- Aṅguttara Nikāya 8.19
- 2. Mahāvagga
Bản dịch
AN 8.19 — A-Tu-La Pahàràda
Pahārādasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Veranjà, dưới gốc cây Nalerupucimanda. Rồi vua A-tu-la Pahàràda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với vua A-tu-la Pahàràda đang đứng một bên:
—Này Pahàràda, có phải các A-tu-la thích thú biển lớn?
—Bạch Thế Tôn, các A-tu-la thích thú biển lớn.
—Này Paràhàda, có bao nhiêu sự vi diệu chưa từng có trong biển lớn mà do thấy chúng , các A-tu-la thích thú biển lớn?
—Bạch Thế Tôn, có tám vi diệu chưa từng có trong biển lớn mà do thấy chúng, các A-tu-la thích thú biển lớn. Thế nào là tám?
TTC 2Bạch Thế Tôn, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Vì rằng bạch Thế Tôn, vì rằng biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm, nên bạch Thế Tôn, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất, do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.
TTC 3Lại nữa, bạch Thế Tôn, biển lớn đứng một chỗ, không có vượt qua bờ. Vì rằng bạch Thế Tôn, biển lớn đứng một chỗ, không có vượt qua bờ, bạch Thế Tôn, đây là vi diệu chưa từng có thứ hai, do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.
TTC 4Lại nữa, bạch Thế Tôn, biển lớn không có chấp chứa xác chết. Nếu có xác chết trong biển lớn, lập tức bị quăng lên bờ hay vất lên đất liền. Vì rằng bạch Thế Tôn, biển lớn không có chấp chứa xác chết. Nếu có xác chết trong biển lớn, lập tức bị quăng lên bờ hay vất lên đất liền. Nên bạch Thế Tôn đây là vi diệu chưa từng có thứ ba, do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.
TTC 5Lại nữa, bạch Thế Tôn, phàm có các con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravatì, sông Sarabhù, sông Mahì, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ cũ trở thành biển lớn. Vì rằng, phàm có các con sông lớn nào, ví như sông Hằng … trở thành biển lớn, nên bạch Thế Tôn, đây là vi diệu chưa từng có thứ tư, do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.
TTC 6Lại nữa, bạch Thế Tôn, phàm có những dòng nước gì ở đời chảy vào biển lớn, phàm có những nước mưa từ trời rơi xuống, nhưng không vì vậy biển lớn được thấy có vơi có đầy. Bạch Thế Tôn, vì rằng, phàm có những dòng nước gì ở đời chảy vào biển lớn, phàm có những nước mưa từ trời rơi xuống, nhưng không vì vậy biển lớn được thấy có vơi có đầy, bạch Thế Tôn, đây là vi diệu chưa từng có thứ năm, do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.
TTC 7Lại nữa, bạch Thế Tôn, biển lớn chỉ có một vị là vị mặn. Vì rằng, bạch Thế Tôn, biển lớn chỉ có một vị là vị mặn, nên bạch Thế Tôn, đây là vi diệu chưa từng có thứ sáu, do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.
TTC 8Lại nữa, bạch Thế Tôn, biển lớn có nhiều châu báu, nhiều loại châu báu, ở đây có những châu báu này, như thân châu, ma-ni châu, lưu-ly, xa-cừ, ngọc bích, san hô, bạc, vàng, ngọc đỏ, mã não. Vì rằng, bạch Thế Tôn , biển lớn có nhiều châu báu, nhiều loại châu báu, ở đây có những châu báu này, như trân châu, ma-ni châu, lưu-ly, xa-cừ, ngọc bích, san hô, bạc, vàng, ngọc đỏ, mã não. Bạch Thế Tôn, đây là vi diệu chưa từng có thứ bảy, do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn.
TTC 9Lại nữa, bạch Thế Tôn, biển lớn là trú xứ các loại chúng sanh lớn, tại đấy, có những chúng sanh như các con Timi, Timingalà, Timiramingalà, những loại Asurà (A-tu-la), các loại Nàgà, các loại Gandhabbà. Trong biển có những loài hữu tình có tự ngã dài một trăm do tuần, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm do tuần. Vì rằng, bạch Thế Tôn, biển lớn là trú xứ các loài chúng sanh lớn … năm trăm do tuần, nên bạch Thế Tôn, đây là vi diệu chưa từng có thứ tám, do thấy vậy, thấy vậy, các A-tu-la thích thú biển lớn. Nhưng bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo có thích thú trong Pháp và Luật này?
