- Aṅguttara Nikāya 7.52
- 5. Mahāyaññavagga
Bản dịch
AN 7.52 — Bố Thí
Dānamahapphalasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn ở Campà, trên bờ hồ Gaggara. Bấy giờ có nhiều cư sĩ ở Campà đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ ấy thưa với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Tôn giả, đã lâu lắm, chúng con không được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn. Lành thay, thưa Tôn giả, nếu nay chúng con được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn!
—Vậy này chư Hiền, hãy đến trong ngày lễ Trai giới (uposatha), các Thầy sẽ được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn.
—Thưa vâng, thưa Tôn giả!
Các nam cư sĩ ở Campà ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta, thân bên hữu hướng về Tôn giả rồi ra đi. Rồi các nam cư sĩ ở Campà, đến ngày lễ Trai giới, đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi đứng một bên. Rồi Tôn giả Sàriputta cùng với các nam cư sĩ ở Campà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
TTC 2—Có thể, bạch Thế Tôn, ở đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn. Nhưng bạch Thế Tôn, có thể ở đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn.
—Này Sàriputta, có thể ở đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn. Có thể, này Sàriputta, ở đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn.
TTC 3—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn?
—Ở đây, này Sàriputta, có người bố thí với tâm mong cầu, bố thí với tâm trói buộc (về kết quả), bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với ý nghĩ: “Tôi sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”. Vị ấy bố thí như vậy cho các Sa-môn, Bà-la-môn, bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, hương liệu, giường nằm, những trú xứ, đèn đuốc. Thầy nghĩ thế nào, này Sàriputta, ở đây có thể có hạng người bố thí như vậy không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Ở đây, này Sàriputta, có hạng người bố thí với tâm mong cầu, bố thí với tâm trói buộc, bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với ý nghĩ: “Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”. Vị ấy bố thí như vậy, khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Bốn thiên vương. Và vị ấy, khi nghiệp được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành “vị trở lui lại”, trở lui trạng thái này.
TTC 4Ở đây, này Sàriputta, có người bố thí không với tâm cầu mong, bố thí không với tâm trói buộc, bố thí không với mong cầu được chất chứa, bố thí không với ý nghĩ: “Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”, bố thí không với ý nghĩ: “Lành thay, sự bố thí”, bố thí không với ý nghĩ: “Cái này đã được cho trong đời quá khứ, đã được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia đình này bị bỏ quên”, bố thí không với ý nghĩ: “Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không xứng đáng là người nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn”, bố thí không với ý nghĩ: “Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí này”, bố thí không với ý nghĩ: “Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên”. Nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm. Và đối với Sa-môn hay Bà-la-môn, vị ấy bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, hương liệu, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Thầy nghĩ thế nào, này Sàriputta, ở đây, có hạng người có thể bố thí như vậy không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này Sàriputta, ở đây, ai bố thí không với tâm cầu mong, bố thí không với tâm trói buộc, bố thí không với mong cầu được chất chứa, bố thí không với ý nghĩ: “Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau”, bố thí không với ý nghĩ: “Lành thay, sự bố thí”, bố thí không với ý nghĩ: “Cái này đã được cho trong đời quá khứ, đã được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia đình này bị bỏ quên”, bố thí không với ý nghĩ: “Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không xứng đáng là người nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn”, bố thí không với ý nghĩ: “Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angìrasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí này”, bố thí không với ý nghĩ: “Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên”. Nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm. Do vị ấy bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Và khi vị ấy, nghiệp được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui trạng thái này.
Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, khiến cho ở đây, một hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn. Này Sàriputta, nhưng đây cũng là nhân, là duyên khiến cho ở đây, có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 7.52
- 5. A Great Sacrifice
A Very Fruitful Gift
9. Kinh Bố Thí Quả Lớn
Ekaṁ samayaṁ bhagavā campāyaṁ viharati gaggarāya pokkharaṇiyā tīre.
