- Aṅguttara Nikāya 8.11
- 2. Mahāvagga
Verañjasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Verañjasutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Veranjà, dưới gốc cây Nalerupucimanda. Rồi Bà-la-môn Veranjà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói nên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Veranjà bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, tôi có nghe như sau: “Sa-môn Gotama không đảnh lễ, không đứng dậy, hay không mời ghế ngồi các Bà-la-môn già yếu, tuổi lớn trưởng lão, đời đã được trải qua, đã đến đoạn cuối cuộc đời”. Thưa Tôn giả Gotama, sự thể là như vậy: “Tôn giả Gotama không đảnh lễ, không đứng dậy, hay không mời ghế ngồi các Bà-la-môn già yếu, tuổi lớn trưởng lão, đời đã được trải qua, đã đến đoạn cuối cuộc đời”. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, thật là không đầy đủ.
—Này Bà-la-môn, Ta không thấy một ai trong thế giới chư Thiên, trong thế giới Ác ma, trong thế giới Phạm thiên, trong quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người mà ta có thể đảnh lễ người ấy, đứng dậy hay mời ghế ngồi. Này Bà-la-môn, nếu Như Lai đảnh lễ, hay đứng dậy, hay mời ngồi ai, thời đầu người ấy bị bể tan.
TTC 2—Tôn giả Gotama, thật thiếu ý vị!
—Này Bà-la-môn, có pháp môn này, do pháp môn ấy, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama thật thiếu ý vị”. Này Bà-la-môn, các sắc vị, thanh vị, hương vị, vị vị, xúc vị, các vị ấy, Như Lai đã đoạn tận chúng, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây là pháp môn, với pháp môn này, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama thiếu ý vị”. Nhưng Ông nói không phải với ý nghĩa này.
TTC 3“Tôn giả Gotama thiếu tài sản”. Này Bà-la-môn, có pháp môn này, do pháp môn ấy, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama thiếu tài sản”. Này Bà-la-môn, các sắc tài sản, thanh tài sản, hương tài sản, vị tài sản, xúc tài sản, các tài sản ấy, Như Lai đã đoạn tận chúng, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây là pháp môn, với pháp môn này, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama thiếu tài sản”. Nhưng Ông nói không phải với ý nghĩa này.
TTC 4“Tôn giả Gotama chủ trương thuyết không hành động”. Này Bà-la-môn, có pháp môn này, do pháp môn ấy, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama chủ trương thuyết không hành động”. Này Bà-la-môn, Ta nói không hành động về thân làm ác, về lời nói ác, về ý nghĩ ác. Ta nói không hành động về các pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây là pháp môn, với pháp môn này, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama chủ trương thuyết không hành động”. Nhưng Ông nói không phải với ý nghĩa này.
TTC 5“Tôn giả Gotama chủ trương thuyết đoạn diệt “. Này Bà-la-môn, có pháp môn này, do pháp môn ấy, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama chủ trương thuyết đoạn diệt “. Này Bà-la-môn, Ta tuyên bố đoạn diệt tham, sân, si. Ta tuyên bố đoạn diệt các ác, bất thiện pháp. Này Bà-la-môn, đây là pháp môn, với pháp môn này, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama chủ trương thuyết đoạn diệt”. Nhưng Ông nói không phải với ý nghĩa này.
TTC 6“Tôn giả Gotama là người nhàm chán”. Này Bà-la-môn, có pháp môn này, do pháp môn ấy, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama là người nhàm chán”. Này Bà-la-môn, Ta nhàm chán thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Ta nhàm chán sự thành tựu các pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây là pháp môn, với pháp môn này, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama là người nhàm chán “. Nhưng Ông nói không phải với ý nghĩa này.
TTC 7“Tôn giả Gotama là người chủ trương hư vô chủ nghĩa”. Này Bà-la-môn, có pháp môn này, do pháp môn ấy, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama là người chủ trương hư vô”. Này Bà-la-môn, Ta thuyết pháp để hư vô tham, sân, si. Ta thuyết pháp để hư vô các pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây là pháp môn, do pháp môn này, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama là người chủ trương hư vô “. Nhưng Ông nói không phải với ý nghĩa này.
