- Aṅguttara Nikāya 8.20
- 2. Mahāvagga
Bản dịch
AN 8.20 — Ngày Trai Giới
Uposathasutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Ðông viên, chỗ lâu đài mẹ Migàra. Lúc bấy giờ Thế Tôn, nhân ngày trai giới, đang ngồi, có chúng Tăng đoanh vây. Rồi Tôn giả Ananda, khi đêm đã gần mãn, và canh một đã qua, từ chỗ ngồi, đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, đêm đã gần mãn, canh một đã qua, chúng Tỷ-kheo đã ngồi lâu, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đọc giới bổn cho các Tỷ-kheo.
Khi được nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng.
TTC 2Lần thứ hai, Tôn giả Ananda, khi đêm đã gần mãn, và canh giữa đã qua, từ chỗ ngồi, đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, đêm đã gần mãn, canh cuối đã qua, chúng Tỷ-kheo đã ngồi lâu, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đọc giới bổn cho các Tỷ-kheo.
TTC 3Lần thứ ba, Tôn giả Ananda, khi đêm đã gần mãn, và canh cuối đã qua, rạng đông đã khởi, mặt đêm đã sáng rõ, từ chỗ ngồi, đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, đêm đã gần mãn, canh cuối đã qua, rạng đông đã khởi, mặt đêm đã sáng tỏ, chúng Tỷ-kheo đã ngồi lâu, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đọc giới bổn cho các Tỷ-kheo.
—Này Ananda, hội chúng không được thanh tịnh.
TTC 4Rồi Tôn giả Mahàmoggallàna suy nghĩ như sau: “Ðề cập đến người nào, Thế Tôn đã nói: “Này Ananda, hội chúng không được thanh tịnh “? Rồi Tôn giả Mahàmoggallàna, với tâm của mình, chú tâm tác ý đến toàn thể chúng Tỷ-kheo Tăng, Tôn giả thấy một người ấy là ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh, đáng nghi ngờ, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn nhưng tự nhận là Sa-môn, không sống Phạm hạnh nhưng tự nhận là sống Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh, đang ngồi giữa chúng Tỷ-kheo; thấy vậy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến người ấy, sau khi đến, nói với người ấy:
—Này Hiền giả, hãy đứng dậy. Thế Tôn đã thấy Ông. Ðối với Hiền giả, không thể chung sống với các Tỷ-kheo.
—Ðược nói như vậy, người ấy im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Mahàmoggallàna nói với người ấy:
—Này Hiền giả, hãy đứng dậy. Thế Tôn đã thấy Ông. Ðối với Hiền giả, không thể chung sống với các Tỷ-kheo.
Lần thứ hai, người ấy im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Mahàmoggallàna nói với người ấy:
—Này Hiền giả, hãy đứng dậy. Thế Tôn đã thấy Ông. Ðối với Hiền giả, không thể chung sống với các Tỷ-kheo.
Lần thứ ba, người ấy im lặng.
TTC 5Rồi Tôn giả Mahàmoggallàna nắm lấy cánh tay người ấy, đẩy ra khỏi cửa, đóng chốt cửa lại, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, người ấy đã bị con đuổi ra khỏi. Hội chúng đã thanh tịnh. Bạch Thế Tôn, hãy thuyết giới bổn cho chúng Tỷ-kheo.
—Thật vi diệu thay, này Mahàmoggallàna! Thật hy hữu thay, này Mahàmoggallàna! Cho đến khi bị nắm tay, kẻ ngu sĩ kia mới đi.
Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy hành trì Uposatha (Bố-tát), hãy đọc giới bổn. Bắt đầu từ nay, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ không đọc giới bổn. Này các Tỷ-kheo, không có sự kiện, không có cơ hội rằng Như Lai có thể đọc giới bổn trong một hội chúng không thanh tịnh.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, trong biển lớn có tám pháp vi diệu chưa từng có này mà do thấy vậy, thấy vậy, các Asurà (A-tu-la) thích thú biển lớn. Thế nào là tám?
Này các Tỷ-kheo, biển lớn tuần tự xuôi, tuần tự thuận hướng … (như trên, Kinh số 19, từ đoạn số 2 đến số 9) … Này các Tỷ-kheo, đây là vi diệu chưa từng có thứ tám mà do thấy vậy, thấy vậy, các Asurà (A-tu-la) thích thú biển lớn.