—Này Pahàràda, Tỷ-kheo có thích thú trong Pháp và Luật này.
—Bạch Thế Tôn, trong Pháp và Luật này có bao nhiêu pháp vi diệu chưa từng có mà do thấy chúng, thấy chúng, các Tỷ-kheo thích thú trong pháp và luật này?
TTC 10—Này Pahàràda, có tám pháp vi diệu này chưa từng có trong Pháp và Luật mà do thấy chúng, thấy chúng, các Tỷ-kheo thích thú trong pháp và luật này. Thế nào là tám?
TTC 11Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.
TTC 12Ví như, này Pahàràda, biển lớn đứng một chỗ, không có vượt qua bờ. Cũng vậy, này Pahàràda, khi các học pháp được Ta sửa soạn cho các đệ tử, các đệ tử của Ta, dầu cho vì nhân sinh mạng, cũng không vượt qua,. Vì rằng này Pahàràda các học pháp được Ta sửa soạn cho các đệ tử, các đệ tử của Ta, dầu cho vì nhân sinh mạng, cũng không vượt qua,. Nên này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, đây là vi diệu chưa từng có thứ hai do mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.
TTC 13Ví như, này Pahàràda, biển lớn không có chấp chứa xác chết. Nếu có xác chết trong biển lớn, lập tức bị quăng lên bờ hay vất lên đất liền. Cũng vậy, này Pahàràda, người nào là ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh đáng nghi ngờ, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn, nhưng tự nhận là Sa-môn, không phải sống Phạm hạnh nhưng tự nhận có Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh. Chúng Tăng không sống chung với người ấy, lập tức hội họp lại và đuổi người ấy ra khỏi. Dầu cho người ấy có ngồi giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, nhưng người ấy sống xa chúng Tăng và chúng Tăng sống xa người ấy. Vì rằng, này Pahàràda, người ấy là ác giới, theo ác pháp, … tánh tình bất tịnh … và chúng Tăng sống xa vị ấy, nên này Pahàràda, trong pháp và luật này, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ ba mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.
TTC 14Ví như, này Pahàràda, phàm có các con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravatì, sông Sarabhù, sông Mahì, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ cũ trở thành biển lớn. Cũng vậy, này Pahàràda, có bốn giai cấp: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật được Như Lai tuyên bố, họ từ bỏ tên và họ của họ từ trước, và họ trở thành những Sa-môn Thích tử. Này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tư mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.
TTC 15Ví như, này Pahàràda, phàm có những dòng nước gì ở đời chảy vào biển lớn, phàm có những nước mưa từ trời rơi xuống, nhưng không vì vậy biển lớn được thấy có vơi có đầy. Cũng vậy, này Pahàràda, nếu có nhiều Tỷ-kheo nhập vào Niết-bàn giới không có dư y, Niết-bàn giới cũng không vì vậy được thấy có vơi có đầy. Này Pahàràda, nếu có nhiều vị Tỷ-kheo nhập vào Niết-bàn giới không có dư y, Niết-bàn giới cũng không vì vậy được thấy có vơi có đầy. Này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ năm mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.
TTC 16Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát. Này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ sáu mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.
TTC 17Ví như, này Pahàràda, biển lớn có nhiều châu báu, có nhiều loại châu báu, ở đây có những châu báu này, như trân châu, ma-ni châu, lưu-ly, xa-cừ, ngọc bích, san hô, bạc, vàng, ngọc đỏ, mã não. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật này có nhiều châu báu, nhiều loại châu báu, ở đấy có những châu báu này, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành. Này Pahàràda, vì rằng Pháp và Luật này có nhiều châu báu, nhiều loại châu báu, ở đấy có những châu báu này, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành, nên này Pahàràdan, trong Pháp và Luật này, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ bảy mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.
