikatthapucchā, samparāyikatthapucchā, paramatthapucchā. Aparāpi tisso pucchā – anavajjatthapucchā, nikkilesatthapucchā, vodānatthapucchā. Aparāpi tisso pucchā – atītapucchā, anāgatapucchā, paccuppannapucchā. Aparāpi tisso pucchā – ajjhattapucchā, bahiddhāpucchā, ajjhattabahiddhāpucchā. Aparāpi tisso pucchā – kusalapucchā, akusalapucchā, abyākatapucchā. Aparāpi tisso pucchā – khandhapucchā, dhātupucchā, āyatanapucchā. Aparāpi tisso pucchā – satipaṭṭhānapucchā, sammappadhānapucchā, iddhipādapucchā. Aparāpi tisso pucchā – indriyapucchā, balapucchā, bojjhaṅgapucchā. Aparāpi tisso pucchā – maggapucchā, phalapucchā, nibbānapucchā.
Furthermore, there are three questions: the question for one's own welfare, the question for the welfare of others, and the question for the welfare of both. Furthermore, there are three questions: the question for benefit in the present life, the question for benefit in a future life, and the question for the ultimate benefit. Furthermore, there are three questions: the question for a blameless benefit, the question for the benefit of abandoning defilements, and the question for the benefit of purification. Furthermore, there are three questions: the question about the past, the question about the future, and the question about the present. Furthermore, there are three questions: the question about the internal, the question about the external, and the question about both the internal and external. Furthermore, there are three questions: the question about the wholesome, the question about the unwholesome, and the question about the indeterminate. Furthermore, there are three questions: the question about the aggregates, the question about the elements, and the question about the sense bases. Furthermore, there are three questions: the question about the foundations of mindfulness, the question about the right strivings, and the question about the bases of spiritual power. Furthermore, there are three questions: the question about the faculties, the question about the powers, and the question about the factors of enlightenment. Furthermore, there are three questions: the question about the path, the question about the fruition, and the question about Nibbāna.
Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi vì lợi ích cho mình, câu hỏi vì lợi ích cho người khác, câu hỏi vì lợi ích cho cả hai. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi về lợi ích trong hiện tại, câu hỏi về lợi ích trong tương lai, câu hỏi về lợi ích tối thượng. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi về lợi ích không có tội lỗi, câu hỏi về lợi ích không có phiền não, câu hỏi về lợi ích thanh tịnh. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi về quá khứ, câu hỏi về tương lai, câu hỏi về hiện tại. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi về nội phần, câu hỏi về ngoại phần, câu hỏi về cả nội phần và ngoại phần. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi về thiện, câu hỏi về bất thiện, câu hỏi về vô ký. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi về uẩn, câu hỏi về giới, câu hỏi về xứ. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi về niệm xứ, câu hỏi về chánh cần, câu hỏi về như ý túc. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi về quyền, câu hỏi về lực, câu hỏi về giác chi. Lại nữa, có ba loại câu hỏi khác – câu hỏi về đạo, câu hỏi về quả, câu hỏi về Niết-bàn.
Pucchāmi tanti pucchāmi taṃ yācāmi taṃ ajjhesāmi taṃ pasādemi taṃ ‘‘kathayassu me’’ti pucchāmi taṃ. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ… sacchikā paññatti – yadidaṃ bhagavāti. Brūhi metanti brūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
'I ask you': I ask you, I request it, I entreat it, I am pleased with it; 'tell me,' I ask you. 'Blessed One': this is a term of respect... a designation based on realization, that is, 'Blessed One.' 'Tell me': speak, declare, teach, make known, establish, open up, analyze, make plain, and illuminate. Thus, the meaning of 'I ask you, Blessed One, tell me this.' Therefore, that brahmin said:
‘Con xin hỏi Ngài’ (pucchāmi taṃ) có nghĩa là: con xin hỏi Ngài, con xin thỉnh cầu Ngài, con xin thỉnh mời Ngài, con xin làm cho Ngài hài lòng, (với ý rằng) ‘xin Ngài hãy nói cho con,’ con xin hỏi Ngài. ‘Thế Tôn’ (bhagavā) đây là từ ngữ tôn kính... là sự chế định được chứng thực – đó là ‘Thế Tôn.’ ‘Xin Ngài hãy nói cho con’ (brūhi metaṃ) có nghĩa là: xin Ngài hãy nói, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy làm cho biết, hãy thiết lập, hãy khai mở, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy hiển thị – (đó là nghĩa của câu) ‘con xin hỏi Ngài, bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy nói cho con.’ Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói:
‘‘Anejaṃ mūladassāviṃ, [iccāyasmā puṇṇako]
Atthi pañhena āgamaṃ;
Kiṃ nissitā isayo manujā, khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ;
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loke, pucchāmi taṃ bhagavā brūhi meta’’nti.
To the imperturbable one, the seer of the root, (so said the Venerable Puṇṇaka) I have come with a question. Relying on what do seers, humans, nobles, and brahmins arrange many sacrifices for deities in this world? I ask you this, Blessed One, tell me this.
“Đấng không lay động, thấy được cội nguồn, [Trưởng lão Puṇṇaka đã nói] con đến đây với một câu hỏi; nương tựa vào điều gì mà các ẩn sĩ, loài người, các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn đã dâng cúng đến các vị trời nhiều sự tế lễ ở thế gian này, con xin hỏi Ngài, bạch Thế Tôn, xin Ngài hãy nói cho con.”
13.
13.
13.
Ye kecime isayo manujā, [puṇṇakāti bhagavā]
Khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ;
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loke, āsīsamānā puṇṇaka itthattaṃ † ;
Jaraṃ sitā yaññamakappayiṃsu.
“O Puṇṇaka,” said the Blessed One, “Whatever seers, humans, nobles, and brahmins performed many sacrifices for the deities in this world, they did so, O Puṇṇaka, desiring a particular state of existence. Being subject to old age, they performed sacrifices.”
“Bất cứ ẩn sĩ và loài người nào, [đức Thế Tôn phán: ‘Này Puṇṇaka,’] các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn đã dâng cúng đến các vị trời nhiều sự tế lễ ở thế gian này, này Puṇṇaka, họ mong mỏi sự hiện hữu này hay sự hiện hữu khác; bị lệ thuộc vào sự già, họ đã thực hiện các cuộc tế lễ.”
Ye kecime isayo manujāti. Ye kecīti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – ye kecīti. Isayoti isināmakā ye keci isipabbajjaṃ pabbajitā ājīvakā nigaṇṭhā jaṭilā tāpasā. Manujāti manussā vuccantīti – ye kecime isayo manujā puṇṇakāti bhagavā.
Regarding ‘Whatever seers and humans there are’: ‘Whatever’ is a term of complete inclusion, meaning all in every way, without remainder, without exception. ‘Seers’ means those called seers, whoever have gone forth into the seer's homeless life: Ājīvakas, Nigaṇṭhas, matted-hair ascetics, and penitents. ‘Humans’ means human beings are spoken of. Thus: ‘Whatever seers and humans there are, O Puṇṇaka,’ the Blessed One said.
(Về câu) ‘Bất cứ ẩn sĩ và loài người nào.’ ‘Bất cứ... nào’ (ye keci) có nghĩa là: tất cả trong tất cả, tất cả bằng mọi cách, không còn sót lại, không có dư sót; đây là từ ngữ bao hàm trọn vẹn – đó là ‘bất cứ... nào.’ ‘Ẩn sĩ’ (isayo) là: bất cứ ai có tên là ẩn sĩ, những người đã xuất gia theo lối sống ẩn sĩ, các vị lõa thể, các vị Ni-kiền-tử, các vị bện tóc, các vị khổ hạnh. ‘Loài người’ (manujā) được gọi là con người – (đó là nghĩa của câu) ‘bất cứ ẩn sĩ và loài người nào.’ ‘Này Puṇṇaka’ là đức Thế Tôn gọi (vị ấy).
Khattiyā brāhmaṇā devatānanti. Khattiyāti ye keci khattiyajātikā. Brāhmaṇāti ye keci bhovādikā. Devatānanti ājīvakasāvakānaṃ ājīvakā devatā…pe… disāvatikānaṃ disā devatā. Ye yesaṃ dakkhiṇeyyā, te tesaṃ devatāti – khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ.
Regarding ‘Nobles, brahmins, for the deities’: ‘Nobles’ means whoever are of the noble caste. ‘Brahmins’ means whoever are those who use the address ‘bho.’ ‘For the deities’ means: for the disciples of the Ājīvakas, the Ājīvakas are their deities… for the Disāvatikas, the directions are their deities. Whoever are the recipients of offerings for some people, they are the deities for them. Thus: ‘nobles, brahmins, for the deities.’
(Về câu) ‘các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn đã dâng cúng đến các vị trời.’ ‘Sát-đế-lỵ’ (khattiyā) là: bất cứ ai thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ. ‘Bà-la-môn’ (brāhmaṇā) là: bất cứ ai có thói quen xưng hô ‘bho.’ ‘Đến các vị trời’ (devatānaṃ) là: đối với các đệ tử của phái lõa thể, các vị lõa thể là chư thiên... cho đến... đối với những người tôn thờ các phương hướng, các phương hướng là chư thiên. Những ai là bậc đáng được cúng dường của những người nào, các vị ấy là chư thiên của họ – (đó là nghĩa của câu) ‘các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn đã dâng cúng đến các vị trời.’
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loketi. Yaññaṃ vuccati deyyadhammo cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ annaṃ pānaṃ…pe… seyyāvasathapadīpeyyaṃ. Yaññamakappayiṃsūti yepi yaññaṃ esanti gavesanti pariyesanti…pe… seyyāvasathapadīpeyyaṃ, tepi yaññaṃ kappenti. Puthūti yaññā vā ete puthū, yaññayājakā vā ete puthū, dakkhiṇeyyā vā ete puthū…pe… evaṃ dakkhiṇeyyā vā ete puthū. Idha loketi manussaloketi yaññamakappayiṃsu – puthūdha loke.
Regarding ‘They performed many sacrifices in this world’: ‘Sacrifice’ refers to a gift-item, that is, robes, almsfood, lodging, medicinal requisites for the sick, food, drink… beds, dwellings, and lamps. ‘They performed sacrifices’: those who seek, search for, and look for a sacrifice… they too perform a sacrifice. ‘Many’: either these sacrifices are many, or these sacrificers are many, or these recipients of offerings are many… In this way, these recipients of offerings are many. ‘In this world’ means in the human world. Thus: ‘they performed many sacrifices in this world.’
(Về câu) ‘đã dâng cúng nhiều sự tế lễ ở thế gian này.’ ‘Tế lễ’ (yaññaṃ) được gọi là vật phẩm cúng dường: y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh, vật dụng, đồ ăn, thức uống... cho đến... chỗ ngủ, nơi ở, đèn dầu. ‘Đã dâng cúng tế lễ’ (yaññamakappayiṃsu) là: những người nào tìm kiếm, truy tìm, lùng tìm sự tế lễ... cho đến... chỗ ngủ, nơi ở, đèn dầu, những người ấy cũng thực hiện sự tế lễ. ‘Nhiều’ (puthū) là: hoặc những cuộc tế lễ này là nhiều, hoặc những người thực hiện tế lễ này là nhiều, hoặc những bậc đáng được cúng dường này là nhiều... cho đến... như vậy, những bậc đáng được cúng dường này là nhiều. ‘Ở thế gian này’ (idha loke) là ở trong thế giới loài người, họ đã dâng cúng tế lễ – (đó là nghĩa của câu) ‘nhiều ở thế gian này.’
Āsīsamānā puṇṇaka itthattanti. Āsīsamānāti rūpapaṭilābhaṃ āsīsamānā, saddapaṭilābhaṃ āsīsamānā, gandhapaṭilābhaṃ āsīsamānā, rasapaṭilābhaṃ āsīsamānā, phoṭṭhabbapaṭilābhaṃ āsīsamānā, puttapaṭilābhaṃ āsīsamānā, dārapaṭilābhaṃ āsīsamānā, dhanapaṭilābhaṃ āsīsamānā, yasapaṭilābhaṃ āsīsamānā, issariyapaṭilābhaṃ āsīsamānā, khattiyamahāsālakule attabhāvapaṭilābhaṃ āsīsamānā, brāhmaṇamahāsālakule attabhāvapaṭilābhaṃ āsīsamānā, gahapatimahāsālakule attabhāvapaṭilābhaṃ āsīsamānā, cātumahārājikesu † devesu attabhāvapaṭilābhaṃ āsīsamānā, tāvatiṃsesu devesu yāmesu devesu tusitesu devesu nimmānaratīsu devesu paranimmitavasavattīsu devesu brahmakāyikesu devesu attabhāvapaṭilābhaṃ āsīsamānā icchamānā sādiyamānā patthayamānā pihayamānā abhijappamānāti āsīsamānā.