Atha kho sambahulā campeyyakā upāsakā yena āyasmā sāriputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho campeyyakā upāsakā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavocuṁ: “cirassutā no, bhante, bhagavato sammukhā dhammīkathā. Sādhu mayaṁ, bhante, labheyyāma bhagavato sammukhā dhammiṁ kathaṁ savanāyā”ti.
“Tenahāvuso, tadahuposathe āgaccheyyātha, appeva nāma labheyyātha bhagavato sammukhā dhammiṁ kathaṁ savanāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho campeyyakā upāsakā āyasmato sāriputtassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
At one time the Buddha was staying near Campā on the banks of the Gaggarā Lotus Pond.
Then several lay followers of Campā went to Venerable Sāriputta, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, it’s been a long time since we’ve heard a Dhamma talk from the Buddha. It would be good if we got to hear a Dhamma talk from the Buddha.”
“Well then, reverends, come on the next sabbath day. Hopefully you’ll get to hear a Dhamma talk from the Buddha.”
“Yes, sir” they replied. Then they rose from their seats, bowed to Sāriputta, and respectfully circled him before leaving.
52. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Campā, bên bờ hồ sen Gaggarā. Rồi, đông đảo các cận sự nam ở Campā đi đến chỗ trưởng lão Sāriputta; sau khi đến, họ đảnh lễ trưởng lão Sāriputta rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các cận sự nam ở Campā bạch với trưởng lão Sāriputta rằng: ‘Thưa ngài, đã lâu chúng con không được nghe pháp thoại từ kim khẩu của đức Thế Tôn. Lành thay, thưa ngài, nếu chúng con được nghe pháp thoại từ kim khẩu của đức Thế Tôn.’ ‘Nếu vậy, này các hiền hữu, vào ngày lễ Uposatha, hãy đến, may ra các vị sẽ được nghe pháp thoại từ kim khẩu của đức Thế Tôn.’ ‘Vâng, thưa ngài.’ Các cận sự nam ở Campā đã vâng đáp trưởng lão Sāriputta, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ trưởng lão Sāriputta, đi nhiễu quanh bên phải rồi ra về.
Atha kho campeyyakā upāsakā tadahuposathe yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Atha kho āyasmā sāriputto tehi campeyyakehi upāsakehi saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
Then on the next sabbath the lay followers of Campā went to Venerable Sāriputta, bowed, and stood to one side. Then they went together with Sāriputta to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Sāriputta said to the Buddha:
Rồi, vào ngày lễ Uposatha, các cận sự nam ở Campā đi đến chỗ trưởng lão Sāriputta; sau khi đến, họ đảnh lễ trưởng lão Sāriputta rồi đứng một bên. Rồi, trưởng lão Sāriputta cùng với các cận sự nam ở Campā ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, trưởng lão Sāriputta bạch với đức Thế Tôn rằng:
“Siyā nu kho, bhante, idhekaccassa tādisaṁyeva dānaṁ dinnaṁ na mahapphalaṁ hoti na mahānisaṁsaṁ; siyā pana, bhante, idhekaccassa tādisaṁyeva dānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsan”ti?
“Siyā, sāriputta, idhekaccassa tādisaṁyeva dānaṁ dinnaṁ na mahapphalaṁ hoti na mahānisaṁsaṁ; siyā pana, sāriputta, idhekaccassa tādisaṁyeva dānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsan”ti.
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo yena midhekaccassa tādisaṁyeva dānaṁ dinnaṁ na mahapphalaṁ hoti na mahānisaṁsaṁ; ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo yena midhekaccassa tādisaṁyeva dānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsan”ti?
“Sir, could it be that someone gives a gift and it is not very fruitful or beneficial, while someone else gives exactly the same gift and it is very fruitful and beneficial?”
“Indeed it could, Sāriputta.”
“Sir, what is the cause, what is the reason for this?”
