Bản dịch
CND 4 — 4. Pārāyanānugītigāthā
4. Pārāyanānugītigāthā
18. Kệ Tụng Lại Phẩm Bỉ Ngạn (Pārāyana)
156.
(Trưởng lão Piṅgiya thưa rằng:) ‘Con sẽ tụng lại (pháp) Pārāyana. Ngài đã thấy thế nào, Ngài đã thuyết như vậy. Bậc Vô Cấu, có trí tuệ rộng lớn, bậc Vô Dục, Vô Phiền, bậc Long Tượng, vì lý do gì mà nói dối?’
157.
‘(Lời của) bậc đã từ bỏ si mê cấu uế, đã đoạn trừ ngã mạn và phẫn nộ. Này, con sẽ tuyên thuyết lời nói liên quan đến các phẩm chất (của Ngài).’
158.
‘Đức Phật, bậc xua tan bóng tối, bậc Toàn Nhãn, bậc đi đến tận cùng thế gian, bậc vượt qua mọi cõi hữu, bậc Vô Lậu, bậc đã từ bỏ mọi khổ đau. Này vị Bà-la-môn, bậc có danh xưng chân thật là người con phụng sự.’
159.
‘Như con chim, sau khi rời bỏ khu rừng ít quả, sẽ trú ngụ trong khu rừng nhiều quả; cũng vậy, con, sau khi từ bỏ những người có tầm nhìn hạn hẹp, đã đến được đại dương, như con thiên nga.’
160.
‘Những ai trước đây đã giải thích cho con, trước giáo pháp của Gotama, (rằng) ‘đã là như vầy, sẽ là như vậy,’ tất cả những điều đó chỉ là truyền thuyết, tất cả những điều đó chỉ làm tăng trưởng tư biện.’
161.
‘Một mình Ngài xua tan bóng tối, Ngài là bậc quang minh, bậc tạo ra ánh sáng. Gotama, bậc có trí tuệ rộng lớn; Gotama, bậc có tuệ giác bao la.’
162.
‘Ngài là người đã thuyết giảng Giáo pháp cho con, (pháp) thiết thực hiện tại, không có thời gian, sự đoạn tận ái dục, sự vô ưu, pháp ấy không có gì sánh bằng ở bất cứ đâu.’
163.
‘Tại sao ngươi lại rời xa vị ấy, dù chỉ trong một khoảnh khắc, này Piṅgiya? (Xa) Gotama, bậc có trí tuệ rộng lớn; (xa) Gotama, bậc có tuệ giác bao la.’
164.
‘Ngài là người đã thuyết giảng Giáo pháp cho ngươi, (pháp) thiết thực hiện tại, không có thời gian, sự đoạn tận ái dục, sự vô ưu, pháp ấy không có gì sánh bằng ở bất cứ đâu.’
165.
‘Con không rời xa vị ấy, dù chỉ trong một khoảnh khắc, thưa Bà-la-môn; (xa) Gotama, bậc có trí tuệ rộng lớn; (xa) Gotama, bậc có tuệ giác bao la.’
166.
‘Ngài là người đã thuyết giảng Giáo pháp cho con, (pháp) thiết thực hiện tại, không có thời gian, sự đoạn tận ái dục, sự vô ưu, pháp ấy không có gì sánh bằng ở bất cứ đâu.’
167.
‘Con thấy Ngài bằng tâm ý như bằng mắt thường, ngày và đêm, thưa Bà-la-môn, một cách không phóng dật.’
‘Con trải qua đêm trong sự đảnh lễ, do đó, con nghĩ rằng không có sự xa cách.’
168.
Tín, hỷ, ý, và niệm của con, không rời xa khỏi giáo pháp của đức Gotama. Bậc Trí Tuệ Rộng Lớn đi đến phương nào, con liền hướng về chính phương ấy.
169.
Thân con già yếu, sức lực suy kém, chính vì thế không thể đi đến nơi ấy. Con thường xuyên đi đến bằng tư tưởng, vì này Bà-la-môn, tâm của con đã gắn liền với ngài.
170.
Nằm trong vũng bùn, con đang run rẩy, con trôi giạt từ hòn đảo này đến hòn đảo khác. Rồi con đã thấy được bậc Chánh Đẳng Giác, người đã vượt qua bộc lưu, bậc vô lậu.
171.
Giống như Vakkali, Bhadrāvudha, và Āḷavi-gotama đã được giải thoát nhờ tín, cũng như vậy, ngươi hãy phóng thích đức tin. Này Piṅgiya, ngươi sẽ đi đến bờ kia của lãnh vực tử thần.