Longing, Puṇṇaka, for this state here. 'Longing' means: longing for the acquisition of form, longing for the acquisition of sound, longing for the acquisition of odor, longing for the acquisition of taste, longing for the acquisition of tangible objects, longing for the acquisition of sons, longing for the acquisition of wives, longing for the acquisition of wealth, longing for the acquisition of retinue, longing for the acquisition of sovereignty, longing for the acquisition of an individual existence in a great khattiya family, longing for the acquisition of an individual existence in a great brahmin family, longing for the acquisition of an individual existence in a great householder family, longing for the acquisition of an individual existence among the gods of the Four Great Kings, among the Tāvatiṃsa gods, the Yāma gods, the Tusita gods, the Nimmānarati gods, the Paranimmitavasavatti gods, and the gods of Brahmā's company—wishing, relishing, aspiring, yearning, and coveting: this is 'longing.'
(Về câu) ‘này Puṇṇaka, họ mong mỏi sự hiện hữu này hay sự hiện hữu khác.’ ‘Mong mỏi’ (āsīsamānā) là: mong mỏi sự thành tựu về sắc, mong mỏi sự thành tựu về tiếng, mong mỏi sự thành tựu về hương, mong mỏi sự thành tựu về vị, mong mỏi sự thành tựu về xúc, mong mỏi sự thành tựu về con trai, mong mỏi sự thành tựu về vợ, mong mỏi sự thành tựu về tài sản, mong mỏi sự thành tựu về danh tiếng, mong mỏi sự thành tựu về quyền lực, mong mỏi sự thành tựu về thân mạng trong gia tộc Sát-đế-lỵ giàu có, mong mỏi sự thành tựu về thân mạng trong gia tộc Bà-la-môn giàu có, mong mỏi sự thành tựu về thân mạng trong gia tộc gia chủ giàu có, mong mỏi sự thành tựu về thân mạng ở cõi trời Tứ Đại Thiên Vương, ở cõi trời Ba Mươi Ba, ở cõi trời Dạ Ma, ở cõi trời Đâu Suất, ở cõi trời Hóa Lạc, ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại, ở cõi trời Phạm Chúng, mong mỏi sự thành tựu về thân mạng, là ước muốn, là vui thích, là khao khát, là ao ước, là cầu nguyện – đó là ‘mong mỏi.’
Puṇṇaka itthattanti ettha attabhāvābhinibbattiṃ āsīsamānā ettha khattiyamahāsālakule attabhāvābhinibbattiṃ āsīsamānā…pe… ettha brahmakāyikesu devesu attabhāvābhinibbattiṃ āsīsamānā icchamānā sādiyamānā patthayamānā pihayamānā abhijappamānāti āsīsamānā – puṇṇaka itthattaṃ.
'Puṇṇaka, for this state here' means: longing for the generation of an individual existence here, longing for the generation of an individual existence here in a great khattiya family ...pe... longing for the generation of an individual existence here among the gods of Brahmā's company—wishing, relishing, aspiring, yearning, and coveting. This is 'longing, Puṇṇaka, for this state here.'
(Về câu) ‘này Puṇṇaka, sự hiện hữu này hay sự hiện hữu khác,’ (có nghĩa là) mong mỏi sự tái sanh của thân mạng ở đây, mong mỏi sự tái sanh của thân mạng trong gia tộc Sát-đế-lỵ giàu có ở đây... cho đến... mong mỏi sự tái sanh của thân mạng ở cõi trời Phạm Chúng ở đây, là ước muốn, là vui thích, là khao khát, là ao ước, là cầu nguyện, là mong mỏi – (đó là nghĩa của câu) ‘này Puṇṇaka, sự hiện hữu này hay sự hiện hữu khác.’
Jaraṃ sitā yaññamakappayiṃsūti jarānissitā byādhinissitā maraṇanissitā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsanissitā. Yadeva te jātinissitā tadeva te jarānissitā. Yadeva te jarānissitā tadeva te byādhinissitā. Yadeva te byādhinissitā tadeva te maraṇanissitā. Yadeva te maraṇanissitā tadeva te sokaparidevadukkhadomanassupāyāsanissitā. Yadeva te sokaparidevadukkhadomanassupāyāsanissitā tadeva te gatinissitā. Yadeva te gatinissitā tadeva te upapattinissitā. Yadeva te upapattinissitā tadeva te paṭisandhinissitā. Yadeva te paṭisandhinissitā tadeva te bhavanissitā. Yadeva te bhavanissitā tadeva te saṃsāranissitā. Yadeva te saṃsāranissitā tadeva te vaṭṭanissitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttāti – jaraṃ sitā yaññamakappayiṃsu. Tenāha bhagavā –
“They performed the sacrifice depending on old age” means: they are dependent on old age, dependent on sickness, dependent on death, dependent on sorrow, lamentation, pain, grief, and despair. Insofar as they are dependent on birth, they are dependent on old age. Insofar as they are dependent on old age, they are dependent on sickness. Insofar as they are dependent on sickness, they are dependent on death. Insofar as they are dependent on death, they are dependent on sorrow, lamentation, pain, grief, and despair. Insofar as they are dependent on sorrow, lamentation, pain, grief, and despair, they are dependent on a destination. Insofar as they are dependent on a destination, they are dependent on rebirth. Insofar as they are dependent on rebirth, they are dependent on relinking. Insofar as they are dependent on relinking, they are dependent on existence. Insofar as they are dependent on existence, they are dependent on saṃsāra. Insofar as they are dependent on saṃsāra, they are dependent on the round—clinging, having entered, being settled in, and resolved upon it. This is the meaning of “they performed the sacrifice depending on old age.” Therefore the Blessed One said:
“Nương tựa vào sự già, họ đã thực hiện việc tế lễ” có nghĩa là: nương tựa vào sự già, nương tựa vào bệnh tật, nương tựa vào sự chết, nương tựa vào sầu, bi, khổ, ưu, não. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào sanh, khi ấy họ nương tựa vào sự già. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào sự già, khi ấy họ nương tựa vào bệnh tật. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào bệnh tật, khi ấy họ nương tựa vào sự chết. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào sự chết, khi ấy họ nương tựa vào sầu, bi, khổ, ưu, não. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào sầu, bi, khổ, ưu, não, khi ấy họ nương tựa vào cõi sống. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào cõi sống, khi ấy họ nương tựa vào sự sanh khởi. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào sự sanh khởi, khi ấy họ nương tựa vào sự tái sanh. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào sự tái sanh, khi ấy họ nương tựa vào kiếp sống. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào kiếp sống, khi ấy họ nương tựa vào luân hồi. Bất cứ khi nào họ nương tựa vào luân hồi, khi ấy họ nương tựa vào vòng luân hồi, bị dính mắc, đi đến, chìm đắm, quyết tâm – (như vậy là) nương tựa vào sự già, họ đã thực hiện việc tế lễ. Do đó, đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Ye kecime isayo manujā, [puṇṇakāti bhagavā]
Khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ;
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loke, āsīsamānā puṇṇaka itthattaṃ;
Jaraṃ sitā yaññamakappayiṃsū’’ti.
“Whatever seers there are among humans, Puṇṇaka,” said the Blessed One, “khattiyas and brahmins who, for the sake of the gods, have performed many a sacrifice here in the world, longing, Puṇṇaka, for this state here—depending on old age they performed the sacrifice.”
(Đức Thế Tôn nói:) “Này Puṇṇaka, bất cứ những vị ẩn sĩ, những con người, những vị Sát-đế-lỵ, những vị Bà-la-môn nào ở thế gian này, trong khi mong cầu trạng thái hiện hữu, đã thực hiện nhiều việc tế lễ cho các chư thiên; nương tựa vào sự già, họ đã thực hiện việc tế lễ.”
14.
14.
14.
Ye kecime isayo manujā, [iccāyasmā puṇṇako]
Khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ;
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loke, kaccisu te bhagavā yaññapathe appamattā;
Atāruṃ † jātiñca jarañca mārisa, pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ.
“Whatever seers there are among humans,” said the Venerable Puṇṇaka, “khattiyas and brahmins who, for the sake of the gods, have performed many a sacrifice here in the world—were they, Blessed One, diligent on the path of sacrifice? Did they cross over birth and old age, dear sir? I ask you, Blessed One, please tell me this.”
(Tôn giả Puṇṇaka thưa:) “Bất cứ những vị ẩn sĩ, những con người, những vị Sát-đế-lỵ, những vị Bà-la-môn nào ở thế gian này đã thực hiện nhiều việc tế lễ cho các chư thiên; bạch đức Thế Tôn, phải chăng những vị ấy đã không xao lãng trong con đường tế lễ? Thưa ngài, phải chăng họ đã vượt qua sanh và già? Con xin hỏi Ngài điều ấy, bạch đức Thế Tôn, xin Ngài hãy nói cho con.”
Ye kecime isayo manujāti. Ye kecīti…pe….
“Whatever seers there are among humans”: “Whatever” …pe…
(Trong câu) “Bất cứ những vị ẩn sĩ, những con người này”. “Bất cứ” có nghĩa là… (vân vân)…
Kaccisu te bhagavā yaññapathe appamattāti. Kaccisūti saṃsayapucchā vimatipucchā dveḷhakapucchā anekaṃsapucchā – ‘‘evaṃ nu kho, na nu kho, kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’’ti – kaccisu. Teti yaññayājakā vuccanti. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti, yadidaṃ bhagavāti – kaccisu te bhagavā. Yaññapathe appamattāti yaññoyeva vuccati yaññapatho. Yathā ariyamaggo ariyapatho devamaggo devapatho brahmamaggo brahmapatho, evameva yaññoyeva vuccati yaññapatho. Appamattāti yaññapathe appamattā sakkaccakārino sātaccakārino aṭṭhitakārino anolīnavuttino anikkhittacchandā anikkhittadhurā taccaritā tabbahulā taggarukā tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyāti – tepi yaññapathe appamattā. Yepi yaññaṃ esanti gavesanti pariyesanti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ annaṃ pānaṃ…pe… seyyāvasathapadīpeyyaṃ sakkaccakārino…pe… tadadhipateyyā, tepi yaññapathe appamattā. Yepi yaññaṃ abhisaṅkharonti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ annaṃ pānaṃ…pe… seyyāvasathapadīpeyyaṃ sakkaccakārino…pe… tadadhipateyyā, tepi yaññapathe appamattā. Yepi yaññaṃ denti yajanti pariccajanti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ annaṃ pānaṃ…pe… seyyāvasathapadīpeyyaṃ sakkaccakārino …pe… tadadhipateyyā, tepi yaññapathe appamattāti – kaccisu te bhagavā yaññapathe appamattā.
“Were they, Blessed One, diligent on the path of sacrifice?” ‘Were they’ is a question of doubt, a question of uncertainty, a question of perplexity, an inconclusive question: ‘Is it so? Is it not so? What is it? How is it?’ ‘They’ refers to the performers of sacrifices. ‘Blessed One’ is a term of respect …pe… a realized designation, that is, ‘Blessed One.’ ‘Diligent on the path of sacrifice’: the sacrifice itself is called the path of sacrifice. Just as the noble path is the noble way, the divine path is the divine way, and the brahma path is the brahma way, so too the sacrifice itself is called the path of sacrifice. ‘Diligent’ means: those diligent on the path of sacrifice are those who act respectfully, perseveringly, and steadfastly; who are not sluggish in conduct, who have not cast off desire, who have not laid down the yoke; who are devoted to it, abound in it, revere it, incline to it, slope towards it, are headed for it, are intent on it, and have it as their master—they are diligent on the path of sacrifice. Also, those who seek, search for, and look for a sacrifice—that is, robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick; food, drink …pe… a bed, a dwelling, and a lamp—acting respectfully …pe… having it as their master, they too are diligent on the path of sacrifice. Also, those who prepare a sacrifice… they too are diligent on the path of sacrifice. Also, those who give, offer, and relinquish a sacrifice… they too are diligent on the path of sacrifice. This is ‘Were they, Blessed One, diligent on the path of sacrifice?’