“Bạch Thế Tôn, có thể có trường hợp ở đây, một người bố thí một vật thí tương tự nhưng không có quả lớn, không có lợi ích lớn; và bạch Thế Tôn, cũng có thể có trường hợp ở đây, một người bố thí một vật thí tương tự nhưng có quả lớn, có lợi ích lớn chăng?” “Này Sāriputta, có thể có trường hợp ở đây, một người bố thí một vật thí tương tự nhưng không có quả lớn, không có lợi ích lớn; và này Sāriputta, cũng có thể có trường hợp ở đây, một người bố thí một vật thí tương tự nhưng có quả lớn, có lợi ích lớn.” “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây, một người bố thí một vật thí tương tự nhưng không có quả lớn, không có lợi ích lớn? Và bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây, một người bố thí một vật thí tương tự nhưng có quả lớn, có lợi ích lớn?”
“Idha, sāriputta, ekacco sāpekho dānaṁ deti, patibaddhacitto dānaṁ deti, sannidhipekho dānaṁ deti, ‘imaṁ pecca paribhuñjissāmī’ti dānaṁ deti. So taṁ dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, sāriputta, dadeyya idhekacco evarūpaṁ dānan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sāriputta, take the case of a someone who gives a gift as an investment, their mind tied to it, expecting to keep it, thinking ‘I’ll enjoy this in my next life.’ They give to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. What do you think, Sāriputta, don’t some people give gifts in this way?”
“Yes, sir.”
“Này Sāriputta, ở đây có người bố thí với hy vọng, bố thí với tâm trói buộc, bố thí với mong cầu tích trữ, bố thí với ý nghĩ: ‘Sau khi chết, tôi sẽ hưởng thụ cái này.’ Vị ấy bố thí cho sa-môn hay bà-la-môn các vật thí như: đồ ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, thuốc xoa, giường nằm, trú sở, đèn dầu. Này Sāriputta, ngươi nghĩ thế nào, có phải ở đây có người bố thí một vật thí như vậy không?” “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
“Tatra, sāriputta, yvāyaṁ sāpekho dānaṁ deti, patibaddhacitto dānaṁ deti, sannidhipekho dānaṁ deti, ‘imaṁ pecca paribhuñjissāmī’ti dānaṁ deti. So taṁ dānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. So taṁ kammaṁ khepetvā taṁ iddhiṁ taṁ yasaṁ taṁ ādhipaccaṁ āgāmī hoti āgantā itthattaṁ.
“Sāriputta, someone who gives a gift as an investment, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the gods of the four great kings. When that deed, success, glory, and sovereignty is spent they return to this place.
“Này Sāriputta, trong trường hợp đó, người nào bố thí với hy vọng, bố thí với tâm trói buộc, bố thí với mong cầu tích trữ, bố thí với ý nghĩ: ‘Sau khi chết, tôi sẽ hưởng thụ cái này,’ sau khi bố thí vật thí ấy, khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Sau khi nghiệp ấy, thần lực ấy, danh tiếng ấy, quyền lực ấy đã hết, vị ấy trở thành người quay lại, trở về trạng thái này.”
Idha pana, sāriputta, ekacco na heva kho sāpekho dānaṁ deti, na patibaddhacitto dānaṁ deti, na sannidhipekho dānaṁ deti, na ‘imaṁ pecca paribhuñjissāmī’ti dānaṁ deti; api ca kho ‘sāhu dānan’ti dānaṁ deti …pe….
Napi ‘sāhu dānan’ti dānaṁ deti; api ca kho ‘dinnapubbaṁ katapubbaṁ pitupitāmahehi na arahāmi porāṇaṁ kulavaṁsaṁ hāpetun’ti dānaṁ deti …pe….
Napi ‘dinnapubbaṁ katapubbaṁ pitupitāmahehi na arahāmi porāṇaṁ kulavaṁsaṁ hāpetun’ti dānaṁ deti; api ca kho ‘ahaṁ pacāmi, ime na pacanti, nārahāmi pacanto apacantānaṁ dānaṁ adātun’ti dānaṁ deti …pe….