172.
Nghe lời dạy của bậc Mâu-ni, con càng thêm tịnh tín. Bậc Chánh Đẳng Giác đã vén mở màn che, không còn khiếm khuyết, bậc có biện tài.
173.
Với thắng trí về các pháp siêu việt, Ngài biết tất cả, cả cao lẫn thấp. Bậc Đạo Sư chấm dứt các câu hỏi cho những người có hoài nghi và đã thừa nhận.
174.
Pháp không thể lay chuyển, không thể biến hoại, không có gì có thể so sánh được ở bất cứ đâu. Chắc chắn con sẽ đến đó, con không còn hoài nghi về điều này. Xin Ngài hãy ghi nhận con là người có tâm hướng đến giải thoát như vậy.
Các kệ tụng theo sau Pārāyana đã chấm dứt.
Bản dịch: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
18. Pārāyanānugītigāthā
18. The Verses Recited Following the Pārāyana
18. Kệ Tụng Lại Phẩm Bỉ Ngạn (Pārāyana)
156.
156.
156.
‘‘Pārāyanamanugāyissaṃ, [iccāyasmā piṅgiyo]
Yathāddakkhi tathākkhāsi, vimalo bhūrimedhaso;
Nikkāmo nibbano † nāgo, kissa hetu musā bhaṇe.
“I shall now recite in accordance with the Pārāyana,” [so said the venerable Piṅgiya.] “As he saw, so he declared—the stainless one of vast intelligence, free from craving, extinguished, an Arahant. For what reason would he speak falsely?
(Trưởng lão Piṅgiya thưa rằng:) ‘Con sẽ tụng lại (pháp) Pārāyana. Ngài đã thấy thế nào, Ngài đã thuyết như vậy. Bậc Vô Cấu, có trí tuệ rộng lớn, bậc Vô Dục, Vô Phiền, bậc Long Tượng, vì lý do gì mà nói dối?’
157.
157.
157.
‘‘Pahīnamalamohassa, mānamakkhappahāyino;
Handāhaṃ kittayissāmi, giraṃ vaṇṇūpasañhitaṃ.
“Of him who has abandoned the stain of delusion, who has abandoned conceit and disparagement, come, I shall now declare his speech, which is endowed with praise.
‘(Lời của) bậc đã từ bỏ si mê cấu uế, đã đoạn trừ ngã mạn và phẫn nộ. Này, con sẽ tuyên thuyết lời nói liên quan đến các phẩm chất (của Ngài).’
158.
158.
158.
‘‘Tamonudo buddho samantacakkhu, lokantagū sabbabhavātivatto;
Anāsavo sabbadukkhappahīno, saccavhayo brahme upāsito me.
“The Buddha, dispeller of darkness, the all-seeing one, who has gone to the world's end, transcended all existence, free from taints, with all suffering abandoned, the one with the true name—he, O Brahmin, is the teacher I attend upon.
‘Đức Phật, bậc xua tan bóng tối, bậc Toàn Nhãn, bậc đi đến tận cùng thế gian, bậc vượt qua mọi cõi hữu, bậc Vô Lậu, bậc đã từ bỏ mọi khổ đau. Này vị Bà-la-môn, bậc có danh xưng chân thật là người con phụng sự.’
159.
159.
159.
‘‘Dijo yathā kubbanakaṃ pahāya, bahupphalaṃ kānanamāvaseyya;
Evampahaṃ appadasse pahāya, mahodadhiṃ haṃsoriva ajjhapatto.
“Just as a bird, having abandoned a wood with little fruit, would dwell in a forest abundant with fruit, so too have I, having abandoned those of little insight, reached the great ocean, like a swan.
‘Như con chim, sau khi rời bỏ khu rừng ít quả, sẽ trú ngụ trong khu rừng nhiều quả; cũng vậy, con, sau khi từ bỏ những người có tầm nhìn hạn hẹp, đã đến được đại dương, như con thiên nga.’
160.
160.
160.
‘‘Yeme pubbe viyākaṃsu, huraṃ gotamasāsanā;
Iccāsi iti bhavissati;
Sabbaṃ taṃ itihītihaṃ, sabbaṃ taṃ takkavaḍḍhanaṃ.
“Those who made declarations to me previously, before the dispensation of Gotama, saying, ‘It was thus; it will be thus’—all of that was hearsay, all of that increased speculation.