(Trong câu) “Bạch đức Thế Tôn, phải chăng những vị ấy đã không xao lãng trong con đường tế lễ”. “Phải chăng” là câu hỏi về sự nghi ngờ, câu hỏi về sự hoài nghi, câu hỏi lưỡng phân, câu hỏi không dứt khoát – (như là) “Có phải vậy chăng? Không phải vậy chăng? Là gì vậy chăng? Như thế nào vậy chăng?” – đó là “phải chăng”. “Những vị ấy” là chỉ những người thực hiện tế lễ. “Thế Tôn” là từ tôn kính… (vân vân)… là một danh hiệu được chứng thực, đó là “Thế Tôn” – (như vậy là) “phải chăng những vị ấy, bạch đức Thế Tôn”. (Trong câu) “Không xao lãng trong con đường tế lễ”, chính việc tế lễ được gọi là con đường tế lễ. Giống như thánh đạo được gọi là con đường của bậc thánh, con đường chư thiên được gọi là con đường của chư thiên, con đường Phạm thiên được gọi là con đường của Phạm thiên, cũng vậy, chính việc tế lễ được gọi là con đường tế lễ. “Không xao lãng” có nghĩa là: không xao lãng trong con đường tế lễ, là những người hành động cẩn trọng, hành động liên tục, hành động kiên định, có thái độ không lùi bước, không từ bỏ ý muốn, không từ bỏ gánh nặng, chuyên tâm vào đó, thực hành nhiều về đó, xem trọng điều đó, hướng về đó, xuôi về đó, dốc lòng vào đó, quyết tâm vào đó, xem đó là chủ đạo – những vị ấy cũng là không xao lãng trong con đường tế lễ. Cả những vị nào tìm kiếm, truy tìm, lùng tìm việc tế lễ là y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng, là cơm, nước… (vân vân)… là chỗ ngủ, chỗ ở, đèn dầu, là những người hành động cẩn trọng… (vân vân)… xem đó là chủ đạo, những vị ấy cũng là không xao lãng trong con đường tế lễ. Cả những vị nào chuẩn bị việc tế lễ là y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng, là cơm, nước… (vân vân)… là chỗ ngủ, chỗ ở, đèn dầu, là những người hành động cẩn trọng… (vân vân)… xem đó là chủ đạo, những vị ấy cũng là không xao lãng trong con đường tế lễ. Cả những vị nào cho, cúng dường, từ bỏ (để làm) việc tế lễ là y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng, là cơm, nước… (vân vân)… là chỗ ngủ, chỗ ở, đèn dầu, là những người hành động cẩn trọng … (vân vân)… xem đó là chủ đạo, những vị ấy cũng là không xao lãng trong con đường tế lễ – (như vậy là) “bạch đức Thế Tôn, phải chăng những vị ấy đã không xao lãng trong con đường tế lễ”.
Atāruṃ jātiñca jarañca mārisāti jarāmaraṇaṃ atariṃsu uttariṃsu patariṃsu samatikkamiṃsu vītivattiṃsu. Mārisāti piyavacanaṃ garuvacanaṃ sagāravasappatissādhivacanametaṃ mārisāti – atāru jātiñca jarañca mārisa.
`Atāruṃ jātiñca jarañca mārisa` (Did they cross over birth and old age, dear sir?) means: they crossed over, passed beyond, traversed, overcame, and surmounted old age and death. `Mārisa` (dear sir) is a term of affection and a term of respect; this term, `mārisa`, is an expression of esteem and reverence. This is the meaning of 'Did they cross over birth and old age, dear sir?'
(Trong câu) “Thưa ngài, phải chăng họ đã vượt qua sanh và già” có nghĩa là: họ đã vượt qua, đã vượt lên trên, đã vượt qua một cách riêng biệt, đã vượt qua hoàn toàn, đã vượt qua một cách đặc biệt (đối với) già và chết. “Thưa ngài” là lời nói thân ái, lời nói tôn trọng, đây là từ ngữ thể hiện sự kính trọng và vâng lời, đó là “thưa ngài” – (như vậy là) “đã vượt qua sanh và già, thưa ngài”.
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metanti. Pucchāmi tanti pucchāmi taṃ yācāmi taṃ ajjhesāmi taṃ pasādemi taṃ kathayassu meti – pucchāmi taṃ. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti – yadidaṃ bhagavāti. Brūhi metanti brūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
`Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ` (I ask you, Blessed One, tell me this): `Pucchāmi taṃ` (I ask you) means: I ask you, I beg you, I request you, I entreat you, please tell me. `Bhagavā` (Blessed One) is a term of respect... a realized designation, that is, 'Blessed One.' `Brūhi metaṃ` (Tell me this) means: tell me, declare it, teach it, make it known, establish it, reveal it, analyze it, make it plain, manifest it. This is the meaning of `pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ`. Therefore that brahmin said:
(Trong câu) “Con xin hỏi Ngài điều ấy, bạch đức Thế Tôn, xin Ngài hãy nói cho con”. “Con xin hỏi Ngài điều ấy” có nghĩa là: con xin hỏi Ngài điều ấy, con xin cầu Ngài điều ấy, con xin thỉnh Ngài điều ấy, con xin làm Ngài hoan hỷ (để nói) điều ấy, xin hãy nói cho con – đó là “con xin hỏi Ngài điều ấy”. “Thế Tôn” là từ tôn kính… (vân vân)… là một danh hiệu được chứng thực – đó là “Thế Tôn”. “Xin Ngài hãy nói cho con” có nghĩa là: xin hãy nói, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy làm cho biết, hãy thiết lập, hãy mở ra, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy trình bày – (như vậy là) “con xin hỏi Ngài điều ấy, bạch đức Thế Tôn, xin Ngài hãy nói cho con”. Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói –
‘‘Ye kecime isayo manujā, [iccāyasmā puṇṇako]
Khattiyā brāhmaṇā devatānaṃ;
Yaññamakappayiṃsu puthūdha loke, kaccisu te bhagavā yaññapathe appamattā;
Atāru jātiñca jarañca mārisa, pucchāmi taṃ bhagavā brūhi meta’’nti.
“Whatever seers there are among humans,” said the Venerable Puṇṇaka, “khattiyas and brahmins who, for the sake of the gods, have performed many a sacrifice here in the world—were they, Blessed One, diligent on the path of sacrifice? Did they cross over birth and old age, dear sir? I ask you, Blessed One, please tell me this.”
(Tôn giả Puṇṇaka thưa:) “Bất cứ những vị ẩn sĩ, những con người, những vị Sát-đế-lỵ, những vị Bà-la-môn nào ở thế gian này đã thực hiện nhiều việc tế lễ cho các chư thiên; bạch đức Thế Tôn, phải chăng những vị ấy đã không xao lãng trong con đường tế lễ? Thưa ngài, phải chăng họ đã vượt qua sanh và già? Con xin hỏi Ngài điều ấy, bạch đức Thế Tôn, xin Ngài hãy nói cho con.”
15.
15.
15.
Āsīsanti † thomayanti, abhijappanti juhanti; [Puṇṇakāti bhagavā]
Kāmābhijappanti paṭicca lābhaṃ, te yājayogā bhavarāgarattā;
Nātariṃsu jātijaranti brūmi.
“They long and they praise, they yearn and they sacrifice,” said the Blessed One to Puṇṇaka, “yearning for sensual pleasures dependent on gain. Those who are devoted to sacrifice, impassioned with lust for existence, did not cross over birth and old age, I say.”
(Đức Thế Tôn nói:) “Này Puṇṇaka, họ mong cầu, họ tán thán, họ lẩm bẩm cầu nguyện, họ cúng dường; do duyên với sự được lợi lộc, họ lẩm bẩm cầu nguyện các dục vọng. Những người chuyên tâm tế lễ ấy, bị tham ái trong hữu nhuộm, Ta nói rằng họ đã không vượt qua sanh và già.”
Āsīsanti thomayanti abhijappanti juhantīti. Āsīsantīti rūpapaṭilābhaṃ āsīsanti, saddapaṭilābhaṃ āsīsanti, gandhapaṭilābhaṃ āsīsanti, rasapaṭilābhaṃ āsīsanti, phoṭṭhabbapaṭilābhaṃ āsīsanti, puttapaṭilābhaṃ āsīsanti, dārapaṭilābhaṃ āsīsanti, dhanapaṭilābhaṃ āsīsanti, yasapaṭilābhaṃ āsīsanti, issariyapaṭilābhaṃ āsīsanti, khattiyamahāsālakule attabhāvapaṭilābhaṃ āsīsanti, brāhmaṇamahāsālakule…pe… gahapatimahāsālakule attabhāvapaṭilābhaṃ āsīsanti, cātumahārājikesu devesu…pe… brahmakāyikesu devesu attabhāvapaṭilābhaṃ āsīsanti icchanti sādiyanti patthayanti pihayantīti – āsīsanti.
In the passage 'they long, they praise, they yearn, they sacrifice': 'They long' means: they long for the acquisition of form, they long for the acquisition of sound, they long for the acquisition of odor, they long for the acquisition of taste, they long for the acquisition of tangible objects, they long for the acquisition of sons, they long for the acquisition of wives, they long for the acquisition of wealth, they long for the acquisition of fame, they long for the acquisition of sovereignty, they long for the acquisition of an individual existence in a great khattiya family, in a great brahmin family ...pe... in a great householder family, they long for the acquisition of an individual existence among the gods of the Four Great Kings ...pe... among the gods of Brahmā's retinue—they wish, they relish, they aspire, they yearn. This is the meaning of 'they long'.
(Trong câu) “Họ mong cầu, họ tán thán, họ lẩm bẩm cầu nguyện, họ cúng dường”. “Họ mong cầu” có nghĩa là: họ mong cầu được sắc, họ mong cầu được thanh, họ mong cầu được hương, họ mong cầu được vị, họ mong cầu được xúc, họ mong cầu được con trai, họ mong cầu được vợ, họ mong cầu được tài sản, họ mong cầu được danh tiếng, họ mong cầu được quyền lực, họ mong cầu được sanh làm thân trong dòng dõi Sát-đế-lỵ đại phú, trong dòng dõi Bà-la-môn đại phú… (vân vân)… trong dòng dõi gia chủ đại phú, họ mong cầu được sanh làm thân ở cõi chư thiên Tứ Đại Thiên Vương… (vân vân)… ở cõi chư thiên Phạm Chúng; họ mong muốn, họ chấp nhận, họ ao ước, họ khao khát – đó là “họ mong cầu”.
Thomayantīti yaññaṃ vā thomenti phalaṃ vā thomenti dakkhiṇeyye vā thomenti. Kathaṃ yaññaṃ thomenti? Suciṃ dinnaṃ †, manāpaṃ dinnaṃ, paṇītaṃ dinnaṃ, kālena dinnaṃ, kappiyaṃ dinnaṃ, viceyya dinnaṃ, anavajjaṃ dinnaṃ, abhiṇhaṃ dinnaṃ dadaṃ cittaṃ pasāditanti – thomenti kittenti vaṇṇenti pasaṃsanti. Evaṃ yaññaṃ thomenti.
'They praise' means: they praise the sacrifice, or they praise the fruit, or they praise those worthy of offerings. How do they praise the sacrifice? 'It was given purely, given pleasingly, given excellently, given at the proper time, given suitably, given with discernment, given blamelessly, given repeatedly; having given, the mind is gladdened'—thus they praise, extol, commend, and applaud. In this way, they praise the sacrifice.
‘(Họ) tán dương’ có nghĩa là: họ tán dương sự tế lễ, hoặc họ tán dương quả báu, hoặc họ tán dương những bậc đáng được cúng dường. Họ tán dương sự tế lễ như thế nào? (Với ý nghĩ rằng): ‘Vật đã được dâng cúng một cách trong sạch, vật đã được dâng cúng một cách hài lòng, vật đã được dâng cúng một cách cao quý, vật đã được dâng cúng đúng thời, vật đã được dâng cúng một cách thích hợp, vật đã được dâng cúng sau khi lựa chọn, vật đã được dâng cúng một cách không có lỗi lầm, vật đã được dâng cúng một cách thường xuyên, trong khi dâng cúng đã làm cho tâm được trong sạch’ – (như vậy) họ tán dương, họ ca ngợi, họ xưng tụng, họ tán thán. Họ tán dương sự tế lễ như vậy.