Napi ‘ahaṁ pacāmi, ime na pacanti, nārahāmi pacanto apacantānaṁ dānaṁ adātun’ti dānaṁ deti; api ca kho ‘yathā tesaṁ pubbakānaṁ isīnaṁ tāni mahāyaññāni ahesuṁ, seyyathidaṁ—aṭṭhakassa vāmakassa vāmadevassa vessāmittassa yamadaggino aṅgīrasassa bhāradvājassa vāseṭṭhassa kassapassa bhaguno, evaṁ me ayaṁ dānasaṁvibhāgo bhavissatī’ti dānaṁ deti …pe….
Napi ‘yathā tesaṁ pubbakānaṁ isīnaṁ tāni mahāyaññāni ahesuṁ, seyyathidaṁ—aṭṭhakassa vāmakassa vāmadevassa vessāmittassa yamadaggino aṅgīrasassa bhāradvājassa vāseṭṭhassa kassapassa bhaguno, evaṁ me ayaṁ dānasaṁvibhāgo bhavissatī’ti dānaṁ deti; api ca kho ‘imaṁ me dānaṁ dadato cittaṁ pasīdati, attamanatā somanassaṁ upajāyatī’ti dānaṁ deti …pe….
Napi ‘imaṁ me dānaṁ dadato cittaṁ pasīdati, attamanatā somanassaṁ upajāyatī’ti dānaṁ deti; api ca kho cittālaṅkāracittaparikkhāraṁ dānaṁ deti. So taṁ dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. Taṁ kiṁ maññasi, sāriputta, dadeyya idhekacco evarūpaṁ dānan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tatra, sāriputta, yvāyaṁ na heva sāpekho dānaṁ deti; na patibaddhacitto dānaṁ deti; na sannidhipekho dānaṁ deti; na ‘imaṁ pecca paribhuñjissāmī’ti dānaṁ deti; napi ‘sāhu dānan’ti dānaṁ deti; napi ‘dinnapubbaṁ katapubbaṁ pitupitāmahehi na arahāmi porāṇaṁ kulavaṁsaṁ hāpetun’ti dānaṁ deti; napi ‘ahaṁ pacāmi, ime na pacanti, nārahāmi pacanto apacantānaṁ dānaṁ adātun’ti dānaṁ deti; napi ‘yathā tesaṁ pubbakānaṁ isīnaṁ tāni mahāyaññāni ahesuṁ, seyyathidaṁ—aṭṭhakassa vāmakassa vāmadevassa vessāmittassa yamadaggino aṅgīrasassa bhāradvājassa vāseṭṭhassa kassapassa bhaguno, evaṁ me ayaṁ dānasaṁvibhāgo bhavissatī’ti dānaṁ deti; napi ‘imaṁ me dānaṁ dadato cittaṁ pasīdati, attamanatā somanassaṁ upajāyatī’ti dānaṁ deti; api ca kho cittālaṅkāracittaparikkhāraṁ dānaṁ deti.
Next, take the case of a someone who gives a gift not as an investment, their mind not tied to it, not expecting to keep it, and not thinking, ‘I’ll enjoy this in my next life.’ But they give a gift thinking, ‘It’s good to give.’ …
They give a gift thinking, ‘Giving was practiced by my father and my father’s father. It would not be right for me to abandon this family custom.’ …
They give a gift thinking, ‘I cook, they don’t. It wouldn’t be right for me to not give to them.’ …
They give a gift thinking, ‘The ancient brahmin seers were Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, and Bhagu. Just as they performed great sacrifices, I will share a gift.’ …
They give a gift thinking, ‘When giving this gift my mind becomes clear, and I become happy and joyful.’ …
They don’t give a gift thinking, ‘When giving this gift my mind becomes clear, and I become happy and joyful.’ But they give a gift thinking, ‘This is an adornment and requisite for the mind.’ They give to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. What do you think, Sāriputta, don’t some people give gifts in this way?”
“Yes, sir.”