TTC 8“Tôn giả Gotama là người khổ hạnh”. Này Bà-la-môn, có pháp môn này, do pháp môn ấy, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama là người khổ hạnh “. Này Bà-la-môn, Ta tuyên bố rằng cần phải khổ hạnh các pháp ác, bất thiện, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Này Bà-la-môn, với ai, các pháp ác, bất thiện, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác được tu khổ hạnh, được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể tái sanh, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai, Ta tuyên bố rằng người ấy là người khổ hạnh. Này Bà-la-môn, với Như Lai, các pháp ác, bất thiện, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác đã được tu khổ hạnh, được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể tái sanh, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây là pháp môn, do pháp môn này, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama là người khổ hạnh”. Nhưng Ông nói không phải với ý nghĩa này.
TTC 9“Tôn giả Gotama chủ trương không nhập thai”. Này Bà-la-môn, có pháp môn này, do pháp môn ấy, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama chủ trương không nhập thai”. Này Bà-la-môn, với ai mà khả năng nhập thai tái sanh trong tương lai đã đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai, Ta tuyên bố rằng người ấy chủ trương không nhập thai. Này Bà-la-môn, Như Lai đã đoạn tận khả năng nhập thai tái sanh trong tương lai đã đoạn tận, đã chặt đứt từ gốc rễ, đã làm cho như thân cây tala, đã làm cho không thể tái sanh, đã làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây là pháp môn, với pháp môn này, ai nói về Ta một cách chơn chánh có thể nói như sau: “Sa-môn Gotama chủ trương không nhập thai”. Nhưng Ông nói không phải với ý nghĩa này.
Ví như, này Bà-la-môn, có tám, mười hay mười hai cái trứng của con gà mái, được con gà mái khéo ấp nằm, ấp nóng và ấp dưỡng, và con gà nào trong những con gà con ấy, đầu tiên hết, lấy chân, móng, đầu, miệng hay mỏ phá vỡ vỏ trứng gà, ra ngoài một cách an toàn, con ấy được gọi là con trưởng hay con trẻ nhất?
—Thưa Tôn giả Gotama, con ấy phải được gọi là con trưởng. Thật vậy, thưa Tôn giả Gotama, con ấy là con trưởng trong tất cả các con gà ấy.
TTC 10—Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi Ta vì chúng sanh bị vô minh chi phối, như sanh ra từ trứng, bị bao trùm, đã phá vỡ vỏ trứng vô minh, một mình chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Giác ở đời, này Bà-la-môn, thật sự Ta là vị đệ nhất, tối thắng ở đời. Lại nữa, này Bà-la-môn, Ta tinh cần tinh tấn, không biếng nhác. Ta trú niệm, không có thất niệm, thân được khinh an, không có tháo động, định tĩnh, nhất tâm.
TTC 11Này Bà-la-môn, ly dục, ly pháp bất thiện, Ta đã chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, Ta chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ Ta trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ, mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú. Ta chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, Ta chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh.
TTC 12Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động, như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Ta nhớ đến đời sống quá khứ, một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các nét chi tiết.
Này Bà-la-môn, đây là trong canh một, Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh, bóng tối diệt, ánh sáng sanh. Do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà-la-môn, đây là sự xuất sanh thứ nhất của Ta, như con gà con ra khỏi vỏ trứng.
TTC 13Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động, như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ; những hạng chúng sanh này thành tựu thân làm ác, thành tựu miệng nói ác, thành tựu ý nghĩ ác; phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những hạng chúng sanh nào, thành tựu thân làm lành, thành tựu miệng nói lành, thành tựu ý nghĩ lành, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
Này Bà-la-môn, đây là trong canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh, bóng tối diệt, ánh sáng sanh. Do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà-la-môn, đây là sự xuất sanh thứ hai của Ta, như con gà con ra khỏi vỏ trứng.