Kathaṃ phalaṃ thomenti? Ito nidānaṃ rūpapaṭilābho bhavissati…pe… brahmakāyikesu devesu attabhāvapaṭilābho bhavissatīti – thomenti kittenti vaṇṇenti pasaṃsanti. Evaṃ phalaṃ thomenti.
How do they praise the fruit? 'From this as a source, there will be the acquisition of form ...pe... there will be the acquisition of an individual existence among the gods of Brahmā's retinue'—thus they praise, extol, commend, and applaud. In this way, they praise the fruit.
Họ tán dương quả báu như thế nào? (Với ý nghĩ rằng): ‘Do nhân này, sự thành tựu về sắc sẽ có được... cho đến... sự thành tựu về tự thân ở cõi Phạm Thiên sẽ có được’ – (như vậy) họ tán dương, họ ca ngợi, họ xưng tụng, họ tán thán. Họ tán dương quả báu như vậy.
Kathaṃ dakkhiṇeyye thomenti? Dakkhiṇeyyā jātisampannā gottasampannā ajjhāyakā mantadharā tiṇṇaṃ vedānaṃ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṃ sākkharappabhedānaṃ itihāsapañcamānaṃ padakā veyyākaraṇā lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayāti, vītarāgā vā rāgavinayāya vā paṭipannā, vītadosā vā dosavinayāya vā paṭipannā, vītamohā vā mohavinayāya vā paṭipannā, saddhāsampannā sīlasampannā samādhisampannā paññāsampannā vimuttisampannā vimuttiñāṇadassanasampannāti – thomenti kittenti vaṇṇenti pasaṃsanti. Evaṃ dakkhiṇeyye thomentīti – āsīsanti thomayanti.
How do they praise those worthy of offerings? They praise those worthy of offerings as being endowed with birth, endowed with lineage, reciters of the Vedas, bearers of the mantras, masters of the three Vedas along with the Nighaṇḍu and Keṭubha treatises, the analysis of letters, and with history as the fifth; as experts in the Vedic verses and grammar, not deficient in the Lokāyata and the treatises on the marks of a great man; or as being free from lust, or practicing for the removal of lust; free from hatred, or practicing for the removal of hatred; free from delusion, or practicing for the removal of delusion; as endowed with faith, endowed with virtue, endowed with concentration, endowed with wisdom, endowed with liberation, endowed with the knowledge and vision of liberation—thus they praise, extol, commend, and acclaim. In this way, they praise those worthy of offerings. This is the meaning of 'they aspire and they praise'.
Họ tán dương những bậc đáng được cúng dường như thế nào? (Với ý nghĩ rằng): ‘Những bậc đáng được cúng dường là những vị đầy đủ về dòng dõi, đầy đủ về gia tộc, là những vị học giả, những vị thông thuộc thánh điển, những vị thông suốt ba tập Vệ-đà cùng với các sách từ vựng (Nighaṇḍu), nghi lễ (Keṭubha), ngữ nguyên (Akkhara-ppabheda), và sử thi (Itihāsa) là thứ năm; là những vị am tường văn phạm (padakā), ngữ pháp (veyyākaraṇā), và không thiếu sót trong các môn Thuận thế luận (Lokāyata) và tướng của bậc đại nhân; hoặc là những vị đã ly tham hay đang thực hành để điều phục tham, hoặc là những vị đã ly sân hay đang thực hành để điều phục sân, hoặc là những vị đã ly si hay đang thực hành để điều phục si; là những vị đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, đầy đủ giải thoát, đầy đủ giải thoát tri kiến’ – (như vậy) họ tán dương, họ ca ngợi, họ xưng tụng, họ tán thán. Họ tán dương những bậc đáng được cúng dường như vậy. Đây là ý nghĩa của ‘āsīsanti thomayanti’ (họ mong cầu, họ tán dương).
Abhijappantīti rūpapaṭilābhaṃ abhijappanti, saddapaṭilābhaṃ abhijappanti, gandhapaṭilābhaṃ abhijappanti, rasapaṭilābhaṃ abhijappanti…pe… brahmakāyikesu devesu attabhāvapaṭilābhaṃ abhijappantīti – āsīsanti thomayanti abhijappanti. Juhantīti juhanti denti yajanti pariccajanti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ annaṃ pānaṃ vatthaṃ yānaṃ mālāgandhavilepanaṃ seyyāvasathapadīpeyyanti – āsīsanti thomayanti abhijappanti juhanti puṇṇakāti bhagavā.
'They crave' means they crave the acquisition of form, they crave the acquisition of sound, they crave the acquisition of smell, they crave the acquisition of taste… they crave the acquisition of an individual existence among the Brahmakāyika devas. This is the meaning of 'they aspire, they praise, they crave.' 'They sacrifice' means they give, offer, and relinquish robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick; food, drink, clothing, vehicles, garlands, scents and unguents, beds, dwellings, and lamps. This is the meaning of 'they aspire, they praise, they crave, they sacrifice, O Puṇṇaka,' said the Blessed One.
‘(Họ) khao khát’ có nghĩa là: họ khao khát sự thành tựu về sắc, họ khao khát sự thành tựu về thanh, họ khao khát sự thành tựu về hương, họ khao khát sự thành tựu về vị... cho đến... họ khao khát sự thành tựu về tự thân ở cõi Phạm Thiên. Đây là ý nghĩa của ‘āsīsanti thomayanti abhijappanti’ (họ mong cầu, họ tán dương, họ khao khát). ‘(Họ) tế cúng’ có nghĩa là: họ tế cúng, họ dâng cúng, họ cúng dường, họ từ bỏ (để cúng dường) y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh, vật thực, thức uống, vải vóc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, và đèn dầu. Đây là ý nghĩa của ‘āsīsanti thomayanti abhijappanti juhanti, này Puṇṇaka, Đức Thế Tôn (đã dạy).’
Kāmābhijappanti paṭicca lābhanti rūpapaṭilābhaṃ paṭicca kāme abhijappanti, saddapaṭilābhaṃ paṭicca kāme abhijappanti…pe… brahmakāyikesu devesu attabhāvapaṭilābhaṃ paṭicca kāme abhijappanti pajappantīti – kāmābhijappanti paṭicca lābhaṃ.
‘They crave sensual pleasures in dependence on gain’: they crave sensual pleasures in dependence on obtaining forms, they crave sensual pleasures in dependence on obtaining sounds… they crave sensual pleasures in dependence on obtaining an identity among the Brahmakāyika devas. They crave and yearn. Thus: ‘they crave sensual pleasures in dependence on gain.’
‘Khao khát dục lạc, duyên vào lợi lộc’ có nghĩa là: duyên vào sự thành tựu về sắc, họ khao khát các dục lạc; duyên vào sự thành tựu về thanh, họ khao khát các dục lạc... cho đến... duyên vào sự thành tựu về tự thân ở cõi Phạm Thiên, họ khao khát, họ mong mỏi các dục lạc. Đây là ý nghĩa của ‘khao khát dục lạc, duyên vào lợi lộc’.
Te yājayogā bhavarāgarattā nātariṃsu jātijaranti brūmīti teti yaññayājakā vuccanti, yājayogāti yājayogesu yuttā payuttā āyuttā samāyuttā taccaritā tabbahulā taggarukā tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyāti – te yājayogā, bhavarāgarattāti bhavarāgo vuccati yo bhavesu bhavacchando bhavarāgo bhavanandī bhavataṇhā bhavasineho bhavapariḷāho bhavamucchā bhavajjhosānaṃ. Bhavarāgena bhavesu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā laggā laggitā palibuddhāti – te yājayogā bhavarāgarattā.
‘They, devoted to sacrifice, dyed with lust for existence, did not cross over birth and aging, I say.’ Herein, ‘they’ refers to the performers of sacrifices. ‘Devoted to sacrifice’ means they are yoked, thoroughly yoked, especially yoked, and well yoked to sacrificial rites; they practice them, frequently engage in them, are inclined to them, are bent on them, are intent on them, and are dominated by them. Thus they are ‘devoted to sacrifice.’ ‘Dyed with lust for existence’: lust for existence is the desire for existence, lust for existence, delight in existence, thirst for existence, affection for existence, the fever of existence, infatuation with existence, and obsession with existence. By this lust for existence they are dyed, greedy, ensnared, infatuated, obsessed, attached, clinging, and shackled to the modes of being. Thus they are ‘devoted to sacrifice, dyed with lust for existence.’
Trong câu ‘Những kẻ hành trì tế lễ, đam mê ái hữu, Ta nói rằng, không vượt qua sanh và già,’ ‘Những kẻ ấy’ được gọi là những người thực hành tế lễ. ‘Hành trì tế lễ’ có nghĩa là: họ gắn bó, chuyên tâm, tận tụy, hết lòng với việc tế lễ; họ thực hành điều đó, họ thường xuyên làm điều đó, họ xem trọng điều đó, họ hướng về điều đó, họ nghiêng về điều đó, họ chuyên chú vào điều đó, họ quyết tâm vào điều đó, họ lấy đó làm chủ. Đây là ý nghĩa của ‘những kẻ hành trì tế lễ.’ ‘Đam mê ái hữu’ có nghĩa là: ái hữu được gọi là những gì ở trong các cõi hữu, là dục về hữu, là tham về hữu, là hỷ về hữu, là ái về hữu, là luyến ái về hữu, là nhiệt não về hữu, là mê đắm về hữu, là chìm đắm về hữu. Do ái hữu, họ đam mê, họ tham lam, họ khao khát, họ say đắm, họ chìm đắm, họ dính mắc, họ bị ràng buộc, họ bị trói buộc trong các cõi hữu. Đây là ý nghĩa của ‘những kẻ hành trì tế lễ, đam mê ái hữu.’
Nātariṃsu jātijaranti brūmīti te yājayogā bhavarāgarattā jātijarāmaraṇaṃ nātariṃsu na uttariṃsu na patariṃsu na samatikkamiṃsu na vītivattiṃsu, jātijarāmaraṇā anikkhantā anissaṭā anatikkantā asamatikkantā avītivattā antojātijarāmaraṇe parivattanti antosaṃsārapathe parivattanti. Jātiyā anugatā jarāya anusaṭā byādhinā abhibhūtā maraṇena abbhāhatā atāṇā aleṇā asaraṇā asaraṇībhūtāti; brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – te yājayogā bhavarāgarattā nātariṃsu jātijaranti brūmi. Tenāha bhagavā –
‘They did not cross over birth and aging, I say.’ Those devoted to sacrifice, dyed with lust for existence, did not cross over birth, aging, and death; they did not go beyond, did not get through, did not surmount, did not transcend it. They have not departed from birth, aging, and death, have not been released from it, have not surmounted it, have not transcended it, have not overcome it. They revolve within birth, aging, and death; they revolve on the path of saṃsāra. They are pursued by birth, beset by aging, afflicted by illness, struck down by death—without protection, without shelter, without refuge, having become without a refuge. I say, I declare, I teach, I proclaim, I establish, I reveal, I analyze, I clarify, I make manifest. Thus: ‘They, devoted to sacrifice, dyed with lust for existence, did not cross over birth and aging, I say.’ Therefore the Blessed One said:
‘Ta nói rằng, không vượt qua sanh và già’ có nghĩa là: những kẻ hành trì tế lễ, đam mê ái hữu ấy đã không vượt qua, không vượt lên, không vượt thoát, không vượt khỏi, không siêu việt khỏi sanh, già, và chết. Họ không thoát ra, không lìa bỏ, không vượt qua, không vượt khỏi, không siêu việt khỏi sanh, già, và chết; họ xoay vần trong vòng sanh, già, và chết; họ xoay vần trong nẻo luân hồi. Họ bị sanh theo đuổi, bị già bám sát, bị bệnh chinh phục, bị chết đè nén; họ không có nơi nương tựa, không có nơi ẩn náu, không có nơi quy y, không trở thành nơi nương tựa cho người khác. ‘Ta nói’ có nghĩa là: Ta tuyên bố, Ta thuyết giảng, Ta trình bày, Ta thiết lập, Ta khai mở, Ta phân tích, Ta làm cho rõ ràng, Ta hiển thị. Đây là ý nghĩa của ‘những kẻ hành trì tế lễ, đam mê ái hữu, Ta nói rằng, không vượt qua sanh và già.’ Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Āsīsanti thomayanti, abhijappanti juhanti; [Puṇṇakāti bhagavā]
Kāmābhijappanti paṭicca lābhaṃ, te yājayogā bhavarāgarattā;
Nātariṃsu jātijaranti brūmī’’ti.
