- Aṅguttara Nikāya 8.10
- 1. Mettāvagga
Bản dịch
AN 8.10 — Các Ðồ Rác
Kāraṇḍavasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Campà, trên bờ hồ Gaggarà. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Vị ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, tránh né vấn đề với một vấn đề khác, hướng câu chuyện ra ngoài, và hiện tướng phẫn nộ, sân hận và bất mãn. Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, hãy đuổi người này ra! Này các Tỷ-kheo, hãy tẩn xuất người này ra! Này các Tỷ-kheo, người này đáng bị khai trừ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi các Tỷ-kheo không thấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy phạm tội, họ biết người này là như sau: “Người này là Sa-môn ô uế, họ là Sa-môn rơm rạ, là Sa-môn rác rưởi. Khi biết như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì sao? Chớ để cho người ấy làm ô uế các Tỷ kheo hiền thiện khác.
TTC 3Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một ruộng lúa mì đã đầy đủ cây lúa mì ô nhiễm, cây lúa mì rơm rạ, cây lúa mì rác rưởi được mọc lên với rễ như vậy, giống như các cây lúa mì hiền thiện khác. Với cành lá như vậy, giống như những cây lúa mì hiền thiện khác; Với lá là như vậy, giống như những cây lúa mì hiền thiện khác, cho đến khi nào đầu ngọn lúa chưa mọc ra. Khi đầu ngọn lúa mọc ra, họ biết: “Ðây là cây lúa mì hoang, đây là cây lúa mì rơm rạ, cây lúa mì rác rưởi”. Sau khi biết như vậy, họ nhổ cây lúa mì ấy lên, luôn cả rễ, và quăng cây lúa mì ấy ra khỏi ruộng lúa. Vì cớ sao? Họ nói: “Ðừng để cho cây lúa mì làm uế nhiễm các cây lúa mì hiền thiện khác”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi các Tỷ-kheo không thấy người ấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy người ấy phạm tội, họ biết được: “Người này là Sa-môn giả hiệu, Sa-môn rơm, Sa-môn rác”. Sau khi biết người ấy là như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì cớ sao? “Chớ để cho người ấy làm uế nhiễm các Tỷ kheo hiền thiện khác “.
TTC 4Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một đống lúa lớn đang được sàng quạt, tại đấy, các hột lúa nào chắc cứng, có hạt, chúng được chất thành đống một bên; còn những hạt lúa nào yếu kém, chỉ là rơm, thời được gió thổi tạt qua một bên, và người chủ, với cây chổi, quét chúng còn xa hơn nữa. Vì cớ sao? “Chớ để cho lúa ấy làm uế nhiễm các hạt lúa hiền thiện khác “.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi nào các Tỷ-kheo không thấy người ấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy người ấy phạm tội, họ biết được: “Người này là Sa-môn ô uế, Sa-môn rơm rạ, Sa-môn rác rưởi”. Sau khi biết người ấy là như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì cớ sao? “Chớ để cho người ấy làm uế nhiễm các Tỷ kheo hiền thiện khác “.
TTC 5Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần một số ống nước, lấy một cây búa sắc bén và đi vào rừng, và với cán cây búa ấy, gõ vào thân cây này hay thân cây khác. Ở đây, những cây nào chắc cứng, có lõi, khi được cán búa gõ vào, tiếng vang dội được tròn cứng. Còn những cây nào ở giữa bị mục nát, không có lõi (đầy ứ bất tịnh) nhơ bẩn, khi được cán búa gõ vào, tiếng vang dội lép xẹp. Người ấy chặt cây ấy, chặt gốc ; sau khi chặt gốc, người ấy chặt ngọn; sau khi chặt ngọn, người ấy rửa phía trong của cây cho thật sạch; khi rửa phía trong cho thật sạch rồi, người ấy nối liền các ống ấy lại.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi các Tỷ-kheo không thấy người ấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy người ấy phạm tội, họ biết được: “Người này là Sa-môn giả hiệu, Sa-môn rơm rạ, Sa-môn rác rưởi”. Sau khi biết người ấy là như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì cớ sao? “Chớ để cho người ấy làm uế nhiễm các Tỷ kheo hiền thiện khác “.