TTC 14Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động, như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật: “Ðây là khổ tập”, biết như thật: “Ðây là Khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt”. Do biết như vậy, thấy như vậy, tâm của ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết, ta đã giải thoát. Ta biết: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”. Này Bà-la-môn, đây là trong canh cuối, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh, bóng tối diệt, ánh sáng sanh. Do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà-la-môn, đây là sự xuất sanh thứ ba của Ta, như con gà ra khỏi vỏ trứng.
TTC 15Ðược nghe nói như vậy, Bà-la-môn Veranja bạch Thế Tôn:
—Ðệ nhất là Tôn giả Gotama! Tối thắng là Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Verañja
11. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Verañjā, dưới gốc cây nimba của Naḷeru. Bấy giờ, bà-la-môn Verañja đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng Thế Tôn trao đổi lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bà-la-môn Verañja bạch với Thế Tôn điều này:
“Sutaṁ metaṁ, bho gotama: ‘na samaṇo gotamo brāhmaṇe jiṇṇe vuḍḍhe mahallake addhagate vayoanuppatte abhivādeti vā paccuṭṭheti vā āsanena vā nimantetī’ti. Tayidaṁ, bho gotama, tatheva. Na hi bhavaṁ gotamo brāhmaṇe jiṇṇe vuḍḍhe mahallake addhagate vayoanuppatte abhivādeti vā paccuṭṭheti vā āsanena vā nimanteti. Tayidaṁ, bho gotama, na sampannamevā”ti.
“Nāhaṁ taṁ, brāhmaṇa, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yamahaṁ abhivādeyyaṁ vā paccuṭṭheyyaṁ vā āsanena vā nimanteyyaṁ. Yañhi, brāhmaṇa, tathāgato abhivādeyya vā paccuṭṭheyya vā āsanena vā nimanteyya, muddhāpi tassa vipateyyā”ti.
“Worthy Gotama, I have heard that the ascetic Gotama doesn’t bow to old brahmins, the elderly and senior, who are advanced in years and have reached the final stage of life; nor does he rise in their presence or offer them a seat. And this is indeed the case, for the worthy Gotama does not bow to old brahmins, elderly and senior, who are advanced in years and have reached the final stage of life; nor does he rise in their presence or offer them a seat. This is not appropriate, worthy Gotama.”
“Brahmin, I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—for whom I should bow down or rise up or offer a seat. If the Realized One bowed down or rose up or offered a seat to anyone, their head would explode!”
“Thưa ngài Gotama, tôi có nghe điều này: ‘Sa-môn Gotama không đảnh lễ, không đứng dậy chào đón, cũng không mời ngồi các vị bà-la-môn già cả, trưởng thượng, lớn tuổi, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều.’ Thưa ngài Gotama, điều này quả đúng như vậy. Vì ngài Gotama không đảnh lễ, không đứng dậy chào đón, cũng không mời ngồi các vị bà-la-môn già cả, trưởng thượng, lớn tuổi, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều. Thưa ngài Gotama, điều này quả là không xứng đáng.” “Này bà-la-môn, trong thế giới cùng với chư thiên, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sinh cùng với các sa-môn và bà-la-môn, cùng với chư thiên và loài người, Ta không thấy một ai mà Ta nên đảnh lễ, hoặc đứng dậy chào đón, hoặc mời ngồi. Vì này bà-la-môn, nếu Như Lai đảnh lễ, hoặc đứng dậy chào đón, hoặc mời ngồi một ai, đầu của người ấy sẽ vỡ tan.”
“Arasarūpo bhavaṁ gotamo”ti.
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘arasarūpo samaṇo gotamo’ti. Ye te, brāhmaṇa, rūparasā saddarasā gandharasā rasarasā phoṭṭhabbarasā, te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘arasarūpo samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Worthy Gotama lacks taste.”
“There is, brahmin, a sense in which you could rightly say that I lack taste. For the Realized One has given up taste for sights, sounds, smells, tastes, and touches. It’s cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future. In this sense you could rightly say that I lack taste. But that’s not what you’re talking about.”