Này các Tỷ-kheo, trong biển lớn có tám pháp vi diệu chưa từng có này mà do thấy vậy, thấy vậy, các Asurà thích thú biển lớn.
TTC 8Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này có tám pháp vi diệu chưa từng có này mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này. Thế nào là tám?
Ví như, này các Tỷ-kheo, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng … (như trên 19, đoạn số 11 với những thay đổi cần thiết ) … Này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, đây là vi diệu chưa từng có thứ tám mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ trong Pháp và Luật này.
Này các Tỷ-kheo, trong Pháp và Luật này, có tám pháp vi diệu, chưa từng có này mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ trong Pháp và Luật này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.20
- 2. The Great Chapter
Sabbath
10. Kinh Bố Tát
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe bhikkhusaṅghaparivuto nisinno hoti. Atha kho āyasmā ānando abhikkantāya rattiyā, nikkhante paṭhame yāme, uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantā, bhante, ratti, nikkhanto paṭhamo yāmo, ciranisinno bhikkhusaṅgho. Uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery.
Now, at that time it was the sabbath, and the Buddha was sitting surrounded by the Saṅgha of monks. And then, as the night was getting late, in the first watch of the night, Venerable Ānanda rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha and said, “Sir, the night is getting late. It is the first watch of the night, and the Saṅgha of monks has been sitting long. Please, sir, may the Buddha recite the monastic code to the monks.”
20. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra. Bấy giờ, vào ngày Bố tát hôm ấy, Thế Tôn đang ngồi, có Tăng chúng Tỳ khưu vây quanh. Lúc ấy, Tôn giả Ānanda, khi đêm đã trôi qua, canh một đã mãn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, đêm đã trôi qua, canh một đã mãn, Tăng chúng Tỳ khưu đã ngồi lâu. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết Pātimokkha cho các Tỳ khưu.”
Evaṁ vutte, bhagavā tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho āyasmā ānando abhikkantāya rattiyā, nikkhante majjhime yāme, uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantā, bhante, ratti, nikkhanto majjhimo yāmo, ciranisinno bhikkhusaṅgho. Uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti.
Dutiyampi kho bhagavā tuṇhī ahosi.
Tatiyampi kho āyasmā ānando abhikkantāya rattiyā, nikkhante pacchime yāme, uddhaste aruṇe, nandimukhiyā rattiyā uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantā, bhante, ratti, nikkhanto pacchimo yāmo, uddhastaṁ aruṇaṁ, nandimukhī ratti; ciranisinno bhikkhusaṅgho. Uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti.
“Aparisuddhā, ānanda, parisā”ti.
But when he said this, the Buddha kept silent.
For a second time, as the night was getting late, in the middle watch of the night, Ānanda rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha and said, “Sir, the night is getting late. It is the middle watch of the night, and the Saṅgha of monks has been sitting long. Please, sir, may the Buddha recite the monastic code to the monks.”
But for a second time the Buddha kept silent.
For a third time, as the night was getting late, in the last watch of the night, as dawn stirred, bringing joy to the night, Ānanda rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha and said, “Sir, the night is getting late. It is the last watch of the night and dawn stirs, bringing joy to the night. And the Saṅgha has been sitting long. Please, sir, may the Buddha recite the monastic code to the monks.”
“Ānanda, the assembly is not pure.”
Khi được nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Ānanda, khi đêm đã trôi qua, canh giữa đã mãn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, đêm đã trôi qua, canh giữa đã mãn, Tăng chúng Tỳ khưu đã ngồi lâu. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết Pātimokkha cho các Tỳ khưu.” Lần thứ hai, Thế Tôn cũng giữ im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Ānanda, khi đêm đã trôi qua, canh cuối đã mãn, rạng đông đã ló dạng, đêm có gương mặt hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, đêm đã trôi qua, canh cuối đã mãn, rạng đông đã ló dạng, đêm có gương mặt hoan hỷ; Tăng chúng Tỳ khưu đã ngồi lâu. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết Pātimokkha cho các Tỳ khưu.” (Thế Tôn đáp:) “Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh.”
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi: “kaṁ nu kho bhagavā puggalaṁ sandhāya evamāha: ‘aparisuddhā, ānanda, parisā’”ti?