“They bless, they praise, they crave, they sacrifice; [Puṇṇaka, said the Blessed One,] craving sensual pleasures in expectation of gain. Those devoted to sacrifice, dyed with lust for existence, have not crossed over birth and aging, I say.”
“Họ mong cầu, tán dương, khao khát, và tế cúng; (này Puṇṇaka, Đức Thế Tôn đã dạy) họ khao khát dục lạc, duyên vào lợi lộc. Những kẻ hành trì tế lễ, đam mê ái hữu ấy, Ta nói rằng, không vượt qua sanh và già.”
16.
16.
16.
Te ce nātariṃsu yājayogā, [iccāyasmā puṇṇako]
Yaññehi jātiñca jarañca mārisa;
Atha ko carahi devamanussaloke, atāri jātiñca jarañca mārisa;
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ.
“If those devoted to sacrifice did not cross over birth and aging by means of sacrifices, dear sir, [said the venerable Puṇṇaka,] then who indeed in the world with its devas and humans has crossed over birth and aging, dear sir? I ask you, Blessed One, please tell me this.”
(Tôn giả Puṇṇaka thưa rằng:) “Thưa ngài, nếu những kẻ hành trì tế lễ ấy không vượt qua được sanh và già bằng các cuộc tế lễ, vậy thì, thưa ngài, trong thế giới của chư thiên và loài người, ai đã vượt qua được sanh và già? Con xin hỏi Thế Tôn về điều đó, xin Ngài hãy nói cho con biết.”
Te ce nātariṃsu yājayogāti te yaññayājakā yājayogā bhavarāgarattā jātijarāmaraṇaṃ nātariṃsu na uttariṃsu na patariṃsu na samatikkamiṃsu na vītivattiṃsu, jātijarāmaraṇā anikkhantā anissaṭā anatikkantā asamatikkantā avītivattā antojātijarāmaraṇe parivattanti antosaṃsārapathe parivattanti. Jātiyā anugatā jarāya anusaṭā byādhinā abhibhūtā maraṇena abbhāhatā atāṇā aleṇā asaraṇā asaraṇībhūtāti – te ce nātariṃsu yājayogā.
‘They indeed did not cross over, being engaged in sacrifice’: Those performers of sacrifices, engaged in sacrifice, dyed with lust for existence, did not cross over birth, aging, and death; they did not go beyond, did not pass through, did not surmount, did not transcend it. They have not departed from birth, aging, and death, have not been released from it, have not crossed over it, have not surmounted it, have not overcome it. They revolve within birth, aging, and death; they revolve on the path of saṃsāra. They are followed by birth, beset by aging, overwhelmed by illness, struck down by death—without protection, without shelter, without refuge, having become without a refuge. Thus: ‘They indeed did not cross over, being engaged in sacrifice.’
‘Nếu những kẻ hành trì tế lễ ấy không vượt qua được’ có nghĩa là: những người thực hành tế lễ, những kẻ hành trì tế lễ, đam mê ái hữu ấy đã không vượt qua, không vượt lên, không vượt thoát, không vượt khỏi, không siêu việt khỏi sanh, già, và chết. Họ không thoát ra, không lìa bỏ, không vượt qua, không vượt khỏi, không siêu việt khỏi sanh, già, và chết; họ xoay vần trong vòng sanh, già, và chết; họ xoay vần trong nẻo luân hồi. Họ bị sanh theo đuổi, bị già bám sát, bị bệnh chinh phục, bị chết đè nén; họ không có nơi nương tựa, không có nơi ẩn náu, không có nơi quy y, không trở thành nơi nương tựa cho người khác. Đây là ý nghĩa của ‘nếu những kẻ hành trì tế lễ ấy không vượt qua được’.
Iccāyasmā puṇṇakoti. Iccāti padasandhi…pe… āyasmā puṇṇako.
‘So said the venerable Puṇṇaka.’ ‘So’ is a conjunction of words… venerable Puṇṇaka.
‘Tôn giả Puṇṇaka thưa rằng.’ ‘Iti’ là một liên từ... cho đến... Tôn giả Puṇṇaka.
Yaññehi jātiñca jarañca mārisāti. Yaññehīti yaññehi pahūtehi yaññehi vividhehi yaññehi puthūhi. Mārisāti piyavacanaṃ garuvacanaṃ sagāravasappatissādhivacanametaṃ mārisāti – yaññehi jātiñca jarañca mārisa.
‘By means of sacrifices, birth and aging, dear sir’: ‘By means of sacrifices’ means by abundant sacrifices, by various sacrifices, by numerous sacrifices. ‘Dear sir’ is an affectionate and respectful term of address. Thus: ‘by means of sacrifices, birth and aging, dear sir.’
‘Bằng các cuộc tế lễ, (vượt qua) sanh và già, thưa ngài.’ ‘Bằng các cuộc tế lễ’ có nghĩa là: bằng nhiều cuộc tế lễ, bằng các loại tế lễ khác nhau, bằng vô số cuộc tế lễ. ‘Thưa ngài’ là một lời nói thân ái, một lời nói tôn trọng; ‘mārisa’ (thưa ngài) là một cách xưng hô thể hiện sự kính trọng và tuân phục. Đây là ý nghĩa của ‘bằng các cuộc tế lễ, (vượt qua) sanh và già, thưa ngài’.
Atha ko carahi devamanussaloke, atāri jātiñca jarañca mārisāti atha ko eso sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya jātijarāmaraṇaṃ atari uttari patari samatikkami vītivattayi †. Mārisāti piyavacanaṃ garuvacanaṃ sagāravasappattissādhivacanametaṃ mārisāti – atha ko carahi devamanussaloke, atāri jātiñca jarañca mārisa.
‘Then who indeed in the world with its devas and humans has crossed over birth and aging, dear sir?’: Then who is it in this world with its devas, its Māra, and its Brahmā, in this generation with its ascetics and brahmins, with its devas and humans, who has crossed over, gone beyond, passed through, surmounted, and overcome birth, aging, and death? ‘Dear sir’ is an affectionate and respectful term of address. Thus: ‘Then who indeed in the world with its devas and humans has crossed over birth and aging, dear sir?’
Vậy thì, thưa ngài, ai ở trong thế giới chư thiên và loài người đã vượt qua sanh và già? Vậy thì, ai ở trong thế giới này cùng với cõi trời, cõi ma, cõi phạm thiên, cùng với chúng sanh bao gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, đã vượt qua, đã vượt lên, đã vượt khỏi, đã hoàn toàn vượt qua, đã vượt thoát khỏi sanh, già, và chết? ‘Thưa ngài’ (mārisāti) là lời nói thân ái, lời nói tôn trọng, ‘thưa ngài’ là từ ngữ này biểu thị sự kính trọng và tôn kính. – Vậy thì, thưa ngài, ai ở trong thế giới chư thiên và loài người đã vượt qua sanh và già?
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metanti. Pucchāmi tanti pucchāmi taṃ yācāmi taṃ ajjhesāmi taṃ pasādemi taṃ kathayassu metanti – pucchāmi taṃ. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti – yadidaṃ bhagavāti. Brūhi metanti brūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ. Tenāha so brāhmaṇo –
‘I ask you, Blessed One, please tell me this’: ‘I ask you’ means I ask you, I request you, I entreat you, I invite you to clarify—please explain this to me. Thus: ‘I ask you.’ ‘Blessed One’ is a term of respect… a designation based on realization, that is, ‘the Blessed One.’ ‘Please tell me this’ means tell me, declare, teach, proclaim, establish, reveal, analyze, clarify, make manifest. Thus: ‘I ask you, Blessed One, please tell me this.’ Therefore that brahmin said:
‘Con hỏi Ngài, bạch Thế Tôn, xin hãy nói cho con.’ ‘Con hỏi Ngài’ có nghĩa là: Con hỏi Ngài, con cầu xin Ngài, con thỉnh cầu Ngài, con kính tín nơi Ngài, xin hãy nói cho con – đó là ý nghĩa của ‘con hỏi Ngài’. ‘Thế Tôn’ là một từ tôn kính… (v.v.)… là một danh xưng được chứng thực – đó là ‘Thế Tôn’. ‘Xin hãy nói cho con’ có nghĩa là: Xin hãy nói, hãy chỉ dạy, hãy thuyết giảng, hãy làm cho biết, hãy thiết lập, hãy khai mở, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy hiển thị – đó là ý nghĩa của ‘con hỏi Ngài, bạch Thế Tôn, xin hãy nói cho con’. Vì thế, vị Bà-la-môn ấy đã nói –
‘‘Te ce nātariṃsu yājayogā, [iccāyasmā puṇṇako]
Yaññehi jātiñca jarañca mārisa;
Atha ko carahi devamanussaloke, atāri jātiñca jarañca mārisa;
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi meta’’nti.
“If those devoted to sacrifice did not cross over birth and aging by means of sacrifices, dear sir, [said the venerable Puṇṇaka,] then who indeed in the world with its devas and humans has crossed over birth and aging, dear sir? I ask you, Blessed One, please tell me this.”
“Nếu những người chuyên tâm tế tự ấy, thưa ngài, đã không vượt qua được sanh và già bằng các lễ tế; vậy thì, thưa ngài, ai ở trong thế giới chư thiên và loài người đã vượt qua sanh và già? Con hỏi Ngài, bạch Thế Tôn, xin hãy nói cho con.”
17.
17.
17.
Saṅkhāya lokasmi † paroparāni, [puṇṇakāti bhagavā]
Yassiñjitaṃ natthi kuhiñci loke;
Santo vidhūmo anīgho nirāso, atāri so jātijaranti brūmi.
“Having comprehended the higher and lower in the world, Puṇṇaka,” said the Blessed One, “one for whom there is no agitation anywhere in the world, who is peaceful, smokeless, untroubled, and without longing—he has crossed over birth and aging, I say.”
(Thế Tôn phán:) “Này Puṇṇaka, sau khi đã thẩm sát các pháp cao thấp trong thế gian, vị nào không có sự dao động ở bất cứ đâu trong thế gian; vị ấy tịch tịnh, không khói, không phiền não, không mong cầu, Ta nói rằng vị ấy đã vượt qua sanh và già.”
Saṅkhāya lokasmi paroparānīti saṅkhā vuccati ñāṇaṃ yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Paroparānīti oraṃ vuccati sakattabhāvo, paraṃ vuccati parattabhāvo oraṃ vuccati sakarūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṃ, paraṃ vuccati pararūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṃ; oraṃ vuccati cha ajjhattikāni āyatanāni, paraṃ vuccati cha bāhirāni āyatanāni. Oraṃ vuccati manussaloko, paraṃ vuccati devaloko; oraṃ vuccati kāmadhātu, paraṃ vuccati rūpadhātu arūpadhātu; oraṃ vuccati kāmadhātu rūpadhātu, paraṃ vuccati arūpadhātu. Saṅkhāya lokasmi paroparānīti paroparāni aniccato saṅkhāya dukkhato rogato gaṇḍato…pe… nissaraṇato saṅkhāya jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – saṅkhāya lokasmi paroparāni. Puṇṇakāti bhagavāti. Puṇṇakāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… yadidaṃ bhagavāti – puṇṇakāti bhagavā.
‘Having comprehended the higher and lower in the world’: Comprehension (saṅkhā) is knowledge, that which is wisdom, understanding… non-delusion, investigation of phenomena, right view. ‘Higher and lower’: the lower refers to one’s own existence, the higher to another’s existence; the lower refers to one’s own form, feeling, perception, volitional formations, and consciousness, the higher to another’s; the lower refers to the six internal sense bases, the higher to the six external sense bases. The lower refers to the human world, the higher to the deva world; the lower refers to the sense-sphere realm, the higher to the form realm and the formless realm; the lower refers to the sense-sphere realm and the form realm, the higher to the formless realm. ‘Having comprehended the higher and lower in the world’ means having comprehended the higher and lower as impermanent, as suffering, as a disease, as a boil… as an escape; having known, weighed, judged, clarified, and made it fully evident. Thus: ‘having comprehended the higher and lower in the world.’ ‘Puṇṇaka, said the Blessed One’: The Blessed One addresses that brahmin by his name. ‘Blessed One’ is a term of respect… that is, ‘the Blessed One.’ Thus: ‘Puṇṇaka, said the Blessed One.’