TTC 18Ví như, này Pahàràda, biển lớn là trú xứ các loại chúng sanh lớn, tại đấy, có những chúng sanh như các con Timi, Timingalà, Timiramingalà, những loại Asurà (A-tu-la), các loại Nàgà, các loại Gandhabbà. Trong biển có những loài hữu tình với tự ngã dài một trăm do tuần, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm do tuần. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật là trú xứ của các loài chúng sanh lớn. Ở đấy có những loại chúng sanh này: bậc Dự lưu, bậc đã hướng đến chứng ngộ Dự lưu quả, bậc Nhất Lai, bậc đã hướng đến chứng ngộ Nhất lai quả, bậc Bất lai, bậc đã hướng đến chứng ngộ Bất lai quả, bậc A-la-hán, bậc đã hướng đến chứng ngộ quả A-la-hán. Này Pahàràda, vì rằng Pháp và Luật này là trú xứ của các loại chúng sanh lớn. Ở đấy có những chúng sanh này … quả A-la-hán. Này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, đây là pháp vi diệu chưa từng có thứ tám mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.
Này Pahàràda, đây là tám pháp vi diệu, chưa từng có trong pháp và luật và do thấy vậy, do thấy vậy, các Tỷ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.19
- 2. The Great Chapter
With Pahārāda
9. Kinh Pahārāda
Ekaṁ samayaṁ bhagavā verañjāyaṁ viharati naḷerupucimandamūle.
Atha kho pahārādo asurindo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho pahārādaṁ asurindaṁ bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was staying in Verañjā at the root of a neem tree dedicated to Naḷeru.
Then Pahārāda, lord of titans, went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. The Buddha said to him,
19. Một thời, Thế Tôn trú ở Verañjā, dưới gốc cây nimba của Naḷeru. Khi ấy, vua a-tu-la Pahārāda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn đã nói điều này với vua a-tu-la Pahārāda đang đứng một bên:
“Abhiramanti, bhante, asurā mahāsamudde”ti.
“Kati pana, pahārāda, mahāsamudde acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramantī”ti?
“Aṭṭha, bhante, mahāsamudde acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti. Katame aṭṭha? Mahāsamuddo, bhante, anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro, na āyatakeneva papāto. Yampi, bhante, mahāsamuddo anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro, na āyatakeneva papāto; ayaṁ, bhante, mahāsamudde paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
“Sir, they do indeed.”
“But seeing what incredible and amazing things do the titans love the ocean?”
“Sir, seeing eight incredible and amazing things the titans love the ocean. What eight? The ocean gradually slants, slopes, and inclines, with no abrupt precipice. This is the first thing the titans love about the ocean.
‘Này Pahārāda, có phải các a-tu-la vui thích ở đại dương không?’ ‘Bạch Thế Tôn, các a-tu-la vui thích ở đại dương.’ ‘Này Pahārāda, có bao nhiêu pháp kỳ diệu, phi thường ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương?’ ‘Bạch Thế Tôn, có tám pháp kỳ diệu, phi thường ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương. Tám pháp ấy là gì? Bạch Thế Tôn, đại dương có độ dốc tuần tự, độ nghiêng tuần tự, độ lài tuần tự, chứ không đột ngột như vực thẳm. Bạch Thế Tôn, chính vì đại dương có độ dốc tuần tự, độ nghiêng tuần tự, độ lài tuần tự, chứ không đột ngột như vực thẳm, bạch Thế Tôn, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ nhất ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương.’
Puna caparaṁ, bhante, mahāsamuddo ṭhitadhammo velaṁ nātivattati. Yampi, bhante, mahāsamuddo ṭhitadhammo velaṁ nātivattati; ayaṁ, bhante, mahāsamudde dutiyo acchariyo abbhuto dhammo yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Furthermore, the ocean is consistent and doesn’t overflow its boundaries. This is the second thing the titans love about the ocean.
‘Lại nữa, bạch Thế Tôn, đại dương có trạng thái ổn định, không vượt quá bờ. Bạch Thế Tôn, chính vì đại dương có trạng thái ổn định, không vượt quá bờ; bạch Thế Tôn, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ hai ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương.’
