- Aṅguttara Nikāya 7.73
- 7. Mahāvagga
Bản dịch
AN 7.73 — Sunetta
Sunettasutta
TTC 1—Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo Sư tên là Sunetta, thuộc ngoại đạo, đã ly tham đối với các dục. Ðạo sư Sunetta, này các Tỷ-kheo, có hàng trăm đệ tử. Ðạo sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử để cọng trú với thế giới Phạm thiên. Này các Tỷ-kheo, những ai tâm không hoan hỷ với cuộc thuyết pháp của Ðạo sư Sunetta để cọng trú với thế giới Phạm thiên, khi thân hoại mạng chung, họ phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, còn những ai tâm hoan hỷ với cuộc thuyết pháp của Ðạo sư Sunetta để cọng trú với thế giới Phạm thiên, khi thân hoại mạng chung, họ được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
TTC 2Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo sư tên là Mùgapakkha… có Ðạo sư tên là Aranemi… có Ðạo sư tên là Kuddàla… có Ðạo sư tên là Hatthipàla… có Ðạo sư tên là Jotipàla… có Ðạo sư tên là Araka. Ðạo sư Araka thuộc ngoại đạo đã ly tham đối với các dục. Ðạo sư Araka, này các Tỷ-kheo, có hàng trăm đệ tử. Ðạo sư Araka thuyết pháp cho các đệ tử cọng trú với thế giới Phạm thiên. Này các Tỷ-kheo, những ai tâm không hoan hỷ với cuộc thuyết pháp của Ðạo sư Araka để cọng trú với thế giới Phạm thiên, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, còn những ai tâm hoan hỷ với cuộc thuyết pháp của Ðạo sư Araka để cọng trú với thế giới Phạm thiên, khi thân hoại mạng chung, họ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
TTC 3Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, ai với tâm ác quở trách, phỉ báng, bảy bậc Ðạo sư này thuộc ngoại đạo đã ly tham đối với các dục, được hàng trăm chúng đệ tử đoanh vây, người ấy có tạo ra nhiều điều vô phước không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, ai với tâm quở trách, phỉ báng bảy Ðạo sư này, thuộc ngoại đạo, đã ly tham đối với các dục, được hàng trăm chúng đệ tử đoanh vây, người ấy tạo ra nhiều điều vô phước; còn ai với ác tâm, quở trách phỉ báng một bậc đầy đủ chánh kiến, do vậy, người này tạo ra nhiều điều vô phước hơn nữa. Vì cớ sao? Ta tuyên bố không kham nhẫn một người như vậy, từ trong ra ngoài, đối với các vị đồng Phạm hạnh. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ không có tâm ác độc đối với các vị đồng Phạm hạnh”. Này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.73
- 7. The Great Chapter
About Sunetta
9. Kinh Sunetta
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sunetto nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo. Sunettassa kho pana, bhikkhave, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ. Sunetto satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi. Ye kho pana, bhikkhave, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni nappasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjiṁsu. Ye kho pana, bhikkhave, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjiṁsu.
“Once upon a time, mendicants, there was a teacher named Sunetta. He was a religious founder and was free of desire for sensual pleasures. He had many hundreds of disciples. He taught them a Dhamma for rebirth in the company of Divinity. Those lacking confidence in Sunetta were—when their body broke up, after death—reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. Those full of confidence in Sunetta were—when their body broke up, after death—reborn in a good place, a heavenly realm.
73. “Này các tỳ khưu, thuở xưa, có một vị đạo sư tên là Sunetta, một người sáng lập giáo phái, đã ly tham trong các dục. Này các tỳ khưu, vị đạo sư Sunetta có hàng trăm đệ tử. Đạo sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử để được sanh cộng trú với Phạm thiên. Này các tỳ khưu, những đệ tử nào, khi đạo sư Sunetta thuyết pháp để được sanh cộng trú với Phạm thiên, tâm không hoan hỷ, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các tỳ khưu, những đệ tử nào, khi đạo sư Sunetta thuyết pháp để được sanh cộng trú với Phạm thiên, tâm có hoan hỷ, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, thiên giới.”
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, mūgapakkho nāma satthā ahosi …pe… aranemi nāma satthā ahosi …pe… kuddālako nāma satthā ahosi …pe… hatthipālo nāma satthā ahosi …pe… jotipālo nāma satthā ahosi …pe… arako nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo. Arakassa kho pana, bhikkhave, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ. Arako nāma satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi. Ye kho pana, bhikkhave, arakassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni nappasādesuṁ, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjiṁsu. Ye kho pana, bhikkhave, arakassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni pasādesuṁ, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjiṁsu.
