- Aṅguttara Nikāya 8.8
- 1. Mettāvagga
Bản dịch
AN 8.8 — Tôn Giả Uttara
Uttaravipattisutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, tại Dhavajàlikà. Lúc bấy giờ, Tôn giả Uttara bảo các Tỷ-kheo:
TTC 2—Lành thay, này chư hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của mình. Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của người khác. Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự thành đạt của mình. Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự thành đạt của người khác.
TTC 3Lúc bấy giờ, đại vương Vessavana đang đi từ phương Bắc đến phương nam, vì một vài công việc, đại vương Vessavana nghe Tôn giả Uttara trú ở Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, tại Dhavajàlikà thuyết pháp như vậy cho các Tỷ-kheo,: “Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát … sự thành đạt của người khác”.
TTC 4Rồi đại vương Vessavana như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy biến mất ở Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, ở Dhavajàlikà và hiện ra trước mặt chư Thiên ở cõi Ba mươi ba. Rồi đại vương Vessavana đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến nói với Thiên chủ Sakka:
—Ngài có biết chăng Tôn giả Uttara tại Mahisavatthu, trên núi Sankheyyaka, tại Dhavajàlikà thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Lành thay, này chư Hiền, Tỷ-kheo thường thường quan sát … sự thành đạt của người khác”.
TTC 5Rồi Thiên chủ Sakka như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy biến mất trước chư Thiên cõi trời Ba mươi ba, hiện ra ở Mahisavatthu, trên núi trên núi Sankheyyaka, ở Dhavajàlikà, trước mặt Tôn giả Uttara. Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Tôn giả Uttara; sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Uttara rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka nói với Tôn giả Uttara:
—Thưa Tôn giả, có thật chăng, Tôn giả Uttara thuyết pháp cho các Tỷ kheo như sau : “Lành thay , này chư Hiền, Tỷ kheo thường thường quan sát… sự thành đạt của người khác” ?
—Thưa có vậy, này Thiên chủ.
—Thưa Tôn giả, đây là Tôn giả Uttara tự nói hay là lời của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?
TTC 6—Vậy này Thiên chủ, ta sẽ làm một ví dụ cho người, nhờ ví dụ ở đây, một số những người có trí hiểu rõ ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Thiên chủ, có một đống lúa lớn không xa làng, hay thị trấn, và quần chúng từ nơi đống lúa ấy mang lúa đi, hoặc trên đòn gánh, hoặc trong thùng, hoặc bên hông, hoặc với bàn tay. Này Thiên chủ, nếu có ai đến đám quần chúng ấy và hỏi như sau: “Các người mang lúa này từ đâu? “ Này Thiên chủ, đám quần chúng ấy cần phải đáp như thế nào để có thể đáp một cách chơn chánh?
—Thưa Tôn giả, đám quần chúng ấy muốn đáp một cách chơn chánh, cần phải đáp như sau: “Thưa Tôn giả, chúng tôi mang lúa từ nơi đống lúa lớn này”.
—Cũng vậy, này Thiên chủ, điều gì khéo nói, tất cả là lời nói của Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác. Dựa trên lời ấy, dựa lên trên ấy, chúng tôi và các người khác nói lên.
TTC 7—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thật là khéo nói là lời nói này của Tôn giả Uttara: “Tất cả là lời nói của Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác. Dựa lên trên ấy, dựa lên trên ấy, chúng tôi và các người khác nói lên “. Một thời, thưa Tôn giả Uttara, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại núi Gijjhakùta, sau khi Devadatta bỏ đi không bao lâu. Tại đấy, Thế Tôn nhân việc Devadatta, bảo các Tỷ-kheo:
—Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của mình. Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự vi phạm của người khác. Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự chứng đạt của mình. Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thường thường quan sát sự chứng đạt của người khác. Do bị tám phi diệu pháp chinh phục, tâm bị xâm chiếm, này các Tỷ-kheo, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, địa ngục, sống tại đấy cả một kiếp, không được cứu khỏi. Thế nào là tám?