‘Những ai trước đây đã giải thích cho con, trước giáo pháp của Gotama, (rằng) ‘đã là như vầy, sẽ là như vậy,’ tất cả những điều đó chỉ là truyền thuyết, tất cả những điều đó chỉ làm tăng trưởng tư biện.’
161.
161.
161.
‘‘Eko tamanudāsino, jutimā so pabhaṅkaro;
Gotamo bhūripaññāṇo, gotamo bhūrimedhaso.
“He alone dispels darkness; he is radiant, a maker of light. Gotama is of extensive wisdom; Gotama is of vast intelligence.
‘Một mình Ngài xua tan bóng tối, Ngài là bậc quang minh, bậc tạo ra ánh sáng. Gotama, bậc có trí tuệ rộng lớn; Gotama, bậc có tuệ giác bao la.’
162.
162.
162.
‘‘Yo me dhammamadesesi, sandiṭṭhikamakālikaṃ;
Taṇhakkhayamanītikaṃ, yassa natthi upamā kvaci’’.
“He who taught me the Dhamma—visible here and now, immediate, the destruction of craving, free from affliction—to which there is no comparison anywhere.”
‘Ngài là người đã thuyết giảng Giáo pháp cho con, (pháp) thiết thực hiện tại, không có thời gian, sự đoạn tận ái dục, sự vô ưu, pháp ấy không có gì sánh bằng ở bất cứ đâu.’
163.
163.
163.
‘‘Kiṃ nu tamhā vippavasasi, muhuttamapi piṅgiya;
Gotamā bhūripaññāṇā, gotamā bhūrimedhasā.
“Why then, Piṅgiya, do you stay away even for a moment from that Gotama of extensive wisdom, from Gotama of vast intelligence?
‘Tại sao ngươi lại rời xa vị ấy, dù chỉ trong một khoảnh khắc, này Piṅgiya? (Xa) Gotama, bậc có trí tuệ rộng lớn; (xa) Gotama, bậc có tuệ giác bao la.’
164.
164.
164.
‘‘Yo te dhammamadesesi, sandiṭṭhikamakālikaṃ;
Taṇhakkhayamanītikaṃ, yassa natthi upamā kvaci’’.
“He who taught you the Dhamma—visible here and now, immediate, the destruction of craving, free from affliction—to which there is no comparison anywhere.”
‘Ngài là người đã thuyết giảng Giáo pháp cho ngươi, (pháp) thiết thực hiện tại, không có thời gian, sự đoạn tận ái dục, sự vô ưu, pháp ấy không có gì sánh bằng ở bất cứ đâu.’
165.
165.
165.
‘‘Nāhaṃ tamhā vippavasāmi, muhuttamapi brāhmaṇa;
Gotamā bhūripaññāṇā, gotamā bhūrimedhasā.
“I do not stay away from him, O Brahmin, not even for a moment—from Gotama of extensive wisdom, from Gotama of vast intelligence.
‘Con không rời xa vị ấy, dù chỉ trong một khoảnh khắc, thưa Bà-la-môn; (xa) Gotama, bậc có trí tuệ rộng lớn; (xa) Gotama, bậc có tuệ giác bao la.’
166.
166.
166.
‘‘Yo me dhammamadesesi, sandiṭṭhikamakālikaṃ;
Taṇhakkhayamanītikaṃ, yassa natthi upamā kvaci.
“He who taught me the Dhamma—visible here and now, immediate, the destruction of craving, free from affliction—to which there is no comparison anywhere.
‘Ngài là người đã thuyết giảng Giáo pháp cho con, (pháp) thiết thực hiện tại, không có thời gian, sự đoạn tận ái dục, sự vô ưu, pháp ấy không có gì sánh bằng ở bất cứ đâu.’
167.
167.
167.
‘‘Passāmi naṃ manasā cakkhunāva, rattindivaṃ brāhmaṇa appamatto.
“Being heedful, O Brahmin, day and night, I see him with the mind as if with the eye.
‘Con thấy Ngài bằng tâm ý như bằng mắt thường, ngày và đêm, thưa Bà-la-môn, một cách không phóng dật.’
Namassamāno vivasemi rattiṃ, teneva maññāmi avippavāsaṃ.
Paying homage, I pass the night; for that very reason, I consider it as not being separated.
‘Con trải qua đêm trong sự đảnh lễ, do đó, con nghĩ rằng không có sự xa cách.’
168.
168.
168.