‘Sau khi đã thẩm sát các pháp cao thấp trong thế gian.’ ‘Thẩm sát’ (saṅkhā) được gọi là trí tuệ, là tuệ, sự thông hiểu… (v.v.)… là vô si, trạch pháp, chánh kiến. ‘Các pháp cao thấp’ (paroparāni) có nghĩa là: ‘thấp’ (oraṃ) được gọi là tự thân, ‘cao’ (paraṃ) được gọi là tha thân; ‘thấp’ được gọi là sắc, thọ, tưởng, hành, thức của tự thân, ‘cao’ được gọi là sắc, thọ, tưởng, hành, thức của tha thân; ‘thấp’ được gọi là sáu nội xứ, ‘cao’ được gọi là sáu ngoại xứ. ‘Thấp’ được gọi là thế giới loài người, ‘cao’ được gọi là thế giới chư thiên; ‘thấp’ được gọi là cõi Dục, ‘cao’ được gọi là cõi Sắc và cõi Vô Sắc; ‘thấp’ được gọi là cõi Dục và cõi Sắc, ‘cao’ được gọi là cõi Vô Sắc. ‘Sau khi đã thẩm sát các pháp cao thấp trong thế gian’ có nghĩa là: sau khi đã thẩm sát các pháp cao thấp theo phương diện vô thường, khổ, bệnh, ung nhọt… (v.v.)… theo phương diện xuất ly, sau khi đã thẩm sát, đã biết, đã cân nhắc, đã phán đoán, đã làm cho phát triển, đã làm cho hiển lộ – đó là ý nghĩa của ‘sau khi đã thẩm sát các pháp cao thấp trong thế gian’. ‘Này Puṇṇaka, bạch Thế Tôn.’ ‘Này Puṇṇaka’ là Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. ‘Thế Tôn’ là từ ngữ tôn kính này… (v.v.)… đó là ‘Thế Tôn’ – đó là ý nghĩa của ‘này Puṇṇaka, bạch Thế Tôn’.
Yassiñjitaṃ natthi kuhiñci loketi. Yassāti arahato khīṇāsavassa. Iñjitanti taṇhiñjitaṃ diṭṭhiñjitaṃ māniñjitaṃ kilesiñjitaṃ kāmiñjitaṃ. Yassime iñjitā natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā. Kuhiñcīti kuhiñci kismiñci katthaci ajjhattaṃ vā bahiddhā vā ajjhattabahiddhā vā. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloketi – yassiñjitaṃ natthi kuhiñci loke.
‘For whom there is no agitation anywhere in the world’: ‘For whom’ means for the Arahant, the one whose taints are destroyed. ‘Agitation’ means agitation by craving, agitation by views, agitation by conceit, agitation by defilements, agitation by sensual desire. For whom these agitations do not exist, are not present, are not found, are not obtained; they are abandoned, cut off at the root, stilled, calmed, unable to arise again, and are burnt up by the fire of knowledge. ‘Anywhere’ means in any way, in anything, in any place, internally, or externally, or both internally and externally. ‘In the world’ means in the world of woe… in the world of the sense bases. This is the meaning of ‘For whom there is no agitation anywhere in the world’.
‘Vị nào không có sự dao động ở bất cứ đâu trong thế gian.’ ‘Vị nào’ có nghĩa là vị A-la-hán, bậc lậu tận. ‘Sự dao động’ là sự dao động của ái, sự dao động của tà kiến, sự dao động của mạn, sự dao động của phiền não, sự dao động của dục. Đối với vị nào những sự dao động này không có, không hiện hữu, không được tìm thấy; chúng đã được từ bỏ, đoạn tận, làm cho an tịnh, làm cho lắng dịu, không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. ‘Ở bất cứ đâu’ có nghĩa là ở bất cứ nơi nào, trong bất cứ cái gì, ở bất cứ chỗ nào, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc cả trong lẫn ngoài. ‘Trong thế gian’ có nghĩa là trong thế giới khổ cảnh… (v.v.)… trong thế giới của các xứ – đó là ý nghĩa của ‘vị nào không có sự dao động ở bất cứ đâu trong thế gian’.
Santo vidhūmo anīgho nirāso, atāri so jātijaranti brūmīti. Santoti rāgassa santattā santo, dosassa…pe… mohassa… kodhassa… upanāhassa… makkhassa… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā vūpasamitattā vijjhātattā † nibbutattā vigatattā paṭipassaddhattā santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddhoti santo; vidhūmoti kāyaduccaritaṃ vidhūmitaṃ vidhamitaṃ sositaṃ visositaṃ byantīkataṃ †, vacīduccaritaṃ…pe… manoduccaritaṃ vidhūmitaṃ vidhamitaṃ sositaṃ visositaṃ byantīkataṃ, rāgo… doso… moho vidhūmito vidhamito sosito visosito byantīkato, kodho… upanāho… makkho… paḷāso… issā… macchariyaṃ… māyā… sāṭheyyaṃ… thambho… sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo… sabbe kilesā sabbe duccaritā sabbe darathā sabbe pariḷāhā sabbe santāpā sabbākusalābhisaṅkhārā vidhūmitā vidhamitā sositā visositā byantīkatā. Atha vā, kodho vuccati dhūmo –
‘Peaceful, smokeless, untroubled, free of longing—he has crossed over birth and aging, I say.’ ‘Peaceful’—peaceful because of the calming of lust, peaceful because of the calming of hatred… delusion… anger… resentment… contempt… all unwholesome formations are calmed, stilled, well-stilled, extinguished, pacified, vanished, completely calmed; thus one is peaceful, especially peaceful, well-stilled, extinguished, completely calmed. ‘Smokeless’—bodily misconduct is destroyed, removed, dried up, thoroughly dried up, made to be absent; verbal misconduct… mental misconduct is destroyed, removed, dried up, thoroughly dried up, made to be absent; lust… hatred… delusion is destroyed, removed, dried up, thoroughly dried up, made to be absent; anger… resentment… contempt… competitiveness… envy… stinginess… deceit… craftiness… obstinacy… rivalry… conceit… arrogance… intoxication… heedlessness—all defilements, all misconduct, all distress, all fevers, all torments, all unwholesome formations are destroyed, removed, dried up, thoroughly dried up, made to be absent. Alternatively, anger is called smoke—
‘Vị ấy tịch tịnh, không khói, không phiền não, không mong cầu, Ta nói rằng vị ấy đã vượt qua sanh và già.’ ‘Tịch tịnh’ có nghĩa là: do sự tịch tịnh của tham nên gọi là tịch tịnh; của sân… (v.v.)… của si… của sân hận… của não hại… của tật đố… của tất cả các bất thiện hành, do đã được làm cho an tịnh, làm cho lắng dịu, làm cho dập tắt, làm cho nguội lạnh, làm cho tiêu tan, làm cho lắng dịu, nên gọi là tịch tịnh, an tịnh, lắng dịu, nguội lạnh, lắng dịu. ‘Không khói’ có nghĩa là: thân ác hạnh đã được xua tan, thổi bay, làm cho khô cạn, làm cho khô kiệt, làm cho chấm dứt; khẩu ác hạnh… (v.v.)… ý ác hạnh đã được xua tan, thổi bay, làm cho khô cạn, làm cho khô kiệt, làm cho chấm dứt; tham… sân… si đã được xua tan, thổi bay, làm cho khô cạn, làm cho khô kiệt, làm cho chấm dứt; sân hận… não hại… tật đố… ganh ghét… xan tham… lừa dối… xảo trá… ngoan cố… tranh cạnh… ngã mạn… quá mạn… say sưa… phóng dật… tất cả phiền não, tất cả ác hạnh, tất cả khổ não, tất cả nhiệt não, tất cả thiêu đốt, tất cả bất thiện hành đã được xua tan, thổi bay, làm cho khô cạn, làm cho khô kiệt, làm cho chấm dứt. Hoặc nữa, sân được gọi là khói –
Māno hi te brāhmaṇa khāribhāro, kodho dhūmo bhasmani † mosavajjaṃ;
Jivhā sujā hadayaṃ † jotiṭṭhānaṃ, attā sudanto purisassa joti.
‘Conceit, brahmin, is your heavy load; anger is the smoke; false speech, the ashes. The tongue is the sacrificial ladle; the heart, the place of the fire; a well-tamed self is a person's light.’
“Này Bà-la-môn, ngã mạn của ông quả là gánh nặng, sân là khói, lời dối trá là tro bụi; lưỡi là cái muỗng tế lễ, tâm là nơi phát sanh ánh sáng, tự thân được khéo điều phục là ánh sáng của con người.”
Api ca, dasahākārehi kodho jāyati – anatthaṃ me acarīti kodho jāyati, anatthaṃ me caratīti kodho jāyati, anatthaṃ me carissatīti kodho jāyati, piyassa me manāpassa anatthaṃ acari, anatthaṃ carati, anatthaṃ carissatīti kodho jāyati, appiyassa me amanāpassa atthaṃ acari, atthaṃ carati, atthaṃ carissatīti kodho jāyati, aṭṭhāne vā pana kodho jāyati. Yo evarūpo cittassa āghāto paṭighāto paṭighaṃ paṭivirodho kopo pakopo sampakopo doso padoso sampadoso cittassa byāpatti manopadoso kodho kujjhanā kujjhitattaṃ doso dussanā dussitattaṃ byāpatti byāpajjanā byāpajjitattaṃ virodho paṭivirodho caṇḍikkaṃ asuropo † anattamanatā cittassa – ayaṃ vuccati kodho.
Furthermore, anger arises in ten ways: anger arises thus, “He has done me harm”; anger arises thus, “He is doing me harm”; anger arises thus, “He will do me harm.” Anger arises thus, “He has harmed, is harming, or will harm someone dear and agreeable to me.” Anger arises thus, “He has benefited, is benefiting, or will benefit someone not dear and disagreeable to me.” Or again, anger arises without cause. Whatever vexation of mind, repeated vexation, the state of repeated vexation, opposition, agitation, great agitation, intense agitation, corruption, great corruption, intense corruption, affliction of mind, corruption of mind, anger, the manner of being angry, the state of being an angry person, hatefulness, the manner of being hateful, the state of being a hateful person, malevolence, the manner of being malevolent, the state of being a malevolent person, opposition, repeated opposition, fierceness, surliness, and displeasure of mind there is of such a nature—this is called anger.
Lại nữa, sân sanh khởi do mười lý do: ‘Nó đã làm điều bất lợi cho ta,’ sân sanh khởi. ‘Nó đang làm điều bất lợi cho ta,’ sân sanh khởi. ‘Nó sẽ làm điều bất lợi cho ta,’ sân sanh khởi. ‘Nó đã làm, đang làm, sẽ làm điều bất lợi cho người thân yêu của ta,’ sân sanh khởi. ‘Nó đã làm, đang làm, sẽ làm điều có lợi cho người ta không ưa thích,’ sân sanh khởi. Hoặc sân sanh khởi một cách vô cớ. Bất cứ sự phẫn nộ, sự chống đối, sự thù hằn, sự đối kháng, sự tức giận, sự phẫn nộ, sự thịnh nộ, sự ác ý, sự ác tâm, sự ác độc, sự tổn hại của tâm, sự hại tâm, sự sân, sự nổi giận, trạng thái nổi giận, sự ác ý, sự làm hại, trạng thái làm hại, sự tổn hại, sự gây tổn hại, trạng thái gây tổn hại, sự chống đối, sự thù địch, sự hung dữ, sự thô lỗ, sự không hài lòng của tâm – đây được gọi là sân.
