- Aṅguttara Nikāya 8.66
- 7. Bhūmicālavagga
Bản dịch
AN 8.66 — Các Giải Thoát
Vimokkhasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có tám giải thoát này. Thế nào là tám?
TTC 2“Tự mình có sắc, thấy các sắc”. Ðó là giải thoát thứ nhất.
TTC 3“Tưởng tri nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc”. Ðó là giải thoát thứ hai.
TTC 4“Chú tâm trên suy tưởng (sắc là) tịnh”. Ðó là giải thoát thứ ba.
TTC 5“Vượt khỏi hoàn toàn sắc tướng, chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý đến các tưởng khác biệt, với suy tư: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Ðó là giải thoát thứ tư.
TTC 6“Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Ðó là giải thoát thứ năm.
TTC 7“Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Ðó là giải thoát thứ sáu.
TTC 8“Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là giải thoát thứ bảy.
TTC 9“Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng. Ðó là giải thoát thứ tám.
Này các Tỷ-kheo, có tám giải thoát này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.66
- 7. Earthquakes
Liberations
6. Kinh Giải Thoát
“Aṭṭhime, bhikkhave, vimokkhā. Katame aṭṭha? Rūpī rūpāni passati. Ayaṁ paṭhamo vimokkho.
“Mendicants, there are these eight liberations. What eight? Having physical form, they see forms. This is the first liberation.
66. “Này các tỳ khưu, có tám giải thoát này. Tám giải thoát nào? Người có sắc, thấy các sắc. Đây là giải thoát thứ nhất.
Ajjhattaṁ arūpasaññī, bahiddhā rūpāni passati.
Not perceiving form internally, they see forms externally.
Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài, màu trắng, có sắc trắng, có hình tướng trắng, có ánh sáng trắng. Vị ấy có tưởng như vầy: ‘Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tám. Này các tỳ khưu, đây là tám thắng xứ.” (Kinh thứ năm).
Không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài. Đây là giải thoát thứ hai.
Subhanteva adhimutto hoti. Ayaṁ tatiyo vimokkho.
They’re focused only on beauty. This is the third liberation.
Chỉ chuyên chú vào sự thanh tịnh. Đây là giải thoát thứ ba.
Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ catuttho vimokkho.
Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. This is the fourth liberation.
Do đã hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do sự chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các dị biệt tưởng, vị ấy trú vào Không Vô Biên Xứ, nghĩ rằng: ‘Không gian là vô biên.’ Đây là giải thoát thứ tư.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ pañcamo vimokkho.
Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. This is the fifth liberation.
Do đã hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, vị ấy trú vào Thức Vô Biên Xứ, nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên.’ Đây là giải thoát thứ năm.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ chaṭṭho vimokkho.
Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. This is the sixth liberation.
Do đã hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, vị ấy trú vào Vô Sở Hữu Xứ, nghĩ rằng: ‘Không có gì cả.’ Đây là giải thoát thứ sáu.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ sattamo vimokkho.
Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. This is the seventh liberation.
Do đã hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy trú vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây là giải thoát thứ bảy.
Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ aṭṭhamo vimokkho.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha vimokkhā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling. This is the eighth liberation.
These are the eight liberations.”
Do đã hoàn toàn vượt qua Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy trú vào Diệt Thọ Tưởng Định. Đây là giải thoát thứ tám. Này các tỳ khưu, đây là tám giải thoát.” (Kinh thứ sáu).