‘Này Bà-la-môn, thật sự có phương diện này, mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không có hương vị.’ Này Bà-la-môn, những hương vị của sắc, hương vị của thanh, hương vị của hương, hương vị của vị, hương vị của xúc, những thứ ấy đã được Như Lai từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, không có bản chất sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây chính là phương diện mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không có hương vị.’ Nhưng đó không phải là điều mà ông đang ám chỉ.’
“Nibbhogo bhavaṁ gotamo”ti.
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘nibbhogo samaṇo gotamo’ti. Ye te, brāhmaṇa, rūpabhogā saddabhogā gandhabhogā rasabhogā phoṭṭhabbabhogā, te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘nibbhogo samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Worthy Gotama is indelicate.”
“There is, brahmin, a sense in which you could rightly say that I’m indelicate. For the Realized One has given up delight in sights, sounds, smells, tastes, and touches. It’s cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future. In this sense you could rightly say that I’m indelicate. But that’s not what you’re talking about.”
‘Này Bà-la-môn, thật sự có phương diện này, mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không hưởng thụ.’ Này Bà-la-môn, những sự hưởng thụ sắc, sự hưởng thụ thanh, sự hưởng thụ hương, sự hưởng thụ vị, sự hưởng thụ xúc, những thứ ấy đã được Như Lai từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, không có bản chất sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây chính là phương diện mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không hưởng thụ.’ Nhưng đó không phải là điều mà ông đang ám chỉ.’
“Akiriyavādo bhavaṁ gotamo”ti.
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘akiriyavādo samaṇo gotamo’ti. Ahañhi, brāhmaṇa, akiriyaṁ vadāmi kāyaduccaritassa vacīduccaritassa manoduccaritassa; anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ akiriyaṁ vadāmi. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘akiriyavādo samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Worthy Gotama is a teacher of inaction.”
“There is, brahmin, a sense in which you could rightly say that I’m a teacher of inaction. For I teach inaction regarding bad bodily, verbal, and mental conduct, and the many kinds of unskillful things. In this sense you could rightly say that I’m a teacher of inaction. But that’s not what you’re talking about.”
‘Này Bà-la-môn, thật sự có phương diện này, mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương không hành động.’ Này Bà-la-môn, Ta tuyên bố sự không hành động đối với thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; Ta tuyên bố sự không hành động đối với nhiều loại pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây chính là phương diện mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương không hành động.’ Nhưng đó không phải là điều mà ông đang ám chỉ.’
“Ucchedavādo bhavaṁ gotamo”ti.
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘ucchedavādo samaṇo gotamo’ti. Ahañhi, brāhmaṇa, ucchedaṁ vadāmi rāgassa dosassa mohassa; anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ ucchedaṁ vadāmi. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘ucchedavādo samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Worthy Gotama is a teacher of annihilationism.”
“There is, brahmin, a sense in which you could rightly say that I’m a teacher of annihilationism. For I teach the annihilation of greed, hate, and delusion, and the many kinds of unskillful things. In this sense you could rightly say that I’m a teacher of annihilationism. But that’s not what you’re talking about.”
‘Này Bà-la-môn, thật sự có phương diện này, mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương đoạn diệt.’ Này Bà-la-môn, Ta tuyên bố sự đoạn diệt tham, sân, si; Ta tuyên bố sự đoạn diệt nhiều loại pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây chính là phương diện mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương đoạn diệt.’ Nhưng đó không phải là điều mà ông đang ám chỉ.’
“Jegucchī bhavaṁ gotamo”ti.
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘jegucchī samaṇo gotamo’ti. Ahañhi, brāhmaṇa, jigucchāmi kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena; jigucchāmi anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘jegucchī samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Worthy Gotama is disgusted.”
“There is, brahmin, a sense in which you could rightly say that I’m disgusted. For I’m disgusted by bad conduct by way of body, speech, and mind, and by attainment of the many kinds of unskillful things. In this sense you could rightly say that I’m disgusted. But that’s not what you’re talking about.”
‘Này Bà-la-môn, thật sự có phương diện này, mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay ghê tởm.’ Này Bà-la-môn, Ta ghê tởm thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; Ta ghê tởm sự thành tựu nhiều loại pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây chính là phương diện mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay ghê tởm.’ Nhưng đó không phải là điều mà ông đang ám chỉ.’