Puna caparaṁ, bhante, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati. Yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ, taṁ khippameva tīraṁ vāheti, thalaṁ ussāreti. Yampi, bhante, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati, yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ, taṁ khippameva tīraṁ vāheti, thalaṁ ussāreti; ayaṁ, bhante, mahāsamudde tatiyo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Furthermore, the ocean doesn’t accommodate a carcass, but quickly carries it to the shore and strands it on the beach. This is the third thing the titans love about the ocean.
‘Lại nữa, bạch Thế Tôn, đại dương không chung sống với xác chết. Bất cứ xác chết nào có trong đại dương, nó nhanh chóng được đưa vào bờ, tấp lên đất liền. Bạch Thế Tôn, chính vì đại dương không chung sống với xác chết, bất cứ xác chết nào có trong đại dương, nó nhanh chóng được đưa vào bờ, tấp lên đất liền; bạch Thế Tôn, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ ba ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương.’
Puna caparaṁ, bhante, yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī, tā mahāsamuddaṁ patvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘mahāsamuddo’ tveva saṅkhaṁ gacchanti. Yampi, bhante, yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī, tā mahāsamuddaṁ patvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘mahāsamuddo’ tveva saṅkhaṁ gacchanti; ayaṁ, bhante, mahāsamudde catuttho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Puna caparaṁ, bhante, yā ca loke savantiyo mahāsamuddaṁ appenti yā ca antalikkhā dhārā papatanti, na tena mahāsamuddassa ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati.
Furthermore, when they reach the ocean, all the great rivers—that is, the Ganges, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—lose their names and clans and are simply reckoned as ‘the ocean’. This is the fourth thing the titans love about the ocean.
Furthermore, for all the world’s streams that reach it, and the showers that fall from the sky, the ocean never empties or fills up.
‘Lại nữa, bạch Thế Tôn, bất cứ sông lớn nào, như là – sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, khi chúng chảy đến đại dương thì từ bỏ tên họ cũ, và chỉ được tính là ‘đại dương’. Bạch Thế Tôn, chính vì bất cứ sông lớn nào, như là – sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, khi chúng chảy đến đại dương thì từ bỏ tên họ cũ, và chỉ được tính là ‘đại dương’; bạch Thế Tôn, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tư ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương.’
‘Lại nữa, bạch Thế Tôn, dù cho các dòng sông trên thế gian chảy vào đại dương và các dòng mưa từ trên trời rơi xuống, nhưng không vì thế mà sự vơi đi hay đầy lên của đại dương được nhận thấy. Bạch Thế Tôn, chính vì các dòng sông trên thế gian chảy vào đại dương và các dòng mưa từ trên trời rơi xuống, nhưng không vì thế mà sự vơi đi hay đầy lên của đại dương được nhận thấy; bạch Thế Tôn, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ năm ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương.’
Puna caparaṁ, bhante, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso. Yampi, bhante, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso; ayaṁ, bhante, mahāsamudde chaṭṭho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Puna caparaṁ, bhante, mahāsamuddo bahuratano anekaratano. Tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—muttā maṇi veḷuriyo saṅkho silā pavāḷaṁ rajataṁ jātarūpaṁ lohitako masāragallaṁ.
Furthermore, the ocean has just one taste, the taste of salt. This is the sixth thing the titans love about the ocean.
Furthermore, the ocean is full of many kinds of treasures, such as pearls, gems, beryl, conch, quartz, coral, silver, native gold, rubies, and emeralds.
‘Lại nữa, bạch Thế Tôn, đại dương chỉ có một vị, vị mặn. Bạch Thế Tôn, chính vì đại dương chỉ có một vị, vị mặn; bạch Thế Tôn, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ sáu ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương.’
‘Lại nữa, bạch Thế Tôn, đại dương có nhiều báu vật, vô số báu vật. Ở đó có những báu vật này, như là – ngọc trai, ngọc bích, lưu ly, ốc xà cừ, thạch anh, san hô, bạc, vàng, hồng ngọc, và ngọc mã não. Bạch Thế Tôn, chính vì đại dương có nhiều báu vật, vô số báu vật; ở đó có những báu vật này, như là – ngọc trai, ngọc bích, lưu ly, ốc xà cừ, thạch anh, san hô, bạc, vàng, hồng ngọc, và ngọc mã não; bạch Thế Tôn, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ bảy ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương.’