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno sabbāvantaṁ bhikkhusaṅghaṁ cetasā ceto paricca manasākāsi. Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ dussīlaṁ pāpadhammaṁ asuciṁ saṅkassarasamācāraṁ paṭicchannakammantaṁ assamaṇaṁ samaṇapaṭiññaṁ abrahmacāriṁ brahmacāripaṭiññaṁ antopūtiṁ avassutaṁ kasambujātaṁ majjhe bhikkhusaṅghassa nisinnaṁ;
disvāna uṭṭhāyāsanā yena so puggalo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ puggalaṁ etadavoca: “uṭṭhehāvuso, diṭṭhosi bhagavatā. Natthi te bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāso”ti.
Then Venerable Mahāmoggallāna thought, “Who is the Buddha talking about?”
Then he focused on encompassing the minds of everyone in the Saṅgha. He saw that unethical individual, of bad qualities, filthy, with suspicious behavior, underhand, no true ascetic or spiritual practitioner—though claiming to be one—rotten inside, festering, and depraved, sitting in the middle of the Saṅgha.
When he saw him he rose from his seat, went up to him and said, “Get up, reverend. The Buddha has seen you. You can’t live in communion with the monks.”
Lúc ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna suy nghĩ thế này: “Thế Tôn đang ám chỉ đến người nào mà nói rằng: ‘Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh’?” Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna dùng tâm của mình bao trùm, tác ý đến tâm của toàn thể Tăng chúng Tỳ khưu. Tôn giả Mahāmoggallāna thấy người ấy, một kẻ ác giới, theo tà pháp, không thanh tịnh, có hành vi đáng ngờ, có việc làm che giấu, không phải Sa-môn nhưng tự nhận là Sa-môn, không sống phạm hạnh nhưng tự nhận là sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, ướt át, là một đống rác, đang ngồi giữa Tăng chúng Tỳ khưu. Thấy vậy, Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ người ấy; sau khi đến, Tôn giả nói với người ấy rằng: “Này hiền giả, hãy đứng dậy. Ông đã bị Thế Tôn thấy rồi. Ông không còn được sống chung với các Tỳ khưu nữa.”
Evaṁ vutte, so puggalo tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ etadavoca: “uṭṭhehāvuso, diṭṭhosi bhagavatā. Natthi te bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāso”ti. Dutiyampi kho so puggalo tuṇhī ahosi.
Tatiyampi kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ etadavoca: “uṭṭhehāvuso, diṭṭhosi bhagavatā. Natthi te bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāso”ti.
Tatiyampi kho so puggalo tuṇhī ahosi.
But when he said this, that individual kept silent.
For a second time
and a third time, he asked that monk to leave.
But for a third time that individual kept silent.
Khi được nói như vậy, người ấy vẫn im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Mahāmoggallāna lại nói với người ấy rằng: – Này hiền giả, hãy đứng dậy, ông đã được đức Thế Tôn nhìn thấy. Ông không được sống chung cùng với các vị tỳ khưu. Lần thứ hai, người ấy vẫn im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Mahāmoggallāna lại nói với người ấy rằng: – Này hiền giả, hãy đứng dậy, ông đã được đức Thế Tôn nhìn thấy. Ông không được sống chung cùng với các vị tỳ khưu. Lần thứ ba, người ấy vẫn im lặng.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ bāhāyaṁ gahetvā bahidvārakoṭṭhakā nikkhāmetvā sūcighaṭikaṁ datvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “nikkhāmito so, bhante, puggalo mayā. Parisuddhā parisā. Uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti.
“Acchariyaṁ, moggallāna, abbhutaṁ, moggallāna. Yāva bāhā gahaṇāpi nāma so moghapuriso āgamissatī”ti.
Then Venerable Mahāmoggallāna took that individual by the arm, ejected him out the gate, and bolted the door. Then he went up to the Buddha, and said to him, “I have ejected that individual. The assembly is pure. Please, sir, may the Buddha recite the monastic code to the monks.”
“It’s incredible, Moggallāna, it’s amazing, how that futile man waited to be taken by the arm!”
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna nắm cánh tay của người ấy, đưa ra khỏi cổng vòm, cài then lại, rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, bèn bạch với đức Thế Tôn rằng: – Bạch ngài, người ấy đã được con đưa ra ngoài. Hội chúng đã trong sạch. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thuyết Pātimokkha cho các vị tỳ khưu. – Thật kỳ diệu, này Moggallāna, thật phi thường, này Moggallāna! Kẻ ngu si ấy đã chờ đợi cho đến khi bị nắm tay lôi đi!