“Venayiko bhavaṁ gotamo”ti.
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘venayiko samaṇo gotamo’ti. Ahañhi, brāhmaṇa, vinayāya dhammaṁ desemi rāgassa dosassa mohassa; anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ vinayāya dhammaṁ desemi. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘venayiko samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Worthy Gotama is an exterminator.”
“There is, brahmin, a sense in which you could rightly say that I’m an exterminator. For I teach the extermination of greed, hate, and delusion, and the many kinds of unskillful things. In this sense you could rightly say that I’m an exterminator. But that’s not what you’re talking about.”
‘Này Bà-la-môn, thật sự có phương diện này, mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương hủy diệt.’ Này Bà-la-môn, Ta thuyết Pháp vì sự điều phục tham, sân, si; Ta thuyết Pháp vì sự điều phục nhiều loại pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây chính là phương diện mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương hủy diệt.’ Nhưng đó không phải là điều mà ông đang ám chỉ.’
“Tapassī bhavaṁ gotamo”ti.
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘tapassī samaṇo gotamo’ti. Tapanīyāhaṁ, brāhmaṇa, pāpake akusale dhamme vadāmi kāyaduccaritaṁ vacīduccaritaṁ manoduccaritaṁ. Yassa kho, brāhmaṇa, tapanīyā pāpakā akusalā dhammā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā, tamahaṁ ‘tapassī’ti vadāmi. Tathāgatassa kho, brāhmaṇa, tapanīyā pāpakā akusalā dhammā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘tapassī samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Worthy Gotama is a mortifier.”
“There is, brahmin, a sense in which you could rightly say that I’m a mortifier. For I say that bad conduct by way of body, speech, and mind should be mortified. I say that a mortifier is someone who has given up unskillful qualities that should be mortified. They’ve cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so that they’re unable to arise in the future. The Realized One is someone who has given up unskillful qualities that should be mortified. He has cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so that they’re unable to arise in the future. In this sense you could rightly say that I’m a mortifier. But that’s not what you’re talking about.”
‘Này Bà-la-môn, thật sự có phương diện này, mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người khổ hạnh.’ Này Bà-la-môn, Ta tuyên bố rằng các pháp ác, bất thiện là những thứ gây thiêu đốt. Này Bà-la-môn, người nào mà các pháp ác, bất thiện gây thiêu đốt đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, không có bản chất sanh khởi trong tương lai, người ấy được Ta gọi là ‘người khổ hạnh.’ Này Bà-la-môn, đối với Như Lai, các pháp ác, bất thiện gây thiêu đốt đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, không có bản chất sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây chính là phương diện mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người khổ hạnh.’ Nhưng đó không phải là điều mà ông đang ám chỉ.’
“Apagabbho bhavaṁ gotamo”ti.
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘apagabbho samaṇo gotamo’ti. Yassa kho, brāhmaṇa, āyatiṁ gabbhaseyyā punabbhavābhinibbatti pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā, tamahaṁ ‘apagabbho’ti vadāmi. Tathāgatassa kho, brāhmaṇa, āyatiṁ gabbhaseyyā punabbhavābhinibbatti pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya: ‘apagabbho samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesi.
“Worthy Gotama is gutless.”
“There is, brahmin, a sense in which you could rightly say that I am gutless. I say that a gutless person is someone who has given up future wombs and regeneration into a new state of existence. They’ve cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so that they’re unable to arise in the future. The Realized One has given up future wombs and regeneration into a new state of existence. He has cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so that they’re unable to arise in the future. In this sense you could rightly say that I am gutless. But that’s not what you’re talking about.
‘Này Bà-la-môn, thật sự có phương diện này, mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không còn nhập thai.’ Này Bà-la-môn, người nào mà trong tương lai, sự nằm trong thai mẹ và sự tái sanh trong đời mới đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, không có bản chất sanh khởi trong tương lai, người ấy được Ta gọi là ‘người không còn nhập thai.’ Này Bà-la-môn, đối với Như Lai, trong tương lai, sự nằm trong thai mẹ và sự tái sanh trong đời mới đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, không có bản chất sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây chính là phương diện mà nếu nói một cách đúng đắn theo phương diện ấy, người ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không còn nhập thai.’ Nhưng đó không phải là điều mà ông đang ám chỉ.’