“Sāriputta, someone who gives gifts, not for any other reason, but thinking, ‘This is an adornment and requisite for the mind’,
“Này Sāriputta, ở đây, có người không bố thí với tâm mong cầu, không bố thí với tâm trói buộc, không bố thí với tâm tích trữ, không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Sau khi chết, ta sẽ hưởng thụ vật này’; mà bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Bố thí là thiện’... cho đến... cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Bố thí là thiện’; mà bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Việc này đã được cha ông ta thực hiện từ trước, ta không nên làm cho truyền thống gia tộc lâu đời bị suy giảm’... cho đến... cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Việc này đã được cha ông ta thực hiện từ trước, ta không nên làm cho truyền thống gia tộc lâu đời bị suy giảm’; mà bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Ta nấu ăn, còn những vị này không nấu ăn, ta là người nấu ăn không nên không bố thí cho những người không nấu ăn’... cho đến... cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Ta nấu ăn, còn những vị này không nấu ăn, ta là người nấu ăn không nên không bố thí cho những người không nấu ăn’; mà bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Như các vị ẩn sĩ thời xưa đã thực hiện các đại lễ tế tự, đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu, cũng vậy, việc phân chia bố thí này của ta sẽ được như thế’... cho đến... cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Như các vị ẩn sĩ thời xưa đã thực hiện các đại lễ tế tự, đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu, cũng vậy, việc phân chia bố thí này của ta sẽ được như thế’; mà bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Khi ta thực hiện việc bố thí này, tâm ta được trong sạch, sự hoan hỷ và hân hoan khởi sanh’... cho đến... cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Khi ta thực hiện việc bố thí này, tâm ta được trong sạch, sự hoan hỷ và hân hoan khởi sanh’; mà bố thí để trang hoàng tâm, để hỗ trợ tâm. Vị ấy bố thí cho Sa-môn hoặc Bà-la-môn các vật dụng như thức ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, thuốc xoa, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Này Sāriputta, ông nghĩ thế nào, ở đây có người nào bố thí như vậy không?” “Bạch Thế Tôn, có ạ.”
Ayaṁ kho, sāriputta, hetu ayaṁ paccayo yena midhekaccassa tādisaṁyeva dānaṁ dinnaṁ na mahapphalaṁ hoti na mahānisaṁsaṁ. Ayaṁ pana, sāriputta, hetu ayaṁ paccayo yena midhekaccassa tādisaṁyeva dānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ hoti mahānisaṁsan”ti.
Navamaṁ.
This is the cause, this is the reason why someone gives a gift and it is not very fruitful or beneficial, while someone else gives exactly the same gift and it is very fruitful and beneficial.”
“Này Sāriputta, trong trường hợp đó, người nào không bố thí với tâm mong cầu; không bố thí với tâm trói buộc; không bố thí với tâm tích trữ; không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Sau khi chết, ta sẽ hưởng thụ vật này’; cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Bố thí là thiện’; cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Việc này đã được cha ông ta thực hiện từ trước, ta không nên làm cho truyền thống gia tộc lâu đời bị suy giảm’; cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Ta nấu ăn, còn những vị này không nấu ăn, ta là người nấu ăn không nên không bố thí cho những người không nấu ăn’; cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Như các vị ẩn sĩ thời xưa đã thực hiện các đại lễ tế tự, đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu, cũng vậy, việc phân chia bố thí này của ta sẽ được như thế’; cũng không bố thí với ý nghĩ rằng: ‘Khi ta thực hiện việc bố thí này, tâm ta được trong sạch, sự hoan hỷ và hân hoan khởi sanh’; mà bố thí để trang hoàng tâm, để hỗ trợ tâm. Sau khi bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên cõi Phạm thiên. Sau khi hưởng hết nghiệp quả, thần thông, danh tiếng, và quyền lực đó, vị ấy trở thành bậc Bất Lai, không còn trở lại thế gian này nữa. Này Sāriputta, đây chính là nhân, đây chính là duyên khiến cho việc bố thí của một người ở đây, dù là bố thí tương tự, lại không có quả lớn, không có lợi ích lớn. Và này Sāriputta, đây chính là nhân, đây chính là duyên khiến cho việc bố thí của một người ở đây, dù là bố thí tương tự, lại có quả lớn, có lợi ích lớn.” Kinh thứ chín.