Puna caparaṁ, bhante, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso. Tatrime bhūtā—timi timiṅgalo timirapiṅgalo asurā nāgā gandhabbā. Santi mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā, dviyojanasatikāpi attabhāvā, tiyojanasatikāpi attabhāvā, catuyojanasatikāpi attabhāvā, pañcayojanasatikāpi attabhāvā. Yampi, bhante, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso; tatrime bhūtā—timi timiṅgalo timirapiṅgalo asurā nāgā gandhabbā; santi mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā …pe… tiyojana … catuyojana … pañcayojanasatikāpi attabhāvā; ayaṁ, bhante, mahāsamudde aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Ime kho, bhante, mahāsamudde aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramantīti.
Furthermore, many great beings live in the ocean, such as leviathans, leviathan-gulpers, leviathan-gulper-gulpers, titans, dragons, and centaurs. In the ocean there are life-forms a hundred leagues long, or even two hundred, three hundred, four hundred, or five hundred leagues long. This is the eighth thing the titans love about the ocean.
Seeing these eight incredible and amazing things the titans love the ocean.
‘Lại nữa, bạch Thế Tôn, đại dương là nơi ở của các chúng sanh to lớn. Ở đó có những chúng sanh này – cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timirapiṅgala, các a-tu-la, các long vương, các càn-thát-bà. Trong đại dương có những chúng sanh với thân hình một trăm do-tuần, cũng có những chúng sanh với thân hình hai trăm do-tuần, ba trăm do-tuần, bốn trăm do-tuần, năm trăm do-tuần. Bạch Thế Tôn, chính vì đại dương là nơi ở của các chúng sanh to lớn; ở đó có những chúng sanh này – cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timirapiṅgala, các a-tu-la, các long vương, các càn-thát-bà; trong đại dương có những chúng sanh với thân hình một trăm do-tuần, ... hai trăm do-tuần, ... ba trăm do-tuần, ... bốn trăm do-tuần, ... năm trăm do-tuần; bạch Thế Tôn, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tám ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương. Bạch Thế Tôn, đây chính là tám pháp kỳ diệu, phi thường ở đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la vui thích ở đại dương.’
Api pana, bhante, bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramantī”ti?
“Abhiramanti, pahārāda, bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye”ti.
“Kati pana, bhante, imasmiṁ dhammavinaye acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramantī”ti?
“Aṭṭha, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti. Katame aṭṭha?
Seyyathāpi, pahārāda, mahāsamuddo anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro, na āyatakeneva papāto; evamevaṁ kho, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā, na āyatakeneva aññāpaṭivedho. Yampi, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā, na āyatakeneva aññāpaṭivedho; ayaṁ, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Well, sir, do the mendicants love this teaching and training?”
“They do indeed, Pahārāda.”
“But seeing how many incredible and amazing things do the mendicants love this teaching and training?”
“Seeing eight incredible and amazing things, Pahārāda, the mendicants love this teaching and training. What eight?
The ocean gradually slants, slopes, and inclines, with no abrupt precipice. In the same way in this teaching and training the penetration to enlightenment comes from gradual training, progress, and practice, not abruptly. This is the first thing the mendicants love about this teaching and training.
“Bạch Thế Tôn, các vị tỳ khưu có hoan hỷ trong Pháp và Luật này không?” “Này Pahārāda, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.” “Bạch Thế Tôn, trong Pháp và Luật này có bao nhiêu pháp kỳ diệu, chưa từng có, mà sau khi thấy và thấy các pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này?” “Này Pahārāda, trong Pháp và Luật này có tám pháp kỳ diệu, chưa từng có, mà sau khi thấy và thấy các pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này. Tám pháp ấy là gì? Này Pahārāda, ví như biển lớn dốc xuống từ từ, thoải dần, nghiêng dần, chứ không có vực thẳm đột ngột; cũng vậy, này Pahārāda, trong Pháp và Luật này có sự học tập tuần tự, có sự thực hành tuần tự, có con đường tuần tự, chứ không có sự chứng đắc A-la-hán quả ngay lập tức. Này Pahārāda, chính vì trong Pháp và Luật này có sự học tập tuần tự, có sự thực hành tuần tự, có con đường tuần tự, chứ không có sự chứng đắc A-la-hán quả ngay lập tức. Này Pahārāda, đây là pháp kỳ diệu, chưa từng có thứ nhất trong Pháp và Luật này, mà sau khi thấy và thấy pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, pahārāda, mahāsamuddo ṭhitadhammo velaṁ nātivattati; evamevaṁ kho, pahārāda, yaṁ mayā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ taṁ mama sāvakā jīvitahetupi nātikkamanti. Yampi, pahārāda, mayā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ taṁ mama sāvakā jīvitahetupi nātikkamanti; ayaṁ, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye dutiyo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
The ocean is consistent and doesn’t overflow its boundaries. In the same way, when a training rule is laid down for my disciples they wouldn’t break it even for the sake of their own life. This is the second thing the mendicants love about this teaching and training.