Seyyathāpi, brāhmaṇa, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā. Tānāssu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni sammā pariseditāni sammā paribhāvitāni. Yo nu kho tesaṁ kukkuṭacchāpakānaṁ paṭhamataraṁ pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyya, kinti svāssa vacanīyo: ‘jeṭṭho vā kaniṭṭho vā’”ti?
“Jeṭṭho tissa, bho gotama, vacanīyo. So hi nesaṁ, bho gotama, jeṭṭho hotī”ti.
Suppose, brahmin, there was a chicken with eight or ten or twelve eggs. And she properly sat on them to keep them warm and incubated. Now, the chick that is first to break out of the eggshell with its claws and beak and hatch safely: should that be called the eldest or the youngest?”
“Worthy Gotama, that should be called the eldest. For it is the eldest among them.”
Này Bà la môn, ví như gà mái có tám, mười, hay mười hai quả trứng. Những quả trứng ấy được gà mái khéo ấp, khéo sưởi ấm, khéo bảo quản. Trong số những con gà con ấy, con nào dùng đầu móng chân hay đầu mỏ mổ vỡ vỏ trứng trước tiên và chui ra an toàn, nó phải được gọi là gì – ‘con trưởng hay con út’?”. “Thưa Tôn giả Gotama, nó phải được gọi là con trưởng. Thưa Tôn giả Gotama, vì nó là con trưởng trong số chúng”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, avijjāgatāya pajāya aṇḍabhūtāya pariyonaddhāya avijjaṇḍakosaṁ padāletvā ekova loke anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho. Ahañhi, brāhmaṇa, jeṭṭho seṭṭho lokassa.
Āraddhaṁ kho pana me, brāhmaṇa, vīriyaṁ ahosi asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggaṁ.
“In the same way, in this population lost in ignorance, swaddled in their shells, I alone have broken open the egg of ignorance and realized the supreme perfect awakening. So, brahmin, I am the eldest and the first in the world.
My energy was roused up and unflagging, my mindfulness was established and lucid, my body was tranquil and undisturbed, and my mind was immersed and unified in samādhi.
Cũng vậy, này Bà la môn, đối với chúng sanh đang trong vô minh, như ở trong trứng, bị bao bọc, Ta là người duy nhất đã phá vỡ vỏ trứng vô minh, chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ngay trong thế gian này. Này Bà la môn, Ta là bậc trưởng thượng, bậc tối thắng của thế gian. Này Bà la môn, tinh tấn của Ta đã được khơi dậy, không thụt lùi; niệm được thiết lập, không quên lãng; thân được khinh an, không nóng nảy; tâm được định tĩnh, nhất tâm.
Này Bà la môn, Ta, ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Ly hỷ, Ta trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto. So tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto. So tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward recollection of past lives. I recollected many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. I remembered: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so I recollected my many kinds of past lives, with features and details.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, Ta hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Ta nhớ rằng: ‘Tại nơi kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết ở nơi đó, Ta được sanh ra ở nơi kia. Tại đó, Ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết ở nơi đó, Ta được sanh ra ở đây’. Như vậy, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các hình thái và chi tiết.
Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, rattiyā paṭhame yāme paṭhamā vijjā adhigatā; avijjā vihatā vijjā uppannā; tamo vihato āloko uppanno, yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, paṭhamā abhinibbhidā ahosi kukkuṭacchāpakasseva aṇḍakosamhā.
This was the first knowledge, which I achieved in the first watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. This was my first breaking out, like a chick breaking out of the eggshell.