Thầy có thể biết được
Người này Thầy chung sống
Ái dục và phẫn nộ
Dèm pha và ngoan cố
Não hại và tật đố
Xan tham và man trá
Nói nhu hòa giữa người
Nói như lời Sa-môn
Che giấu, làm việc ác
Ác kiến, thiếu kính trọng
Quanh co và nói láo
Biết vậy, người làm gì?
Tất cả phải đồng tình
Cùng tránh né người ấy
Hãy tẩn xuất rơm rác
Hãy tống cổ uế trược
Từ nay hãy đuổi xa
Kẻ nói nhiều vô ích
Không phải là Sa-môn
Nhưng hiện tướng Sa-môn
Tẩn xuất kẻ ác dục
Ác hạnh, ác uy nghi
Sống với người thanh tịnh
Sống trong sạch chánh niệm
Hòa hợp biết khôn khéo
Hãy chấm dứt khổ đau.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 8.10
- 1. Love
Trash
10. Kinh Kāraṇḍava
Ekaṁ samayaṁ bhagavā campāyaṁ viharati gaggarāya pokkharaṇiyā tīre. Tena kho pana samayena bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti. So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno aññenāññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
At one time the Buddha was staying near Campā on the banks of the Gaggarā Lotus Pond. Now at that time the mendicants accused a mendicant of an offense. The accused mendicant dodged the issue, distracted the discussion with irrelevant points, and displayed annoyance, hate, and bitterness.
10. Một thời, Thế Tôn trú ở Campā, bên bờ hồ Gaggarā. Lúc bấy giờ, các Tỳ khưu chất vấn một Tỳ khưu về một tội phạm. Vị Tỳ khưu ấy, khi bị các Tỳ khưu chất vấn về tội phạm, đã lấy chuyện này che đậy chuyện kia, đưa ra chuyện ngoài lề, và biểu lộ sự tức giận, sân hận và bất mãn.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “niddhamathetaṁ, bhikkhave, puggalaṁ; niddhamathetaṁ, bhikkhave, puggalaṁ. Apaneyyeso, bhikkhave, puggalo. Kiṁ vo tena paraputtena visodhitena.
Idha, bhikkhave, ekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti. Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti: ‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti. Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti. Taṁ kissa hetu? Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Then the Buddha said to the mendicants, “Mendicants, throw this individual out! Throw this individual out! This individual should be shown the door. Why should you be vexed by an outsider?
Take a case where a certain individual looks just the same as other good-natured mendicants when going out and coming back, when looking ahead and aside, when bending and extending the limbs, and when bearing the outer robe, bowl and robes. That is, so long as the mendicants don’t notice his offense. But when the mendicants notice the offense, they know that he’s a corrupt ascetic, just useless trash. When they realize this they send him away. Why is that? So that he doesn’t corrupt good-natured mendicants.
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, hãy trục xuất người này! Này các Tỳ khưu, hãy trục xuất người này! Này các Tỳ khưu, người này đáng bị loại trừ. Các ngươi được lợi ích gì từ việc thanh lọc đệ tử của người khác này? Ở đây, này các Tỳ khưu, có hạng người mà việc đi tới, đi lui, nhìn thẳng, nhìn nghiêng, co tay, duỗi tay, mang y tăng-già-lê, bát và y cũng giống như các Tỳ khưu hiền thiện khác—cho đến khi các Tỳ khưu chưa thấy tội phạm của y. Nhưng khi các Tỳ khưu thấy tội phạm của y, họ biết y như sau: ‘Đây là kẻ làm ô uế Sa-môn, là Sa-môn trấu lép, là Sa-môn rác rưởi’. Sau khi biết y như vậy, họ trục xuất y ra ngoài. Vì sao vậy? ‘Để y không làm hư hỏng các Tỳ khưu hiền thiện khác’!”