“Này Pahārāda, ví như biển lớn có trạng thái ổn định, không vượt qua bờ; cũng vậy, này Pahārāda, học giới nào đã được Ta chế định cho các đệ tử, các đệ tử của Ta không vi phạm học giới ấy dù vì mạng sống. Này Pahārāda, chính vì học giới nào đã được Ta chế định cho các đệ tử, các đệ tử của Ta không vi phạm học giới ấy dù vì mạng sống. Này Pahārāda, đây là pháp kỳ diệu, chưa từng có thứ hai trong Pháp và Luật này, mà sau khi thấy và thấy pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, pahārāda, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati. Yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ, taṁ khippameva tīraṁ vāheti thalaṁ ussāreti; evamevaṁ kho, pahārāda, yo so puggalo dussīlo pāpadhammo asucisaṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto, na tena saṅgho saṁvasati; khippameva naṁ sannipatitvā ukkhipati. Kiñcāpi so hoti majjhe bhikkhusaṅghassa sannisinno, atha kho so ārakāva saṅghamhā saṅgho ca tena.
The ocean doesn’t accommodate a carcass, but quickly carries it to the shore and strands it on the beach. In the same way, the Saṅgha doesn’t accommodate an individual who is unethical, of bad qualities, filthy, with suspicious behavior, underhand, no true ascetic or spiritual practitioner—though claiming to be one—rotten inside, festering, and depraved. But they quickly gather and expel them. Even if they are sitting in the middle of the Saṅgha, they’re far from the Saṅgha, and the Saṅgha is far from them.
“Này Pahārāda, ví như biển lớn không chung sống với xác chết. Bất cứ xác chết nào có trong biển lớn, nó nhanh chóng đưa vào bờ, đẩy lên đất liền; cũng vậy, này Pahārāda, người nào ác giới, có pháp ác, có hành vi không trong sạch, đáng ngờ, có hành động che giấu, không phải sa-môn mà tự nhận là sa-môn, không sống phạm hạnh mà tự nhận sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, bị rỉ chảy, như rác rưởi, Tăng chúng không chung sống với người ấy; nhanh chóng hội họp lại và trục xuất người ấy.”
“Dù người ấy có ngồi giữa Tăng chúng, nhưng người ấy vẫn xa cách Tăng chúng, và Tăng chúng cũng xa cách người ấy. Này Pahārāda, chính vì người nào ác giới, có pháp ác, có hành vi không trong sạch, đáng ngờ, có hành động che giấu, không phải sa-môn mà tự nhận là sa-môn, không sống phạm hạnh mà tự nhận sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, bị rỉ chảy, như rác rưởi, Tăng chúng không chung sống với người ấy; nhanh chóng hội họp lại và trục xuất người ấy; và dù người ấy có ngồi giữa Tăng chúng, nhưng người ấy vẫn xa cách Tăng chúng, và Tăng chúng cũng xa cách người ấy. Này Pahārāda, đây là pháp kỳ diệu, chưa từng có thứ ba trong Pháp và Luật này, mà sau khi thấy và thấy pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, pahārāda, yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī, tā mahāsamuddaṁ patvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘mahāsamuddo’ tveva saṅkhaṁ gacchanti; evamevaṁ kho, pahārāda, cattārome vaṇṇā—khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā, te tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘samaṇā sakyaputtiyā’ tveva saṅkhaṁ gacchanti. Yampi, pahārāda, cattārome vaṇṇā—khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā, te tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘samaṇā sakyaputtiyā’ tveva saṅkhaṁ gacchanti; ayaṁ, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye catuttho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
When they reach the ocean, all the great rivers—that is, the Ganges, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—lose their names and clans and are simply reckoned as ‘the ocean’. In the same way, when they go forth from the lay life to homelessness, all four classes—aristocrats, brahmins, peasants, and menials—lose their former names and clans and are simply reckoned as ‘ascetics who follow the Sakyan’. This is the fourth thing the mendicants love about this teaching and training.