Này Bà la môn, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được trong canh đầu của đêm; vô minh được diệt trừ, minh được sanh khởi; bóng tối được diệt trừ, ánh sáng được sanh khởi, cũng như đối với người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà la môn, đó là sự phá vỡ lần thứ nhất của Ta, như con gà con phá vỡ vỏ trứng.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāmi: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā, vacīduccaritena samannāgatā, manoduccaritena samannāgatā, ariyānaṁ upavādakā, micchādiṭṭhikā, micchādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannāti. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā, vacīsucaritena samannāgatā, manosucaritena samannāgatā, ariyānaṁ anupavādakā, sammādiṭṭhikā, sammādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāmi.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, I saw sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. I understood how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, I saw sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. I understood how sentient beings pass on according to their deeds.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, Ta hướng tâm đến Thiên nhãn minh. Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy các chúng sanh chết đi, sanh lại, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, may mắn, bất hạnh. Ta hiểu rõ rằng chúng sanh đi theo nghiệp của mình: ‘Thật vậy, những chúng sanh này đã làm các ác hạnh về thân, khẩu, ý, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, theo nghiệp tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này đã làm các thiện hạnh về thân, khẩu, ý, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, theo nghiệp chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi lành, thiên giới, trên đời này’. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy các chúng sanh chết đi, sanh lại, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, may mắn, bất hạnh. Ta hiểu rõ chúng sanh đi theo nghiệp của mình.
Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, rattiyā majjhime yāme dutiyā vijjā adhigatā; avijjā vihatā vijjā uppannā; tamo vihato āloko uppanno, yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, dutiyā abhinibbhidā ahosi kukkuṭacchāpakasseva aṇḍakosamhā.
This was the second knowledge, which I achieved in the middle watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. This was my second breaking out, like a chick breaking out of the eggshell.
Này Bà la môn, đó là minh thứ hai Ta đã chứng được trong canh giữa của đêm; vô minh được diệt trừ, minh được sanh khởi; bóng tối được diệt trừ, ánh sáng được sanh khởi, cũng như đối với người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà la môn, đó là sự phá vỡ lần thứ hai của Ta, như con gà con phá vỡ vỏ trứng.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ. Tassa me evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccittha, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccittha, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccittha. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ ahosi.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti abbhaññāsiṁ.
When my mind had immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—I extended it toward knowledge of the ending of defilements. I truly understood: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. I truly understood: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’. Knowing and seeing like this, my mind was freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When it was freed, I knew it was freed.
I understood: ‘Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.’
Với tâm định tĩnh như vậy, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động, Ta hướng tâm đến lậu tận trí. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là Khổ’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là Khổ Tập’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là Khổ Diệt’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến Khổ Diệt’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là sự tập khởi của các lậu hoặc’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt của các lậu hoặc’. Ta đã thắng tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc’. Đối với Ta, người biết như vậy, thấy như vậy, tâm đã giải thoát khỏi dục lậu, tâm đã giải thoát khỏi hữu lậu, tâm đã giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã giải thoát’. Ta đã thắng tri: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’.
Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, rattiyā pacchime yāme tatiyā vijjā adhigatā; avijjā vihatā vijjā uppannā; tamo vihato āloko uppanno, yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, tatiyā abhinibbhidā ahosi kukkuṭacchāpakasseva aṇḍakosamhā”ti.
This was the third knowledge, which I achieved in the last watch of the night. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. This was my third breaking out, like a chick breaking out of the eggshell.”
Này Bà-la-môn, vào canh cuối của đêm, minh thứ ba này đã được Ta chứng đắc; vô minh đã được đoạn trừ, minh đã sanh khởi; bóng tối đã được đoạn trừ, ánh sáng đã sanh khởi, như đối với người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà-la-môn, đây là sự đột phá thứ ba của Ta, giống như gà con phá vỡ vỏ trứng.
Evaṁ vutte, verañjo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“jeṭṭho bhavaṁ gotamo, seṭṭho bhavaṁ gotamo. Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Paṭhamaṁ.
When he said this, the brahmin Verañja said to the Buddha:
“The worthy Gotama is the eldest! The worthy Gotama is the best! Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Verañja bạch với Thế Tôn lời này: ‘Tôn giả Gotama là bậc tối thượng! Tôn giả Gotama là bậc tối thắng! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, ví như người lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm người cận sự nam, đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’ Kinh thứ nhất.