Once upon a time, there was a teacher named Mūgapakkha … Aranemi … Kuddālaka … Hatthipāla … Jotipāla … Araka. He was a religious founder and was free of desire for sensual pleasures. He had many hundreds of disciples. He taught them a Dhamma for rebirth in the company of Divinity. Those lacking confidence in Araka were—when their body broke up, after death—reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. Those full of confidence in Araka were—when their body broke up, after death—reborn in a good place, a heavenly realm.
“Này các tỳ khưu, thuở xưa, có một vị đạo sư tên là Mūgapakkha... Này các tỳ khưu, thuở xưa, có một vị đạo sư tên là Aranemi... Này các tỳ khưu, thuở xưa, có một vị đạo sư tên là Kuddālaka... Này các tỳ khưu, thuở xưa, có một vị đạo sư tên là Hatthipāla... Này các tỳ khưu, thuở xưa, có một vị đạo sư tên là Jotipāla... Này các tỳ khưu, thuở xưa, có một vị đạo sư tên là Araka, một người sáng lập giáo phái, đã ly tham trong các dục. Này các tỳ khưu, vị đạo sư Araka có hàng trăm đệ tử. Đạo sư Araka thuyết pháp cho các đệ tử để được sanh cộng trú với Phạm thiên. Này các tỳ khưu, những đệ tử nào, khi đạo sư Araka thuyết pháp để được sanh cộng trú với Phạm thiên, tâm không hoan hỷ, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các tỳ khưu, những đệ tử nào, khi đạo sư Araka thuyết pháp để được sanh cộng trú với Phạm thiên, tâm có hoan hỷ, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, thiên giới.”
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yo ime satta satthāre titthakare kāmesu vītarāge anekasataparivāre sasāvakasaṅghe paduṭṭhacitto akkoseyya paribhāseyya, bahuṁ so apuññaṁ pasaveyyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yo, bhikkhave, ime satta satthāre titthakare kāmesu vītarāge anekasataparivāre sasāvakasaṅghe paduṭṭhacitto akkoseyya paribhāseyya, bahuṁ so apuññaṁ pasaveyya. Yo ekaṁ diṭṭhisampannaṁ puggalaṁ paduṭṭhacitto akkosati paribhāsati, ayaṁ tato bahutaraṁ apuññaṁ pasavati. Taṁ kissa hetu? Nāhaṁ, bhikkhave, ito bahiddhā evarūpiṁ khantiṁ vadāmi yathāmaṁ sabrahmacārīsu.
What do you think, mendicants? If someone with malicious intent were to abuse and insult these seven teachers with their hundreds of followers, would they not brim with much wickedness?”
“Yes, sir.”
“They would indeed. But someone who abuses and insults a single individual accomplished in view with malicious intent brims even more with wickedness. Why is that? I say that any injury done by those outside of the Buddhist community does not compare with what is done to one’s own spiritual companions.
“Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ thế nào? Người nào với tâm sân hận mắng nhiếc, phỉ báng bảy vị đạo sư này, những người sáng lập giáo phái, đã ly tham trong các dục, có hàng trăm quyến thuộc, cùng với chúng đệ tử, người ấy có tạo nhiều ác nghiệp không?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” – “Này các tỳ khưu, người nào với tâm sân hận mắng nhiếc, phỉ báng bảy vị đạo sư này, những người sáng lập giáo phái, đã ly tham trong các dục, có hàng trăm quyến thuộc, cùng với chúng đệ tử, người ấy tạo nhiều ác nghiệp. Người nào với tâm sân hận mắng nhiếc, phỉ báng một người đã đầy đủ chánh kiến, người này tạo ra ác nghiệp nhiều hơn người kia. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, Ta không nói rằng có sự kham nhẫn như vậy ở ngoài giáo pháp này, giống như đối với các vị đồng phạm hạnh.”
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na no sabrahmacārīsu cittāni paduṭṭhāni bhavissantī’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Navamaṁ.
So you should train like this: ‘We will have no malicious intent for our spiritual companions.’ That’s how you should train.”
“Này các tỳ khưu, vì vậy, ở đây các ngươi phải học tập như sau: ‘Tâm của chúng ta sẽ không khởi lên sân hận đối với các vị đồng phạm hạnh.’ Này các tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy. Hết bài kinh thứ chín.