Này các Tỷ-kheo, bị lợi dưỡng chinh phục, tâm bị xâm chiếm, Devadatta bị sanh vào đọa xứ, địa ngục sống tại đấy cả một kiếp, không được cứu khỏi. Này các Tỷ-kheo, bị không lợi dưỡng chinh phục, … bị danh vọng chinh phục … bị không danh vọng chinh phục … bị cung kính chinh phục … bị không cung kính chinh phục… bị ác dục chinh phục … bị ác bằng hữu chinh phục, tâm bị xâm chiếm, Devadatta bị rơi vào đọa xứ, địa ngục, sống tại đấy cả một kiếp, không được cứu khỏi.
Này các Tỷ kheo, bị tám phi diệu pháp này chinh phục, tâm bị xâm chiếm, Devadatta bị sanh vào đoạ xứ, địa ngục, sống tại đây cả một kiếp, không được cứu khỏi.
“Lành thay, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống có thể chinh phục lợi dưỡng được sanh khởi, … không lợi dưỡng được sanh khởi … danh vọng được sanh khởi … không danh vọng được sanh khởi … cung kính được sanh khởi … không cung kính được sanh khởi … ác dục được sanh khởi … ác bằng hữu được sanh khởi … “
TTC 8“Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do duyên mục đích gì phải sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên? Này các Tỷ-kheo, do sống không chinh phục lợi dưỡng được khởi lên, các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não sanh khởi. Do sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên, như vậy, các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não ấy không có mặt. Này các Tỷ-kheo, do sống chinh phục không lợi dưỡng được khởi lên … danh vọng được khởi lên … không danh vọng được khởi lên … cung kính được khởi lên … không cung kính được khởi lên … ác dục được khởi lên … ác bằng hữu được khởi lên, các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não khởi lên, như vậy các lậu hoặc, các tổn hại, nhiệt não ấy không có mặt. Này các Tỷ-kheo, do duyên mục đích này, Tỷ-kheo phải sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên … không lợi dưỡng được khởi lên … danh vọng được khởi lên … không danh vọng được khởi lên … cung kính được khởi lên … không cung kính được khởi lên … ác dục được khởi lên … ác bằng hữu được khởi lên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:
TTC 9“Ta sẽ sống chinh phục lợi dưỡng được khởi lên … không lợi dưỡng được khởi lên … danh vọng được khởi lên … không danh vọng được khởi lên … cung kính được khởi lên … không cung kính được khởi lên … ác dục được khởi lên … ác bằng hữu được khởi lên”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
TTC 10Cho đến nay, thưa Tôn giả Uttara, trong bốn hội chúng giữa loài người: Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, pháp môn này không được một ai thiết lập. Thưa Tôn giả, Tôn giả Uttara hãy học pháp môn này. Thưa Tôn giả, Tôn giả Uttara hãy học thuộc lòng pháp môn này. Thưa Tôn giả, Tôn giả Uttara hãy thọ trì pháp môn này. Thưa Tôn giả, pháp môn này liên hệ đến mục đích, là căn bản Phạm hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.8
- 1. Love
Uttara on Failure
8. Kinh Uttara Vipatti
Ekaṁ samayaṁ āyasmā uttaro mahisavatthusmiṁ viharati saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ. Tatra kho āyasmā uttaro bhikkhū āmantesi: “sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti. Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ paccavekkhitā hoti. Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attasampattiṁ paccavekkhitā hoti. Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ parasampattiṁ paccavekkhitā hotī”ti.
At one time Venerable Uttara was staying on the Saṅkheyyaka Mountain in the Mahisa region near Dhavajālikā. There Uttara addressed the mendicants: “Mendicants, it’s good for a mendicant to check their own failings from time to time. It’s good for a mendicant to check the failings of others from time to time. It’s good for a mendicant to check their own successes from time to time. It’s good for a mendicant to check the successes of others from time to time.”