Api ca, kodhassa adhimattaparittatā veditabbā. Atthi kañci † kālaṃ kodho cittāvilakaraṇamatto hoti, na ca tāva mukhakulānavikulāno hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho mukhakulānavikulānamatto hoti, na ca tāva hanusañcopano hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho hanusañcopanamatto hoti, na ca tāva pharusavācaṃ nicchāraṇo † hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho pharusavācaṃ nicchāraṇamatto hoti, na ca tāva disāvidisānuvilokano hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho disāvidisānuvilokanamatto hoti, na ca tāva daṇḍasatthaparāmasano hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho daṇḍasatthaparāmasanamatto hoti, na ca tāva daṇḍasatthaabbhukkiraṇo hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho daṇḍasatthaabbhukkiraṇamatto hoti, na ca tāva daṇḍasatthaabhinipātano hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho daṇḍasatthaabhinipātanamatto hoti, na ca tāva chinnavicchinnakaraṇo hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho chinnavicchinnakaraṇamatto hoti, na ca tāva sambhañjanapalibhañjano hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho sambhañjanapalibhañjanamatto hoti, na ca tāva aṅgamaṅgaapakaḍḍhano hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho aṅgamaṅgaapakaḍḍhanamatto hoti, na ca tāva jīvitāvoropano † hoti. Atthi kañci kālaṃ kodho jīvitāvoropanamatto hoti, na ca tāva sabbacāgapariccāgāya saṇṭhito hoti. Yato kodho paraṃ puggalaṃ ghātetvā attānaṃ ghāteti, ettāvatā kodho paramussadagato paramavepullapatto hoti. Yassa so hoti kodho pahīno samucchinno vūpasanto paṭipassaddho abhabbuppattiko ñāṇagginā daḍḍho, so vuccati – vidhūmo.
Furthermore, the intensity and weakness of anger should be understood. There are times when anger is merely to the extent of agitating the mind, but not yet to the extent of contorting the face. There are times when anger is merely to the extent of contorting the face, but not yet to the extent of moving the jaw. There are times when anger is merely to the extent of moving the jaw, but not yet to the extent of uttering harsh speech. There are times when anger is merely to the extent of uttering harsh speech, but not yet to the extent of looking around in all directions. There are times when anger is merely to the extent of looking around in all directions, but not yet to the extent of handling a stick or weapon. There are times when anger is merely to the extent of handling a stick or weapon, but not yet to the extent of raising the stick or weapon. There are times when anger is merely to the extent of raising a stick or weapon, but not yet to the extent of striking with the stick or weapon. There are times when anger is merely to the extent of striking with a stick or weapon, but not yet to the extent of cutting and severing. There are times when anger is merely to the extent of cutting and severing, but not yet to the extent of breaking and crushing to pieces. There are times when anger is merely to the extent of breaking and crushing to pieces, but not yet to the extent of tearing off limbs, major and minor. There are times when anger is merely to the extent of tearing off limbs, major and minor, but not yet to the extent of depriving one of life. There are times when anger is merely to the extent of depriving one of life, but is not yet established for the ultimate relinquishment of taking another's life and then one's own. When anger, having killed another person, kills oneself, to that extent anger has reached its highest point, attained its greatest fullness. One for whom that anger is abandoned, uprooted, calmed, quieted, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge—he is called ‘smokeless.’
Lại nữa, cần phải biết được trạng thái mãnh liệt và yếu ớt của sự phẫn nộ. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ làm cho tâm bị vẩn đục, và khi ấy chưa có sự cau có, nhăn nhó của nét mặt. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ cau có, nhăn nhó của nét mặt, và khi ấy chưa có sự run rẩy của quai hàm. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ run rẩy của quai hàm, và khi ấy chưa có sự phát ra lời nói thô ác. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ phát ra lời nói thô ác, và khi ấy chưa có sự nhìn ngó các phương và các hướng phụ. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ nhìn ngó các phương và các hướng phụ, và khi ấy chưa có sự cầm lấy gậy gộc và khí giới. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ cầm lấy gậy gộc và khí giới, và khi ấy chưa có sự giơ lên gậy gộc và khí giới. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ giơ lên gậy gộc và khí giới, và khi ấy chưa có sự đánh đập bằng gậy gộc và khí giới. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ đánh đập bằng gậy gộc và khí giới, và khi ấy chưa có sự thực hiện việc chặt đứt thành từng mảnh. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ thực hiện việc chặt đứt thành từng mảnh, và khi ấy chưa có sự đập vỡ và nghiền nát. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ đập vỡ và nghiền nát, và khi ấy chưa có sự kéo giật các chi lớn và chi nhỏ. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ kéo giật các chi lớn và chi nhỏ, và khi ấy chưa có sự tước đoạt mạng sống. Có lúc, sự phẫn nộ chỉ ở mức độ tước đoạt mạng sống, và khi ấy chưa có sự thiết lập việc từ bỏ và xả ly tất cả. Khi nào sự phẫn nộ sau khi đã giết hại người khác rồi tự giết mình, chừng ấy sự phẫn nộ đã đi đến mức độ tột cùng, đã đạt đến sự lan rộng tột cùng. Vị nào có sự phẫn nộ ấy đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã trở thành không có khả năng sanh khởi, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là – người không còn khói.
Kodhassa pahīnattā vidhūmo, kodhavatthussa pariññātattā vidhūmo, kodhahetussa pariññātattā vidhūmo, kodhahetussa upacchinnattā vidhūmo. Anīghoti rāgo nīgho, doso nīgho, moho nīgho, kodho nīgho, upanāho nīgho…pe… sabbākusalābhisaṅkhārā nīghā. Yassete nīghā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati anīgho.
Because anger is abandoned, one is smokeless. Because the basis of anger is fully understood, one is smokeless. Because the cause of anger is fully understood, one is smokeless. Because the cause of anger is cut off, one is smokeless. 'Untroubled': lust is trouble, hatred is trouble, delusion is trouble, anger is trouble, resentment is trouble… all unwholesome formations are troubles. One for whom these troubles are abandoned, uprooted, calmed, quieted, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge—he is called ‘untroubled.’
Do đã đoạn trừ sự phẫn nộ nên là người không còn khói, do đã liễu tri đối tượng của sự phẫn nộ nên là người không còn khói, do đã liễu tri nguyên nhân của sự phẫn nộ nên là người không còn khói, do đã cắt đứt nguyên nhân của sự phẫn nộ nên là người không còn khói. (Về từ) ‘anīgho’ (không còn phiền não): Tham là phiền não, sân là phiền não, si là phiền não, phẫn nộ là phiền não, phẫn uất là phiền não... cho đến... tất cả các hành bất thiện là phiền não. Vị nào có những phiền não này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã trở thành không có khả năng sanh khởi, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không còn phiền não.
Nirāsoti āsā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yassesā āsā taṇhā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati nirāso. Jātīti yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṃ pātubhāvo āyatanānaṃ paṭilābho. Jarāti yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṃ pāliccaṃ valittacatā āyuno saṃhāni indriyānaṃ paripāko. Santo vidhūmo anīgho nirāso, atāri so jātijaranti brūmīti yo santo ca vidhūmo ca anīgho ca nirāso ca, so jātijarāmaraṇaṃ atari uttari patari samatikkami vītivattayīti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – santo vidhūmo anīgho nirāso, atāri so jātijaranti brūmi. Tenāha bhagavā –
'Free of longing': Craving (taṇhā) is called longing (āsā). That is, lust, infatuation… covetousness, greed, the unwholesome root. One for whom this longing, this craving, is abandoned, uprooted, calmed, quieted, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge—he is called ‘free of longing.’ ‘Birth’ is, for the various beings in the various orders of beings, the birth, generation, descent, production, the appearance of the aggregates, the acquisition of the sense bases. ‘Aging’ is, for the various beings in the various orders of beings, the aging, decrepitude, brokenness of teeth, graying of hair, wrinkling of skin, the decline of the life-force, the decay of the faculties. ‘Peaceful, smokeless, untroubled, free of longing—he has crossed over birth and aging, I say’: one who is peaceful, smokeless, untroubled, and free of longing—he has crossed over, passed beyond, surmounted, and overcome birth, aging, and death. Thus I say, I tell, I teach, I set forth, I establish, I reveal, I analyze, I clarify, I make plain: ‘Peaceful, smokeless, untroubled, free of longing—he has crossed over birth and aging, I say.’ Therefore the Blessed One said:
(Về từ) ‘nirāso’ (không còn hy vọng): Hy vọng được gọi là ái dục. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt... cho đến... sự tham lam, tham, là gốc rễ bất thiện. Vị nào có hy vọng, ái dục này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã trở thành không có khả năng sanh khởi, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không còn hy vọng. (Về từ) ‘jāti’ (sanh): Sự sanh, sự tái sanh, sự nhập vào, sự xuất hiện, sự hiện khởi của các uẩn, sự thành tựu các xứ của các chúng sanh này hay kia ở trong loài chúng sanh này hay kia. (Về từ) ‘jarā’ (già): Sự già, sự suy già, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, sự suy giảm của tuổi thọ, sự chín muồi của các căn của các chúng sanh này hay kia ở trong loài chúng sanh này hay kia. (Về câu) ‘Vị ấy tịch tịnh, không còn khói, không còn phiền não, không còn hy vọng, đã vượt qua sanh và già, Ta nói vậy’: Vị nào là bậc tịch tịnh, là người không còn khói, là người không còn phiền não, và là người không còn hy vọng, vị ấy đã vượt qua, đã vượt lên trên, đã vượt thoát, đã hoàn toàn vượt qua, đã đi qua khỏi sanh và già. Ta nói, Ta chỉ dạy, Ta thuyết giảng, Ta làm cho biết rõ, Ta thiết lập, Ta mở ra, Ta phân tích, Ta làm cho hiển lộ, Ta tuyên bố rằng: ‘Vị ấy tịch tịnh, không còn khói, không còn phiền não, không còn hy vọng, đã vượt qua sanh và già, Ta nói vậy.’ Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Saṅkhāya lokasmi paroparāni, [puṇṇakāti bhagavā]
Yassiñjitaṃ natthi kuhiñci loke;
Santo vidhūmo anīgho nirāso, atāri so jātijaranti brūmī’’ti.
“Having comprehended the high and low in the world,” (said the Blessed One to Puṇṇaka), “for whom there is no agitation anywhere in the world; peaceful, smokeless, untroubled, free of longing—he has crossed over birth and aging, I say.”
“Sau khi đã thẩm sát các pháp cao thấp ở trong thế gian, (này Puṇṇaka, đức Thế Tôn phán), vị nào không có sự dao động ở bất cứ nơi đâu trong thế gian; vị ấy tịch tịnh, không còn khói, không còn phiền não, không còn hy vọng, đã vượt qua sanh và già, Ta nói vậy.”
Sahagāthāpariyosānā…pe… pañjaliko bhagavantaṃ namassamāno nisinno hoti – ‘‘satthā me bhante bhagavā, sāvakohamasmī’’ti.
At the conclusion of the verses… with hands held in reverence, he sat paying homage to the Blessed One, and said: “Venerable sir, the Blessed One is my Teacher; I am his disciple.”
Cùng với sự kết thúc của bài kệ... cho đến... vị ấy chắp tay, trong khi đang đảnh lễ đức Thế Tôn, đã ngồi xuống (và thưa rằng): “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là người đệ tử.”
Puṇṇakamāṇavapucchāniddeso tatiyo.
The Exposition of Puṇṇaka's Question, the Third.
Phần Chú Giải Về Các Câu Hỏi Của Thanh Niên Puṇṇaka thứ ba.
4. Mettagūmāṇavapucchāniddeso
4. The Exposition of Mettagū's Question.
4. Phần Chú Giải Về Các Câu Hỏi Của Thanh Niên Mettagū
18.
18.
18.
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ, [iccāyasmā mettagū]
Maññāmi taṃ vedagū bhāvitattaṃ;
Kuto nu dukkhā samudāgatā ime, ye keci lokasmimanekarūpā.
I consider you one who has attained knowledge, one with a developed self. From where have they arisen, these many kinds of suffering that exist in the world? I ask you this, O Blessed One, please tell me. Thus asked the Venerable Mettagū.
(Trưởng lão Mettagū đã hỏi rằng:) “Con xin hỏi Ngài, bạch đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều này. Con xem Ngài là bậc thông suốt Veda, là người có tự thân đã được tu tập. Những khổ đau này, bất cứ loại nào có nhiều hình thức ở trong thế gian, đã sanh khởi từ đâu vậy?”
Pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metanti. Pucchāmīti tisso pucchā – adiṭṭhajotanā pucchā, diṭṭhasaṃsandanā pucchā, vimaticchedanā pucchā. Katamā adiṭṭhajotanā pucchā? Pakatiyā lakkhaṇaṃ aññātaṃ hoti adiṭṭhaṃ atulitaṃ atīritaṃ avibhūtaṃ avibhāvitaṃ. Tassa ñāṇāya dassanāya tulanāya tīraṇāya vibhūtatthāya vibhāvanatthāya pañhaṃ pucchati – ayaṃ adiṭṭhajotanā pucchā.