‘‘Saddhā ca pīti ca mano sati ca,
Nāpentime gotamasāsanamhā;
Yaṃ yaṃ disaṃ vajati bhūripañño, sa tena teneva natohamasmi.
“Faith and joy, and mind and mindfulness, do not depart from me from the teaching of Gotama. To whichever direction the one of vast wisdom goes, towards that very direction I am inclined.
Tín, hỷ, ý, và niệm của con, không rời xa khỏi giáo pháp của đức Gotama. Bậc Trí Tuệ Rộng Lớn đi đến phương nào, con liền hướng về chính phương ấy.
169.
169.
169.
‘‘Jiṇṇassa me dubbalathāmakassa, teneva kāyo na paleti tattha;
Saṅkappayantāya † vajāmi niccaṃ, mano hi me brāhmaṇa tena yutto.
“Of me who is old and of weakened strength, for that very reason the body cannot go there; I go constantly by way of intention, for my mind, O Brahmin, is joined with him.
Thân con già yếu, sức lực suy kém, chính vì thế không thể đi đến nơi ấy. Con thường xuyên đi đến bằng tư tưởng, vì này Bà-la-môn, tâm của con đã gắn liền với ngài.
170.
170.
170.
‘‘Paṅke sayāno pariphandamāno, dīpā dīpaṃ upallaviṃ;
Athaddasāsiṃ sambuddhaṃ, oghatiṇṇamanāsavaṃ.
“Lying in the mire, floundering, I drifted from island to island. Then I saw the Fully Awakened One, who has crossed the flood, free from taints.
Nằm trong vũng bùn, con đang run rẩy, con trôi giạt từ hòn đảo này đến hòn đảo khác. Rồi con đã thấy được bậc Chánh Đẳng Giác, người đã vượt qua bộc lưu, bậc vô lậu.
171.
171.
171.
‘‘Yathā ahū vakkali muttasaddho, bhadrāvudho āḷavigotamo ca;
Evameva tvampi pamuñcassu saddhaṃ, gamissasi tvaṃ piṅgiya maccudheyyassa pāraṃ’’ †.
“Just as Vakkali was released by faith, and Bhadrāvudha, and Āḷavigotama too; so you too, Piṅgiya, find release through faith. You shall go beyond the realm of death.”
Giống như Vakkali, Bhadrāvudha, và Āḷavi-gotama đã được giải thoát nhờ tín, cũng như vậy, ngươi hãy phóng thích đức tin. Này Piṅgiya, ngươi sẽ đi đến bờ kia của lãnh vực tử thần.
172.
172.
172.
‘‘Esa bhiyyo pasīdāmi, sutvāna munino vaco;
Vivaṭṭacchado sambuddho, akhilo paṭibhānavā.
“I am even more confident, having heard the word of the Sage; the Fully Awakened One has the covering removed, is without defect, and possesses ready wit.
Nghe lời dạy của bậc Mâu-ni, con càng thêm tịnh tín. Bậc Chánh Đẳng Giác đã vén mở màn che, không còn khiếm khuyết, bậc có biện tài.
173.
173.
173.
‘‘Adhideve abhiññāya, sabbaṃ vedi paroparaṃ;
Pañhānantakaro satthā, kaṅkhīnaṃ paṭijānataṃ.
“Having directly known that which is beyond the devas, he knows all, the inferior and the superior. The Teacher makes an end of questions for those who are doubtful and acknowledge it.
Với thắng trí về các pháp siêu việt, Ngài biết tất cả, cả cao lẫn thấp. Bậc Đạo Sư chấm dứt các câu hỏi cho những người có hoài nghi và đã thừa nhận.
174.
174.
174.
‘‘Asaṃhīraṃ asaṃkuppaṃ, yassa natthi upamā kvaci;
Addhā gamissāmi na mettha kaṅkhā, evaṃ maṃ dhārehi adhimuttacitta’’nti †.
“That which cannot be shaken, which is imperturbable, for which there is no comparison anywhere; surely I shall go there, for me there is no doubt in this. Thus, may you remember me as one with a mind resolved.”
Pháp không thể lay chuyển, không thể biến hoại, không có gì có thể so sánh được ở bất cứ đâu. Chắc chắn con sẽ đến đó, con không còn hoài nghi về điều này. Xin Ngài hãy ghi nhận con là người có tâm hướng đến giải thoát như vậy.
Pārāyanānugītigāthā niṭṭhitā.
The Verses Recited Following the Pārāyana are finished.
Các kệ tụng theo sau Pārāyana đã chấm dứt.