“Này Pahārāda, ví như các sông lớn, như là: sông Hằng, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, sau khi chảy đến biển lớn, chúng từ bỏ tên và dòng họ trước kia, và được gọi chung là 'biển lớn'; cũng vậy, này Pahārāda, có bốn giai cấp này – Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la – họ, sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ tên và dòng họ trước kia, và được gọi chung là 'sa-môn Thích tử'. Này Pahārāda, chính vì có bốn giai cấp này – Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la – họ, sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ tên và dòng họ trước kia, và được gọi chung là 'sa-môn Thích tử'. Này Pahārāda, đây là pháp kỳ diệu, chưa từng có thứ tư trong Pháp và Luật này, mà sau khi thấy và thấy pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, pahārāda, yā ca loke savantiyo mahāsamuddaṁ appenti yā ca antalikkhā dhārā papatanti, na tena mahāsamuddassa ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati; evamevaṁ kho, pahārāda, bahū cepi bhikkhū anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyanti, na tena nibbānadhātuyā ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati. Yampi, pahārāda, bahū cepi bhikkhū anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyanti, na tena nibbānadhātuyā ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati; ayaṁ, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye pañcamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
For all the world’s streams that reach it, and the showers that fall from the sky, the ocean never empties or fills up. In the same way, though several mendicants become fully extinguished in the element of extinguishment with no residue, the element of extinguishment never empties or fills up. This is the fifth thing the mendicants love about this teaching and training.
“Này Pahārāda, ví như các dòng sông trên thế gian chảy vào biển lớn và các dòng mưa từ trên trời rơi xuống, nhưng do đó không thấy biển lớn vơi đi hay đầy lên; cũng vậy, này Pahārāda, dù cho nhiều vị tỳ khưu nhập vô dư y Niết-bàn giới, nhưng do đó không thấy Niết-bàn giới vơi đi hay đầy lên. Này Pahārāda, chính vì dù cho nhiều vị tỳ khưu nhập vô dư y Niết-bàn giới, nhưng do đó không thấy Niết-bàn giới vơi đi hay đầy lên. Này Pahārāda, đây là pháp kỳ diệu, chưa từng có thứ năm trong Pháp và Luật này, mà sau khi thấy và thấy pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, pahārāda, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso; evamevaṁ kho, pahārāda, ayaṁ dhammavinayo ekaraso, vimuttiraso. Yampi, pahārāda, ayaṁ dhammavinayo ekaraso, vimuttiraso; ayaṁ, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye chaṭṭho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
The ocean has just one taste, the taste of salt. In the same way, this teaching and training has one taste, the taste of freedom. This is the sixth thing the mendicants love about this teaching and training.
“Này Pahārāda, ví như biển lớn chỉ có một vị, vị mặn; cũng vậy, này Pahārāda, Pháp và Luật này chỉ có một vị, vị giải thoát. Này Pahārāda, chính vì Pháp và Luật này chỉ có một vị, vị giải thoát; này Pahārāda, đây là pháp kỳ diệu, chưa từng có thứ sáu trong Pháp và Luật này, mà sau khi thấy và thấy pháp ấy, các vị tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, pahārāda, mahāsamuddo bahuratano anekaratano; tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—muttā maṇi veḷuriyo saṅkho silā pavāḷaṁ rajataṁ jātarūpaṁ lohitako masāragallaṁ; evamevaṁ kho, pahārāda, ayaṁ dhammavinayo bahuratano anekaratano. Tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Yampi, pahārāda, ayaṁ dhammavinayo bahuratano anekaratano; tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo; ayaṁ, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye sattamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
The ocean is full of many kinds of treasures, such as pearls, gems, beryl, conch, quartz, coral, silver, native gold, rubies, and emeralds. In the same way, this teaching and training is full of many kinds of treasures, such as the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path. This is the seventh thing the mendicants love about this teaching and training.
