- Aṅguttara Nikāya 8.44
- 5. Uposathavagga
Bản dịch
AN 8.44 — Vàsettha
Vāseṭṭhasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ngôi nhà có nóc nhọn, rồi nam cư sĩ Vàsettha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nam cư sĩ đang ngồi một bên: … (Ðức Phật nói lại như kinh 4,2 kể cả bài kệ, với những thay đổi cần thiết) …
TTC 2Khi được nói như vậy, nam cư sĩ Vàsettha bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, nếu người bà con huyết thống thân mến của con thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần này, như vậy, các bà con huyết thống thân mến của con được hạnh phúc an lạc lâu dài. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả các Sát-đế-lỵ thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, tất cả các được hạnh phúc an lạc lâu dài. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả Bà-la-môn … các Phệ-Xá … các Thủ-đà thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Thủ-đà được hạnh phúc an lạc lâu dài.
TTC 3—Như vậy là phải, này Vàsettha! Này Vàsettha, nếu tất cả các Sát-đế-lỵ thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Sát Ðế Lỵ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu tất cả Bà-la-môn … các Phệ-Xá … các Thủ-đà thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Thủ-đà sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu thế giới chư Thiên, với các ác ma, các Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, như vậy, thế giới chư Thiên, các ác ma, các Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu các cây sàlà lớn này có thể thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài, nếu chúng có tư duy, nói gì đến loài người.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.44
- 5. Sabbath
With Vāseṭṭha on the Sabbath
4. Kinh Vāseṭṭha
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Atha kho vāseṭṭho upāsako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho vāseṭṭhaṁ upāsakaṁ bhagavā etadavoca:
“aṭṭhaṅgasamannāgato, vāseṭṭha, uposatho upavuttho mahapphalo hoti …pe… aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Then the layman Vāseṭṭha went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Vāseṭṭha, the observance of the sabbath with its eight factors is very fruitful and beneficial and brilliant and bountiful … blameless, they go to a heavenly place.”
44. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi Chùa Có Nóc Nhọn. Bấy giờ, nam cư sĩ Vāseṭṭha đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn đã nói điều này với nam cư sĩ Vāseṭṭha đang ngồi một bên: ‘Này Vāseṭṭha, lễ Uposatha gồm tám chi phần, khi đã được thực hành, sẽ có quả báu lớn... này... không bị chê trách, sanh về cảnh giới chư thiên.’
Evaṁ vutte, vāseṭṭho upāsako bhagavantaṁ etadavoca:
“piyā me, bhante, ñātisālohitā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, piyānampi me assa ñātisālohitānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, bhante, khattiyā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, bhante, brāhmaṇā …pe… vessā … suddā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
When he said this, Vāseṭṭha said to the Buddha:
“If my loved ones—relatives and kin—were to observe this sabbath with its eight factors, it would be for their lasting welfare and happiness. If all the aristocrats, brahmins, peasants, and menials were to observe this sabbath with its eight factors, it would be for their lasting welfare and happiness.”
Khi được nói vậy, nam cư sĩ Vāseṭṭha đã bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, mong sao những người bà con thân quyến thân yêu của con thực hành lễ Uposatha gồm tám chi phần. Điều ấy sẽ vì lợi ích, vì an lạc lâu dài cho những người bà con thân quyến thân yêu của con. Bạch Thế Tôn, mong sao tất cả những vị Sát-đế-lỵ thực hành lễ Uposatha gồm tám chi phần. Điều ấy sẽ vì lợi ích, vì an lạc lâu dài cho tất cả những vị Sát-đế-lỵ. Bạch Thế Tôn, mong sao tất cả những vị Bà-la-môn... này... những vị Phệ-xá... những vị Thủ-đà-la thực hành lễ Uposatha gồm tám chi phần. Điều ấy sẽ vì lợi ích, vì an lạc lâu dài cho tất cả những vị Thủ-đà-la.’
“Evametaṁ, vāseṭṭha, evametaṁ, vāseṭṭha. Sabbe cepi, vāseṭṭha, khattiyā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, vāseṭṭha, brāhmaṇā …pe… vessā … suddā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sadevako cepi, vāseṭṭha, loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sadevakassapissa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Ime cepi, vāseṭṭha, mahāsālā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, imesampissa mahāsālānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya (…). Ko pana vādo manussabhūtassā”ti.
Catutthaṁ.
“That’s so true, Vāseṭṭha! That’s so true, Vāseṭṭha! If all the aristocrats, brahmins, peasants, and menials were to observe this sabbath with its eight factors, it would be for their lasting welfare and happiness. If the whole world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—were to observe this sabbath with its eight factors, it would be for their lasting welfare and happiness. If these great sal trees were to observe this sabbath with its eight factors, it would be for their lasting welfare and happiness—if they were sentient. How much more then a human being!”
‘Đúng vậy, Vāseṭṭha, đúng vậy, Vāseṭṭha! Này Vāseṭṭha, nếu tất cả những vị Sát-đế-lỵ thực hành lễ Uposatha gồm tám chi phần, điều ấy sẽ vì lợi ích, vì an lạc lâu dài cho tất cả những vị Sát-đế-lỵ. Này Vāseṭṭha, nếu tất cả những vị Bà-la-môn... này... những vị Phệ-xá... những vị Thủ-đà-la thực hành lễ Uposatha gồm tám chi phần, điều ấy sẽ vì lợi ích, vì an lạc lâu dài cho tất cả những vị Thủ-đà-la. Này Vāseṭṭha, nếu thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người thực hành lễ Uposatha gồm tám chi phần, điều ấy sẽ vì lợi ích, vì an lạc lâu dài cho thế giới cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Này Vāseṭṭha, nếu những cây sāla lớn này thực hành lễ Uposatha gồm tám chi phần, điều ấy cũng sẽ vì lợi ích, vì an lạc lâu dài cho những cây sāla lớn này. Huống nữa là con người!’