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“tumheva dāni, bhikkhave, uposathaṁ kareyyātha, pātimokkhaṁ uddiseyyātha. Na dānāhaṁ, bhikkhave, ajjatagge uposathaṁ karissāmi, pātimokkhaṁ uddisissāmi. Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ tathāgato aparisuddhāya parisāya pātimokkhaṁ uddiseyya.
Then the Buddha said to the monks:
“Now, monks, you should perform the sabbath and recite the monastic code. From this day forth, I will not perform the sabbath or recite the monastic code. It’s impossible, monks, it can’t happen that a Realized One could recite the monastic code in an impure assembly.
Rồi đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, từ nay chính các ngươi hãy làm lễ Uposatha, hãy thuyết Pātimokkha. Này các tỳ khưu, từ hôm nay trở đi, Như Lai sẽ không làm lễ Uposatha, sẽ không thuyết Pātimokkha. Này các tỳ khưu, không có trường hợp, không có cơ hội nào mà Như Lai lại thuyết Pātimokkha cho một hội chúng không trong sạch.
Aṭṭhime, bhikkhave, mahāsamudde acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti. Katame aṭṭha? Mahāsamuddo, bhikkhave, anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro, na āyatakeneva papāto. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro, na āyatakeneva papāto; ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti (yathā purime tathā vitthāro.)
…pe…
Seeing these eight incredible and amazing things the titans love the ocean. What eight? The ocean gradually slants, slopes, and inclines, with no abrupt precipice. This is the first thing the titans love about the ocean.
(Tell in full as in the previous discourse.)
– Này các tỳ khưu, có tám pháp kỳ diệu, phi thường này ở trong đại dương, thấy đi thấy lại những pháp ấy, các vị a-tu-la hoan hỷ trong đại dương. Tám pháp ấy là gì? Này các tỳ khưu, đại dương có độ dốc tuần tự, độ nghiêng tuần tự, độ lài tuần tự, không có vách đứng đột ngột. Này các tỳ khưu, chính vì đại dương có độ dốc tuần tự, độ nghiêng tuần tự, độ lài tuần tự, không có vách đứng đột ngột; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ nhất trong đại dương, thấy đi thấy lại pháp ấy, các vị a-tu-la hoan hỷ trong đại dương. ...v.v... (nên được trình bày chi tiết như ở kinh trước).
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso. Tatrime bhūtā—timi timiṅgalo timirapiṅgalo asurā nāgā gandhabbā. Vasanti mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā …pe… pañcayojanasatikāpi attabhāvā. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso; tatrime bhūtā—timi timiṅgalo timirapiṅgalo asurā nāgā gandhabbā; vasanti mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā …pe… pañcayojanasatikāpi attabhāvā; ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti. Ime kho, bhikkhave, mahāsamudde aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Furthermore, many great beings live in the ocean, such as leviathans, leviathan-gulpers, leviathan-gulper-gulpers, titans, dragons, and centaurs. In the ocean there are life-forms a hundred leagues long, or even two hundred, three hundred, four hundred, or five hundred leagues long. This is the eighth thing the titans love about the ocean. Seeing these eight incredible and amazing things the titans love the ocean.
Lại nữa, này các tỳ khưu, đại dương là nơi ở của các loài chúng sanh to lớn. Các chúng sanh ấy là: cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timirapiṅgala, các vị a-tu-la, các loài rồng, các vị càn-thát-bà. Có những chúng sanh với thân hình một trăm do-tuần...v.v... năm trăm do-tuần sống trong đại dương. Này các tỳ khưu, chính vì đại dương là nơi ở của các loài chúng sanh to lớn; các chúng sanh ấy là: cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timirapiṅgala, các vị a-tu-la, các loài rồng, các vị càn-thát-bà; có những chúng sanh với thân hình một trăm do-tuần...v.v... năm trăm do-tuần sống trong đại dương; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tám trong đại dương, thấy đi thấy lại pháp ấy, các vị a-tu-la hoan hỷ trong đại dương. Này các tỳ khưu, đây chính là tám pháp kỳ diệu, phi thường trong đại dương, thấy đi thấy lại những pháp ấy, các vị a-tu-la hoan hỷ trong đại dương.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, aṭṭha imasmiṁ dhammavinaye acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti. Katame aṭṭha?