8. Một thời, Tôn giả Uttara trú tại Mahisavatthu, trên núi Saṅkheyyaka, trong tu viện Vaṭajālikā. Tại đấy, Tôn giả Uttara gọi các tỳ khưu: “Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của tự thân. Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của người khác. Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thành tựu của tự thân. Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thành tựu của người khác.”
Tena kho pana samayena vessavaṇo mahārājā uttarāya disāya dakkhiṇaṁ disaṁ gacchati kenacideva karaṇīyena. Assosi kho vessavaṇo mahārājā āyasmato uttarassa mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ desentassa: “sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti. Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ paccavekkhitā hoti. Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attasampattiṁ paccavekkhitā hoti. Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ parasampattiṁ paccavekkhitā hotī”ti.
Now at that time the great king Vessavaṇa was on his way from the north to the south on some business. He heard Venerable Uttara teaching this to the mendicants on Saṅkheyyaka Mountain.
Vào lúc ấy, đại vương Vessavaṇa đang đi từ phương bắc đến phương nam vì một công việc nào đó. Đại vương Vessavaṇa đã nghe tiếng của Tôn giả Uttara đang thuyết pháp cho các tỳ khưu tại Mahisavatthu, trên núi Saṅkheyyaka, trong tu viện Vaṭajālikā như sau: “Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của tự thân. Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của người khác. Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thành tựu của tự thân. Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thành tựu của người khác.”
Atha kho vessavaṇo mahārājā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ antarahito devesu tāvatiṁsesu pāturahosi. Atha kho vessavaṇo mahārājā yena sakko devānamindo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
“yagghe, mārisa, jāneyyāsi. Eso āyasmā uttaro mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ deseti: ‘sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti. Sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ …pe… attasampattiṁ … parasampattiṁ paccavekkhitā hotī’”ti.
Then Vessavaṇa vanished from Saṅkheyyaka Mountain and appeared among the gods of the thirty-three, as easily as a strong person would extend or contract their arm. Then he went up to Sakka, lord of gods, and said to him:
“Please good fellow, you should know this. Venerable Uttara is teaching the mendicants on Saṅkheyyaka Mountain in this way: ‘It’s good for a mendicant from time to time to check their own failings. … the failings of others … their own successes … the successes of others.’”
Rồi đại vương Vessavaṇa, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ngài biến mất khỏi tu viện Vaṭajālikā trên núi Saṅkheyyaka ở Mahisavatthu và hiện ra giữa các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba. Rồi đại vương Vessavaṇa đi đến chỗ Sakka, vua của các vị trời; sau khi đến, ngài nói với Sakka, vua của các vị trời điều này: “Thưa ngài, mong ngài biết cho! Tôn giả Uttara kia đang thuyết pháp cho các tỳ khưu tại Mahisavatthu, trên núi Saṅkheyyaka, trong tu viện Vaṭajālikā như sau: ‘Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của tự thân. Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của người khác... (như trên)... sự thành tựu của tự thân... sự thành tựu của người khác.’”
Atha kho sakko devānamindo seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ devesu tāvatiṁsesu antarahito mahisavatthusmiṁ saṅkheyyake pabbate vaṭajālikāyaṁ āyasmato uttarassa sammukhe pāturahosi. Atha kho sakko devānamindo yenāyasmā uttaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ uttaraṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho sakko devānamindo āyasmantaṁ uttaraṁ etadavoca:
Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, Sakka vanished from the gods of the thirty-three and reappeared on Saṅkheyyaka Mountain in front of Venerable Uttara. Then Sakka went up to Venerable Uttara, bowed, stood to one side, and said to him:
Rồi Sakka, vua của các vị trời, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ngài biến mất khỏi các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba và hiện ra trước mặt Tôn giả Uttara tại tu viện Vaṭajālikā trên núi Saṅkheyyaka ở Mahisavatthu. Rồi Sakka, vua của các vị trời, đi đến chỗ Tôn giả Uttara; sau khi đến, ngài đảnh lễ Tôn giả Uttara rồi đứng một bên. Đứng một bên, Sakka, vua của các vị trời, nói với Tôn giả Uttara điều này:
“Saccaṁ kira, bhante, āyasmā uttaro bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ desesi: ‘sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti, sādhāvuso, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ …pe… attasampattiṁ … parasampattiṁ paccavekkhitā hotī’”ti?