Seyyathāpi, bhikkhave, sampanne yavakaraṇe yavadūsī jāyetha yavapalāpo yavakāraṇḍavoti. Tassa tādisaṁyeva mūlaṁ hoti, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ yavānaṁ; tādisaṁyeva nāḷaṁ hoti, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ yavānaṁ; tādisaṁyeva pattaṁ hoti, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ yavānaṁ—yāvassa sīsaṁ na nibbattati. Yato ca khvassa sīsaṁ nibbattati, tamenaṁ evaṁ jānanti: ‘yavadūsīvāyaṁ yavapalāpo yavakāraṇḍavo’ti. Tamenaṁ iti viditvā samūlaṁ uppāṭetvā bahiddhā yavakaraṇassa chaḍḍenti. Taṁ kissa hetu? Mā aññe bhaddake yave dūsesīti.
Suppose in a growing field of barley some bad barley appeared, just useless trash. Its roots, stem, and leaves would look just the same as the healthy barley. That is, so long as the head doesn’t appear. But when the head appears, they know that it’s bad barley, just useless trash. When they realize this they pull it up by the roots and throw it outside the field. Why is that? So that it doesn’t spoil the good barley.
“Này các Tỳ khưu, ví như trong một ruộng lúa mạch tốt tươi, có loại cỏ dại làm hại lúa mạch, cỏ trấu lép, cỏ rác mọc lên. Rễ của nó cũng giống như của những cây lúa mạch tốt khác; thân của nó cũng giống như của những cây lúa mạch tốt khác; lá của nó cũng giống như của những cây lúa mạch tốt khác—cho đến khi bông của nó chưa trổ ra. Nhưng khi bông của nó trổ ra, người ta biết nó như sau: ‘Đây là cỏ dại làm hại lúa mạch, là cỏ trấu lép, là cỏ rác’. Sau khi biết nó như vậy, họ nhổ nó lên tận gốc và vứt ra ngoài ruộng lúa mạch. Vì sao vậy? ‘Để nó không làm hư hỏng những cây lúa mạch tốt khác’!”
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti. Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti: ‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti. Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti. Taṁ kissa hetu? Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
In the same way, take a case where a certain individual looks just the same as other good-natured mendicants when going out and coming back, when looking ahead and aside, when bending and extending the limbs, and when bearing the outer robe, bowl and robes. That is, so long as the mendicants don’t notice his offense. But when the mendicants notice the offense, they know that he’s a corrupt ascetic, just useless trash. When they realize this they send him away. Why is that? So that he doesn’t corrupt good-natured mendicants.
“Này các tỳ khưu, cũng tương tự như thế, ở đây, có hạng người mà việc đi tới, đi lui, nhìn thẳng, nhìn nghiêng, co tay, duỗi tay, việc mang y tăng-già-lê, bát, và y của vị ấy cũng giống như của các tỳ khưu thiện lành khác, chừng nào các tỳ khưu chưa nhìn thấy tội của vị ấy. Và này các tỳ khưu, khi nào các tỳ khưu nhìn thấy tội của vị ấy, họ biết về vị ấy như sau: ‘Vị này là kẻ làm ô uế hàng sa-môn, là sa-môn trấu lép, là sa-môn rác rưởi.’ Sau khi biết về vị ấy như vậy, họ trục xuất vị ấy ra khỏi giáo pháp. Vì lý do gì? Để vị ấy không làm hư hỏng các tỳ khưu thiện lành khác.”
Seyyathāpi, bhikkhave, mahato dhaññarāsissa phuṇamānassa tattha yāni tāni dhaññāni daḷhāni sāravantāni tāni ekamantaṁ puñjaṁ hoti, yāni pana tāni dhaññāni dubbalāni palāpāni tāni vāto ekamantaṁ apavahati. Tamenaṁ sāmikā sammajjaniṁ gahetvā bhiyyoso mattāya apasammajjanti. Taṁ kissa hetu? Mā aññe bhaddake dhaññe dūsesīti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti. Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti: ‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti. Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti. Taṁ kissa hetu? Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Suppose that a large heap of grain is being winnowed. The grains that are firm and solid form a heap on one side. And the grains that are flimsy and insubstantial are blown over to the other side. The owners take a broom and sweep them even further away. Why is that? So that it doesn’t spoil the good grain. In the same way, take a case where a certain individual looks just the same as other good-natured mendicants when going out and coming back, when looking ahead and aside, when bending and extending the limbs, and when bearing the outer robe, bowl and robes. That is, so long as the mendicants don’t notice his offense. But when the mendicants notice the offense, they know that he’s a corrupt ascetic, just useless trash. When they realize this they send him away. Why is that? So that he doesn’t corrupt good-natured mendicants.