Này Pahārāda, ví như đại dương có nhiều châu báu, vô số châu báu. Ở đó có những châu báu này, tức là: ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc lưu ly, xà cừ, đá pha lê, san hô, bạc, vàng, hồng ngọc, ngọc mã não. Cũng vậy, này Pahārāda, Pháp và Luật này có nhiều châu báu, vô số châu báu. Ở đó có những châu báu này, tức là: bốn Niệm Xứ, bốn Chánh Cần, bốn Như Ý Túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác Chi, Thánh Đạo Tám Ngành. Này Pahārāda, việc Pháp và Luật này có nhiều châu báu, vô số châu báu; ở đó có những châu báu này, tức là: bốn Niệm Xứ, bốn Chánh Cần, bốn Như Ý Túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác Chi, Thánh Đạo Tám Ngành; này Pahārāda, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ bảy trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.
Seyyathāpi, pahārāda, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso; tatrime bhūtā—timi timiṅgalo timirapiṅgalo asurā nāgā gandhabbā; santi mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā, dviyojanasatikāpi attabhāvā, tiyojanasatikāpi attabhāvā, catuyojanasatikāpi attabhāvā, pañcayojanasatikāpi attabhāvā; evamevaṁ kho, pahārāda, ayaṁ dhammavinayo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso; tatrime bhūtā—sotāpanno sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno, sakadāgāmī sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno, anāgāmī anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno, arahā arahattāya paṭipanno. Yampi, pahārāda, ayaṁ dhammavinayo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso; tatrime bhūtā—sotāpanno sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno, sakadāgāmī sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno, anāgāmī anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno, arahā arahattāya paṭipanno; ayaṁ, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Ime kho, pahārāda, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramantī”ti.
Navamaṁ.
Many great beings live in the ocean, such as leviathans, leviathan-gulpers, leviathan-gulper-gulpers, titans, dragons, and centaurs. In the ocean there are life-forms a hundred leagues long, or even two hundred, three hundred, four hundred, or five hundred leagues long. In the same way, great beings live in this teaching and training, and these are those beings. The stream-enterer and the one practicing to realize the fruit of stream-entry. The once-returner and the one practicing to realize the fruit of once-return. The non-returner and the one practicing to realize the fruit of non-return. The perfected one, and the one practicing for perfection. This is the eighth thing the mendicants love about this teaching and training.
Seeing these eight incredible and amazing things, Pahārāda, the mendicants love this teaching and training.”
Này Pahārāda, ví như đại dương là nơi ở của các chúng sanh to lớn. Ở đó có những chúng sanh này: cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timirapiṅgala, các a-tu-la, các long vương, các càn-thát-bà. Trong đại dương có những chúng sanh thân hình dài một trăm do-tuần, có những chúng sanh thân hình dài hai trăm do-tuần, có những chúng sanh thân hình dài ba trăm do-tuần, có những chúng sanh thân hình dài bốn trăm do-tuần, có những chúng sanh thân hình dài năm trăm do-tuần. Cũng vậy, này Pahārāda, Pháp và Luật này là nơi ở của các bậc vĩ nhân. Ở đó có những bậc vĩ nhân này: bậc Dự Lưu và vị đang thực hành để chứng ngộ quả Dự Lưu, bậc Nhất Lai và vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, bậc Bất Lai và vị đang thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, bậc A-la-hán và vị đang thực hành để đạt đến A-la-hán quả. Này Pahārāda, việc Pháp và Luật này là nơi ở của các bậc vĩ nhân; ở đó có những bậc vĩ nhân này: bậc Dự Lưu và vị đang thực hành để chứng ngộ quả Dự Lưu, bậc Nhất Lai và vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, bậc Bất Lai và vị đang thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, bậc A-la-hán và vị đang thực hành để đạt đến A-la-hán quả; này Pahārāda, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tám trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này. Này Pahārāda, đây là tám pháp kỳ diệu, phi thường trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.” Hết phẩm thứ chín.