“Evaṁ, devānamindā”ti.
“Kiṁ panidaṁ, bhante, āyasmato uttarassa sakaṁ paṭibhānaṁ, udāhu tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassā”ti?
“Tena hi, devānaminda, upamaṁ te karissāmi. Upamāya m’idhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
“Is it really true, sir, that you teach the mendicants in this way: ‘It’s good for a mendicant from time to time to check their own failings … the failings of others … their own successes … the successes of others’?”
“Indeed, lord of gods.”
“Sir, did this teaching come to you from your own inspiration, or was it spoken by the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha?”
“Well then, lord of gods, I shall give you a simile. For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said.
“Thưa Tôn giả, có thật là Tôn giả Uttara đã thuyết pháp cho các tỳ khưu như vầy: ‘Này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của tự thân; này chư hiền, thật tốt thay nếu vị tỳ khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của người khác... (như trên)... sự thành tựu của tự thân... sự thành tựu của người khác’ không?” “Đúng vậy, thưa vua của các vị trời.” “Thưa Tôn giả, vậy đây là sự tự biện tài của Tôn giả Uttara, hay là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác?” “Này vua của các vị trời, vậy thì ta sẽ cho ngài một ví dụ. Ở đây, một số người trí hiểu được ý nghĩa của lời nói qua ví dụ.”
Seyyathāpi, devānaminda, gāmassa vā nigamassa vā avidūre mahādhaññarāsi. Tato mahājanakāyo dhaññaṁ āhareyya—kājehipi piṭakehipi ucchaṅgehipi añjalīhipi. Yo nu kho, devānaminda, taṁ mahājanakāyaṁ upasaṅkamitvā evaṁ puccheyya: ‘kuto imaṁ dhaññaṁ āharathā’ti, kathaṁ byākaramāno nu kho, devānaminda, so mahājanakāyo sammā byākaramāno byākareyyā”ti?
“‘Amumhā mahādhaññarāsimhā āharāmā’ti kho, bhante, so mahājanakāyo sammā byākaramāno byākareyyā”ti.
“Evamevaṁ kho, devānaminda, yaṁ kiñci subhāsitaṁ sabbaṁ taṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa. Tato upādāyupādāya mayaṁ caññe ca bhaṇāmā”ti.
Suppose there was a large heap of grain not far from a town or village. And a large crowd were to take away grain with carrying poles, baskets, hip sacks, or their cupped hands. If someone were to go to that crowd and ask them where they got the grain from, how should that crowd rightly reply?”
“Sir, they should reply that they took it from the large heap of grain.”
“In the same way, lord of gods, whatever is well spoken is spoken by the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. Both myself and others rely completely on that when we speak.”
“Thưa Thiên chủ, ví như không xa làng mạc hay thị trấn có một đống lúa lớn. Từ đó, đám đông dân chúng sẽ mang lúa đi – bằng đòn gánh, bằng giỏ, bằng vạt áo, và bằng hai tay chắp lại. Thưa Thiên chủ, nếu có người nào đó đến gần đám đông dân chúng ấy và hỏi rằng: ‘Quý vị mang lúa này từ đâu đến?’, thưa Thiên chủ, đám đông dân chúng ấy phải trả lời như thế nào mới được xem là trả lời đúng đắn?”. “Thưa Tôn giả, đám đông dân chúng ấy, khi trả lời: ‘Chúng tôi mang đến từ đống lúa lớn kia’, thì được xem là trả lời đúng đắn”. “Thưa Thiên chủ, cũng vậy, bất cứ lời nào được khéo nói, tất cả đều là lời của đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chúng con và những người khác chỉ thuật lại từ những lời dạy ấy mà thôi.”