“Này các tỳ khưu, ví như khi đang rê một đống lúa lớn, những hạt lúa chắc, có lõi thì tụ lại thành một đống ở một bên; còn những hạt lúa yếu, lép thì bị gió thổi dạt sang một bên. Người chủ lấy chổi quét chúng đi nhiều hơn nữa. Vì lý do gì? Để chúng không làm hư hỏng những hạt lúa tốt khác! Này các tỳ khưu, cũng tương tự như thế, ở đây, có hạng người mà việc đi tới, đi lui, nhìn thẳng, nhìn nghiêng, co tay, duỗi tay, việc mang y tăng-già-lê, bát, và y của vị ấy cũng giống như của các tỳ khưu thiện lành khác, chừng nào các tỳ khưu chưa nhìn thấy tội của vị ấy. Và này các tỳ khưu, khi nào các tỳ khưu nhìn thấy tội của vị ấy, họ biết về vị ấy như sau: ‘Vị này là kẻ làm ô uế hàng sa-môn, là sa-môn trấu lép, là sa-môn rác rưởi.’ Sau khi biết về vị ấy như vậy, họ trục xuất vị ấy ra khỏi giáo pháp. Vì lý do gì? Để vị ấy không làm hư hỏng các tỳ khưu thiện lành khác.”
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso udapānapanāḷiyatthiko tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya. So yaṁ yadeva rukkhaṁ kuṭhāripāsena ākoṭeyya tattha yāni tāni rukkhāni daḷhāni sāravantāni tāni kuṭhāripāsena ākoṭitāni kakkhaḷaṁ paṭinadanti; yāni pana tāni rukkhāni antopūtīni avassutāni kasambujātāni tāni kuṭhāripāsena ākoṭitāni daddaraṁ paṭinadanti. Tamenaṁ mūle chindati, mūle chinditvā agge chindati, agge chinditvā anto suvisodhitaṁ visodheti, anto suvisodhitaṁ visodhetvā udapānapanāḷiṁ yojeti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti. Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti: ‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti. Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti. Taṁ kissa hetu? Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Suppose a man needs an irrigation gutter for a well. He’d take a sharp axe and enter the wood, where he’d knock various trees with the axe. The trees that were firm and solid made a cracking sound. But the trees that were rotten inside, decomposing and decayed, made a thud. He’d cut down such a tree at the root, lop off the crown, and thoroughly clear out the insides. Then he’d use it as an irrigation gutter for the well. In the same way, take a case where a certain individual looks just the same as other good-natured mendicants when going out and coming back, when looking ahead and aside, when bending and extending the limbs, and when bearing the outer robe, bowl and robes. That is, so long as the mendicants don’t notice his offense. But when the mendicants notice the offense, they know that he’s a corrupt ascetic, just useless trash. When they realize this they send him away. Why is that? So that he doesn’t corrupt good-natured mendicants.