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro, na āyatakeneva papāto; evamevaṁ kho, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā, na āyatakeneva aññāpaṭivedho. Yampi, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā, na āyatakeneva aññāpaṭivedho; ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti …pe…
seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso; tatrime bhūtā—timi timiṅgalo timirapiṅgalo asurā nāgā gandhabbā, vasanti mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā …pe… pañcayojanasatikāpi attabhāvā; evamevaṁ kho, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso. Tatrime bhūtā—sotāpanno sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno …pe… arahā arahattāya paṭipanno. Yampi, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso; tatrime bhūtā—sotāpanno sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno …pe… arahā arahattāya paṭipanno; ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Ime kho, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramantī”ti.
Dasamaṁ.
In the same way, seeing eight incredible and amazing things, monks, the mendicants love this teaching and training. What eight?
The ocean gradually slants, slopes, and inclines, with no abrupt precipice. In the same way in this teaching and training the penetration to enlightenment comes from gradual training, progress, and practice, not abruptly. This is the first thing the mendicants love about this teaching and training. …
Many great beings live in the ocean, such as leviathans, leviathan-gulpers, leviathan-gulper-gulpers, titans, dragons, and centaurs. In the ocean there are life-forms a hundred leagues long, or even two hundred, three hundred, four hundred, or five hundred leagues long. In the same way, great beings live in this teaching and training, and these are those beings. The stream-enterer and the one practicing to realize the fruit of stream-entry. The once-returner and the one practicing to realize the fruit of once-return. The non-returner and the one practicing to realize the fruit of non-return. The perfected one, and the one practicing for perfection. This is the eighth thing the mendicants love about this teaching and training.
Seeing these eight incredible and amazing things, the mendicants love this teaching and training.”
Cũng vậy, này các tỳ khưu, có tám pháp kỳ diệu, phi thường ở trong Pháp và Luật này, thấy đi thấy lại những pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này. Tám pháp ấy là gì? Này các tỳ khưu, cũng như đại dương có độ dốc tuần tự, độ nghiêng tuần tự, độ lài tuần tự, không có vách đứng đột ngột; cũng vậy, này các tỳ khưu, trong Pháp và Luật này có sự học tập tuần tự, sự thực hành tuần tự, con đường tuần tự, không có sự chứng ngộ trí tuệ một cách đột ngột. Này các tỳ khưu, chính vì trong Pháp và Luật này có sự học tập tuần tự, sự thực hành tuần tự, con đường tuần tự, không có sự chứng ngộ trí tuệ một cách đột ngột; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ nhất trong Pháp và Luật này, thấy đi thấy lại pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này. ...v.v... Này các tỳ khưu, cũng như đại dương là nơi ở của các loài chúng sanh to lớn; các chúng sanh ấy là: cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timirapiṅgala, các vị a-tu-la, các loài rồng, các vị càn-thát-bà, có những chúng sanh với thân hình một trăm do-tuần...v.v... năm trăm do-tuần sống trong đó; cũng vậy, này các tỳ khưu, Pháp và Luật này là nơi ở của các bậc vĩ nhân. Các bậc vĩ nhân ấy là: bậc Dự lưu, người đang thực hành để chứng ngộ quả Dự lưu...v.v... bậc A-la-hán, người đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán. Này các tỳ khưu, chính vì Pháp và Luật này là nơi ở của các bậc vĩ nhân; các bậc vĩ nhân ấy là: bậc Dự lưu, người đang thực hành để chứng ngộ quả Dự lưu...v.v... bậc A-la-hán, người đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tám trong Pháp và Luật này, thấy đi thấy lại pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này. Này các tỳ khưu, đây chính là tám pháp kỳ diệu, phi thường trong Pháp và Luật này, thấy đi thấy lại những pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này. (Kinh) thứ mười.
Mahāvaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Lớn, thứ hai.
Verañjo sīho ājaññaṁ, khaḷuṅkena malāni ca; Dūteyyaṁ dve ca bandhanā, pahārādo uposathoti.
Verañja, Sīha, Ājañña, Khaḷuṅka, và Malāni; Dūteyya, hai kinh Bandhanā, Pahārāda, và Uposatha.