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ bhante. Yāva subhāsitañcidaṁ āyasmatā uttarena: ‘yaṁ kiñci subhāsitaṁ sabbaṁ taṁ tassa bhagavato vacanaṁ arahato sammāsambuddhassa. Tato upādāyupādāya mayañcaññe ca bhaṇāmā’ti. Ekamidaṁ, bhante uttara, samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate acirapakkante devadatte. Tatra kho bhagavā devadattaṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
“It’s incredible, sir, it’s amazing! How well this was said by Venerable Uttara! ‘Whatever is well spoken is spoken by the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha. Both myself and others rely completely on that when we speak.’ At one time, Honorable Uttara, the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain, not long after Devadatta had left. There the Buddha spoke to the mendicants about Devadatta:
“Thưa Tôn giả, thật vi diệu! Thưa Tôn giả, thật hy hữu! Lời này đã được Tôn giả Uttara khéo nói thay: ‘Bất cứ lời nào được khéo nói, tất cả đều là lời của đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chúng con và những người khác chỉ thuật lại từ những lời dạy ấy mà thôi’. Thưa Tôn giả Uttara, một thời, đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa, không lâu sau khi Devadatta ra đi. Tại đó, đức Thế Tôn nhân đề cập đến Devadatta mà gọi các vị tỳ-khưu:”
‘Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ attavipattiṁ paccavekkhitā hoti. Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paravipattiṁ …pe… attasampattiṁ … parasampattiṁ paccavekkhitā hoti. Aṭṭhahi, bhikkhave, asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi aṭṭhahi? Lābhena hi, bhikkhave, abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho; alābhena, bhikkhave …pe… yasena, bhikkhave … ayasena, bhikkhave … sakkārena, bhikkhave … asakkārena, bhikkhave … pāpicchatāya, bhikkhave … pāpamittatāya, bhikkhave, abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
‘Mendicants, it’s good for a mendicant from time to time to check their own failings … the failings of others … their own successes … the successes of others. Overcome and overwhelmed by eight things that oppose the true teaching, Devadatta is going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable. What eight? Overcome and overwhelmed by gain … loss … fame … disgrace … honor … dishonor … corrupt wishes … bad friendship, Devadatta is going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable. Overcome and overwhelmed by these eight things that oppose the true teaching, Devadatta is going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable.
“Này các tỳ-khưu, thật tốt thay khi vị tỳ-khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của mình. Này các tỳ-khưu, thật tốt thay khi vị tỳ-khưu thỉnh thoảng quán xét sự thất bại của người khác... sự thành công của mình... sự thành công của người khác. Này các tỳ-khưu, Devadatta, bị tám phi pháp này chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, sẽ phải đọa vào ác xứ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa. Tám điều ấy là gì? Này các tỳ-khưu, Devadatta, bị lợi lộc chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, sẽ phải đọa vào ác xứ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa; này các tỳ-khưu, bị không lợi lộc... này các tỳ-khưu, bị danh vọng... này các tỳ-khưu, bị không danh vọng... này các tỳ-khưu, bị cung kính... này các tỳ-khưu, bị không cung kính... này các tỳ-khưu, bị ác dục... này các tỳ-khưu, bị ác hữu chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, Devadatta sẽ phải đọa vào ác xứ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa. Này các tỳ-khưu, chính do tám phi pháp này chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, mà Devadatta sẽ phải đọa vào ác xứ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa.”
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya; uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya.
It’s good for a mendicant, whenever they encounter it, to overcome gain … loss … fame … disgrace … honor … dishonor … corrupt wishes … bad friendship.
“Này các tỳ-khưu, thật tốt thay khi vị tỳ-khưu sống, luôn luôn chế ngự lợi lộc đã khởi sanh; chế ngự sự không lợi lộc đã khởi sanh... chế ngự danh vọng đã khởi sanh... chế ngự sự không danh vọng đã khởi sanh... chế ngự sự cung kính đã khởi sanh... chế ngự sự không cung kính đã khởi sanh... chế ngự ác dục đã khởi sanh... chế ngự ác hữu đã khởi sanh.”
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya; uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya?