“Này các tỳ khưu, ví như một người đàn ông cần một máng nước giếng, cầm một cái rìu sắc bén đi vào rừng. Vị ấy dùng sống rìu gõ vào bất cứ cây nào. Ở đó, những cây chắc, có lõi, khi bị sống rìu gõ vào, liền phát ra tiếng kêu cứng rắn; còn những cây bên trong bị mục, thấm nước, trở thành rác rưởi, khi bị sống rìu gõ vào, liền phát ra tiếng kêu rỗng tuếch. Vị ấy chặt cây đó ở gốc, sau khi chặt ở gốc lại chặt ở ngọn, sau khi chặt ở ngọn lại khoét rỗng bên trong cho thật sạch, sau khi khoét rỗng bên trong cho thật sạch, vị ấy dùng nó làm máng nước giếng. Này các tỳ khưu, cũng tương tự như thế, ở đây, có hạng người mà việc đi tới, đi lui, nhìn thẳng, nhìn nghiêng, co tay, duỗi tay, việc mang y tăng-già-lê, bát, và y của vị ấy cũng giống như của các tỳ khưu thiện lành khác, chừng nào các tỳ khưu chưa nhìn thấy tội của vị ấy. Và này các tỳ khưu, khi nào các tỳ khưu nhìn thấy tội của vị ấy, họ biết về vị ấy như sau: ‘Vị này là kẻ làm ô uế hàng sa-môn, là sa-môn trấu lép, là sa-môn rác rưởi.’ Sau khi biết về vị ấy như vậy, họ trục xuất vị ấy ra khỏi giáo pháp. Vì lý do gì? Để vị ấy không làm hư hỏng các tỳ khưu thiện lành khác.”
Saṁvāsāyaṁ vijānātha, pāpiccho kodhano iti; Makkhī thambhī paḷāsī ca, issukī maccharī saṭho.
By living together, know that they’re irritable, with corrupt wishes, offensive, stubborn, and contemptuous, jealous, stingy, and devious.
“Qua việc chung sống, hãy biết rằng: (vị ấy) có ác dục, hay phẫn nộ; hay che giấu lỗi, cứng đầu, hay ganh đua, tật đố, keo kiệt, xảo trá.”
Santavāco janavati, samaṇo viya bhāsati; Raho karoti karaṇaṁ, pāpadiṭṭhi anādaro.
They speak to people with a voice so smooth, just like an ascetic. But they act in secret, with their bad views and their lack of regard for others.
“Giữa đại chúng, lời nói ngọt ngào, nói năng như một sa-môn; ở nơi kín đáo lại làm điều (xấu), có tà kiến, không kính trọng.”
Saṁsappī ca musāvādī, taṁ viditvā yathātathaṁ; Sabbe samaggā hutvāna, abhinibbajjayātha naṁ.
You should recognize them for what they are: a creep and liar. Then having gathered in harmony, you should expel them.
“Hay dao động và nói dối, sau khi biết rõ vị ấy đúng như thật; tất cả hãy hòa hợp với nhau, và trục xuất vị ấy đi.”
Kāraṇḍavaṁ niddhamatha, Kasambuṁ apakassatha; Tato palāpe vāhetha, Assamaṇe samaṇamānine.
Throw out the trash! Get rid of the rubbish! And sweep away the scraps—they’re not ascetics, they just think they are.
“Hãy loại bỏ kẻ rác rưởi, hãy kéo đi kẻ cặn bã; sau đó, hãy đuổi đi những kẻ trấu lép, những kẻ không phải sa-môn mà tự cho mình là sa-môn.”
Niddhamitvāna pāpicche, pāpaācāragocare; Suddhāsuddhehi saṁvāsaṁ, kappayavho patissatā; Tato samaggā nipakā, dukkhassantaṁ karissathā”ti.
Dasamaṁ.
When you’ve thrown out those of corrupt wishes, of bad behavior and alms-resort, dwell in communion, ever mindful, the pure with the pure. Then in harmony, alert, you’ll make an end of suffering.”
“Sau khi loại bỏ những kẻ có ác dục, có hành vi và cảnh giới xấu xa; những vị trong sạch hãy sống chung với những vị trong sạch, với lòng tôn kính. Rồi sau đó, trong sự hòa hợp, trí tuệ, các ngươi sẽ chấm dứt khổ đau.” Kinh thứ mười.
Mettāvaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Từ Bi, thứ nhất.
Mettaṁ paññā ca dve piyā, dve lokā dve vipattiyo; Devadatto ca uttaro, nando kāraṇḍavena cāti.
Kinh Từ Bi, kinh Trí Tuệ, hai kinh Thân Ái, hai kinh Thế Gian, hai kinh Bất Hạnh; kinh Devadatta, kinh Uttara, kinh Nanda, và kinh Rác Rưởi.