“I ask you, Blessed One, please tell me.” There are three kinds of questions: the question to illuminate the unseen, the question for comparison of what has been seen, and the question to dispel doubt. What is the question to illuminate the unseen? It is when a characteristic is naturally unknown, unseen, uncompared, unscrutinized, unmanifest, and undeveloped. One asks a question for the sake of knowing, seeing, comparing, scrutinizing, manifesting, and developing—this is the question to illuminate the unseen.
(Về câu) ‘Con xin hỏi Ngài, bạch đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều này.’ (Về từ) ‘pucchāmi’ (con xin hỏi): Có ba loại câu hỏi – câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy, câu hỏi để đối chiếu điều đã thấy, và câu hỏi để cắt đứt sự hoài nghi. Thế nào là câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy? Về bản chất, đặc tính là điều chưa được biết, chưa được thấy, chưa được cân nhắc, chưa được thẩm xét, chưa được làm cho hiển lộ, chưa được tu tập. Vị ấy hỏi câu hỏi với mục đích để biết, để thấy, để cân nhắc, để thẩm xét, để làm cho hiển lộ, để tu tập về điều ấy – đây là câu hỏi để làm sáng tỏ điều chưa thấy.
Katamā diṭṭhasaṃsandanā pucchā? Pakatiyā lakkhaṇaṃ ñātaṃ hoti diṭṭhaṃ tulitaṃ tīritaṃ vibhūtaṃ vibhāvitaṃ. Aññehi paṇḍitehi saddhiṃ saṃsandanatthāya pañhaṃ pucchati – ayaṃ diṭṭhasaṃsandanā pucchā.
What is the question for comparison of what has been seen? By nature, a characteristic is known, seen, weighed, judged, made manifest, and developed. One asks a question for the purpose of comparing it with other wise persons—this is the question for comparison of what has been seen.
Thế nào là câu hỏi để đối chiếu điều đã thấy? Về bản chất, đặc tính là điều đã được biết, đã được thấy, đã được cân nhắc, đã được thẩm xét, đã được làm cho hiển lộ, đã được tu tập. Vị ấy hỏi câu hỏi với mục đích để đối chiếu cùng với các bậc hiền trí khác – đây là câu hỏi để đối chiếu điều đã thấy.
Katamā vimaticchedanā pucchā? Pakatiyā saṃsayapakkhando hoti vimatipakkhando dveḷhakajāto – ‘‘evaṃ nu kho, na nu kho, kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’’ti? So vimaticchedanatthāya pañhaṃ pucchati – ayaṃ vimaticchedanā pucchā. Imā tisso pucchā.
What is the question that cuts through doubt? By nature, one has plunged into doubt, plunged into uncertainty, has become wavering: “Is it thus? Is it not thus? What is it? How is it?” One asks a question to cut through doubt—this is the question that cuts through doubt. These are the three questions.
Thế nào là câu hỏi để cắt đứt sự hoài nghi? Về bản chất, vị ấy rơi vào sự nghi ngờ, rơi vào sự phân vân, sanh khởi sự lưỡng lự (nghĩ rằng): “Có phải như vậy chăng? Hay không phải vậy chăng? Là cái gì vậy chăng? Là thế nào vậy chăng?” Vị ấy hỏi câu hỏi với mục đích để cắt đứt sự hoài nghi – đây là câu hỏi để cắt đứt sự hoài nghi. Đây là ba loại câu hỏi.
Aparāpi tisso pucchā – manussapucchā, amanussapucchā, nimmitapucchā. Katamā manussapucchā? Manussā buddhaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchanti, bhikkhū pucchanti, bhikkhuniyo pucchanti, upāsakā pucchanti, upāsikāyo pucchanti, rājāno pucchanti khattiyā pucchanti, brāhmaṇā pucchanti, vessā pucchanti, suddā pucchanti, gahaṭṭhā pucchanti, pabbajitā pucchanti – ayaṃ manussapucchā.
And another three questions: a question by a human, a question by a non-human, and a question by a created being. What is a question by a human? Humans approach the Buddha, the Blessed One, and ask a question; bhikkhus ask, bhikkhunīs ask, male lay followers ask, female lay followers ask, kings ask, nobles ask, brahmins ask, merchants ask, workers ask, householders ask, and renunciants ask—this is a question by a human.
Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi của loài người, câu hỏi của phi nhân, câu hỏi của vị hóa hiện. Thế nào là câu hỏi của loài người? Loài người đến gần đức Phật, bậc Thế Tôn, rồi hỏi câu hỏi; các vị tỳ-khưu hỏi, các vị tỳ-khưu-ni hỏi, các nam cư sĩ hỏi, các nữ cư sĩ hỏi, các vị vua hỏi, các vị Sát-đế-lỵ hỏi, các vị Bà-la-môn hỏi, các vị Phệ-xá hỏi, các vị Thủ-đà-la hỏi, các người tại gia hỏi, các người xuất gia hỏi – đây là câu hỏi của loài người.
Katamā amanussapucchā? Amanussā buddhaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchanti, nāgā pucchanti, supaṇṇā pucchanti, yakkhā pucchanti, asurā pucchanti, gandhabbā pucchanti, mahārājāno pucchanti, indā pucchanti, brahmā pucchanti, devā pucchanti – ayaṃ amanussapucchā.
What is a question by a non-human? Non-humans approach the Buddha, the Blessed One, and ask a question: nāgas ask, supaṇṇas ask, yakkhas ask, asuras ask, gandhabbas ask, great kings ask, Indras ask, Brahmās ask, devas ask—this is a question by a non-human.
Thế nào là câu hỏi của phi nhân? Các phi nhân đến gần đức Phật, bậc Thế Tôn, rồi hỏi câu hỏi; các vị rồng hỏi, các vị kim sí điểu hỏi, các vị dạ-xoa hỏi, các vị a-tu-la hỏi, các vị càn-thát-bà hỏi, các vị Đại vương hỏi, các vị Đế-thích hỏi, các vị Phạm thiên hỏi, các vị chư thiên hỏi – đây là câu hỏi của phi nhân.
Katamā nimmitapucchā? Bhagavā rūpaṃ abhinimmināti manomayaṃ sabbaṅgapaccaṅgaṃ ahīnindriyaṃ. So nimmito buddhaṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā pañhaṃ pucchati. Bhagavā visajjeti. Ayaṃ nimmitapucchā. Imā tisso pucchā.
What is a question by a created being? The Blessed One creates a mind-made form, complete in all its major and minor limbs, with unimpaired faculties. That created being approaches the Buddha, the Blessed One, and asks a question. The Blessed One answers. This is a question by a created being. These are the three questions.
Thế nào là câu hỏi của vị hóa hiện? Bậc Thế Tôn hóa hiện ra một sắc thân do ý tạo thành, có đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, không thiếu sót các căn. Vị hóa hiện ấy đến gần đức Phật, bậc Thế Tôn, rồi hỏi câu hỏi. Bậc Thế Tôn trả lời. Đây là câu hỏi của vị hóa hiện. Đây là ba câu hỏi.
Aparāpi tisso pucchā – attatthapucchā, paratthapucchā, ubhayatthapucchā…pe… aparāpi tisso pucchā – diṭṭhadhammikatthapucchā, samparāyikatthapucchā, paramatthapucchā… aparāpi tisso pucchā – anavajjatthapucchā, nikkilesatthapucchā, vodānatthapucchā… aparāpi tisso pucchā – atītapucchā, anāgatapucchā, paccuppannapucchā… aparāpi tisso pucchā – ajjhattapucchā, bahiddhāpucchā, ajjhattabahiddhāpucchā… aparāpi tisso pucchā – kusalapucchā, akusalapucchā, abyākatapucchā… aparāpi tisso pucchā – khandhapucchā, dhātupucchā āyatanapucchā… aparāpi tisso pucchā – satipaṭṭhānapucchā, sammappadhānapucchā, iddhipādapucchā… aparāpi tisso pucchā – indriyapucchā, balapucchā, bojjhaṅgapucchā… aparāpi tisso pucchā – maggapucchā, phalapucchā, nibbānapucchā….
And another three questions: a question for one's own welfare, a question for the welfare of others, a question for the welfare of both… and another three questions: a question concerning the welfare in this present life, a question concerning the welfare in future lives, a question concerning the ultimate welfare… and another three questions: a question concerning what is blameless, a question concerning what is free from defilements, a question concerning what is purified… and another three questions: a question about the past, a question about the future, a question about the present… and another three questions: a question about the internal, a question about the external, a question about the internal and external… and another three questions: a question about the wholesome, a question about the unwholesome, a question about the indeterminate… and another three questions: a question about the aggregates, a question about the elements, a question about the sense bases… and another three questions: a question about the foundations of mindfulness, a question about the right strivings, a question about the bases for spiritual power… and another three questions: a question about the faculties, a question about the powers, a question about the enlightenment factors… and another three questions: a question about the path, a question about the fruit, a question about Nibbāna.
Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi vì lợi ích của tự thân, câu hỏi vì lợi ích của người khác, câu hỏi vì lợi ích của cả hai... v.v... Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi vì lợi ích trong hiện tại, câu hỏi vì lợi ích trong tương lai, câu hỏi vì lợi ích tối thượng... Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi về điều không có tội lỗi, câu hỏi về việc đoạn trừ phiền não, câu hỏi về sự trong sạch... Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi về quá khứ, câu hỏi về tương lai, câu hỏi về hiện tại... Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi về nội phần, câu hỏi về ngoại phần, câu hỏi về nội ngoại phần... Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi về thiện, câu hỏi về bất thiện, câu hỏi về vô ký... Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi về uẩn, câu hỏi về giới, câu hỏi về xứ... Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi về niệm xứ, câu hỏi về chánh cần, câu hỏi về như ý túc... Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi về quyền, câu hỏi về lực, câu hỏi về giác chi... Lại nữa, có ba câu hỏi: câu hỏi về đạo, câu hỏi về quả, câu hỏi về Niết-bàn...
Pucchāmi tanti pucchāmi taṃ yācāmi taṃ ajjhesāmi taṃ pasādemi taṃ ‘‘kathayassu me’’ti pucchāmi taṃ. Bhagavāti gāravādhivacanametaṃ…pe… sacchikā paññatti – yadidaṃ bhagavāti. Brūhi metanti brūhi ācikkhāhi desehi paññapehi paṭṭhapehi vivarāhi vibhajāhi uttānīkarohi pakāsehīti – pucchāmi taṃ bhagavā brūhi metaṃ.
“I ask you”: this means I ask you, I entreat you, I urge you, I seek your favor; “Tell me,” I ask you. “Bhagavā”: this is a term of respect… and so on… a designation based on realization, that is, “Bhagavā.” “Tell me this”: this means tell, declare, teach, lay down, establish, open up, analyze, make plain, reveal. Thus: “I ask you, Blessed One, tell me this.”
‘Con hỏi Ngài’ (pucchāmi taṃ) có nghĩa là: con hỏi Ngài điều ấy, con thỉnh cầu Ngài điều ấy, con thỉnh mời Ngài điều ấy, con làm cho Ngài hài lòng về điều ấy, con hỏi Ngài điều ấy rằng: ‘Xin hãy nói cho con.’ ‘Bậc Thế Tôn’ (bhagavā), đây là từ gọi với sự tôn kính... v.v... là sự chế định được chứng thực, tức là ‘bậc Thế Tôn.’ ‘Xin hãy nói cho con’ (brūhi me taṃ) có nghĩa là: xin hãy nói, hãy cho biết, hãy thuyết giảng, hãy làm cho biết, hãy thiết lập, hãy mở ra, hãy phân tích, hãy làm cho rõ ràng, hãy hiển thị – con hỏi Ngài điều ấy, bạch Thế Tôn, xin hãy nói cho con điều ấy.
Iccāyasmā mettagūti iccāti padasandhi…pe… iccāyasmā mettagū.
“Thus the Venerable Mettagū”: “Thus” is a particle for conjunction … and so on … thus the Venerable Mettagū.
‘Như vậy, trưởng lão Mettagū’ (iccāyasmā mettagū): ‘iccā’ là sự liên kết các từ... v.v... như vậy, trưởng lão Mettagū.