What advantage does a mendicant gain by overcoming these eight things?
“Này các tỳ-khưu, và vì mục đích gì mà vị tỳ-khưu nên sống, luôn luôn chế ngự lợi lộc đã khởi sanh; chế ngự sự không lợi lộc đã khởi sanh... chế ngự danh vọng đã khởi sanh... chế ngự sự không danh vọng đã khởi sanh... chế ngự sự cung kính đã khởi sanh... chế ngự sự không cung kính đã khởi sanh... chế ngự ác dục đã khởi sanh... chế ngự ác hữu đã khởi sanh?”
Yaṁ hissa, bhikkhave, uppannaṁ lābhaṁ anabhibhuyya viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Yaṁ hissa, bhikkhave, uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ anabhibhuyya viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya; uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya.
The distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without overcoming these eight things do not arise when they have overcome them. This is the advantage that a mendicant gains by overcoming these eight things.
“Này các tỳ-khưu, nếu vị ấy sống không chế ngự lợi lộc đã khởi sanh, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não sẽ khởi sanh. Nhưng khi vị ấy sống chế ngự lợi lộc đã khởi sanh, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không khởi sanh. Này các tỳ-khưu, nếu vị ấy sống không chế ngự sự không lợi lộc đã khởi sanh... danh vọng... không danh vọng... cung kính... không cung kính... ác dục... ác hữu đã khởi sanh, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não sẽ khởi sanh. Nhưng khi vị ấy sống chế ngự ác hữu đã khởi sanh, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không khởi sanh. Này các tỳ-khưu, chính vì mục đích này mà vị tỳ-khưu nên sống, luôn luôn chế ngự lợi lộc đã khởi sanh; chế ngự sự không lợi lộc đã khởi sanh... danh vọng... không danh vọng... cung kính... không cung kính... ác dục... ác hữu đã khởi sanh.”
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
“uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya viharissāma, uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya viharissāmā”ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban’ti.
So you should train like this:
“Whenever we encounter it, we will overcome gain … loss … fame … disgrace … honor … dishonor … corrupt wishes … bad friendship.” That’s how you should train.’
“Do đó, này các tỳ-khưu, các thầy phải học tập như sau: ‘Chúng ta sẽ sống, luôn luôn chế ngự lợi lộc đã khởi sanh; chế ngự sự không lợi lộc đã khởi sanh... danh vọng... không danh vọng... cung kính... không cung kính... ác dục... ác hữu đã khởi sanh’. Này các tỳ-khưu, các thầy phải học tập như vậy.”
Ettāvatā, bhante uttara, manussesu catasso parisā—bhikkhū, bhikkhuniyo, upāsakā, upāsikāyo. Nāyaṁ dhammapariyāyo kismiñci upaṭṭhito. Uggaṇhatu, bhante, āyasmā uttaro imaṁ dhammapariyāyaṁ. Pariyāpuṇātu, bhante, āyasmā uttaro imaṁ dhammapariyāyaṁ. Dhāretu, bhante, āyasmā uttaro imaṁ dhammapariyāyaṁ. Atthasaṁhito ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo ādibrahmacariyako”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Honorable Uttara, this exposition of the teaching is not established anywhere in the four assemblies—monks, nuns, laymen, and laywomen. Sir, learn this exposition of the teaching! Memorize this exposition of the teaching! Remember this exposition of the teaching! Sir, this exposition of the teaching is beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life.”
“Thưa Tôn giả Uttara, trong loài người có bốn hội chúng: tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Pháp môn này chưa được trình bày cho bất kỳ ai trong số họ. Thưa Tôn giả, mong Tôn giả Uttara hãy học thuộc pháp môn này. Thưa Tôn giả, mong Tôn giả Uttara hãy thông thạo pháp môn này. Thưa Tôn giả, mong Tôn giả Uttara hãy ghi nhớ pháp môn này. Thưa Tôn giả, pháp môn này liên hệ đến lợi ích, là khởi đầu của phạm hạnh.” (Kinh thứ tám)