- Aṅguttara Nikāya 7.28
- 3. Vajjisattakavagga
Paṭhamaparihānisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Paṭhamaparihānisutta
TTC 1—Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thối đọa cho vị Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là bảy?
TTC 2Ưa thích công việc; ưa thích nói chuyện; ưa thích ngủ nghỉ; ưa thích hội chúng; các căn không phòng hộ; ăn uống không tiết độ; khi chúng Tăng có sự việc, tại đấy, Tỷ-kheo hữu học không có suy tư: “Giữa Tăng chúng có các trưởng lão có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu năm, gánh vác chức vụ. Họ sẽ được biết đến vì những chức vụ này”, và không có tự mình chuyên tâm.
Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa vị Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa.
TTC 3Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa Tỷ-kheo hữu học đến không thối đọa. Thế nào là bảy?
TTC 4Không ưa thích công việc; không ưa thích nói chuyện; không ưa thích ngủ nghỉ; không ưa thích hội chúng; các căn được phòng hộ; ăn uống có tiết độ; khi chúng Tăng có sự việc, tại đấy, Tỷ-kheo hữu học có suy tư: “Giữa Tăng chúng, có các trưởng lão có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu năm, gánh vác chức vụ. Họ sẽ được biết đến vì những chức vụ này” và có tự mình chuyên tâm.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Suy Thoái (I)
“sattime, bhikkhave, dhammā sekhassa bhikkhuno parihānāya saṁvattanti. Katame satta? Kammārāmatā, bhassārāmatā, niddārāmatā, saṅgaṇikārāmatā, indriyesu aguttadvāratā, bhojane amattaññutā, santi kho pana saṅghe saṅghakaraṇīyāni; tatra sekho bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘santi kho pana saṅghe therā rattaññū cirapabbajitā bhāravāhino, te tena paññāyissantī’ti attanā tesu yogaṁ āpajjati.
“These seven things lead to the decline of a mendicant trainee. What seven? They relish work, talk, sleep, and company. They don’t guard the sense doors and they eat too much. And when there is Saṅgha business to be carried out, they don’t reflect: ‘There are senior mendicants in the Saṅgha of long standing, long gone forth, responsible. They’ll be known for taking care of this.’ So they get involved in that.
28. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, có bảy pháp này dẫn đến sự suy thoái cho một Tỳ khưu hữu học. Thế nào là bảy? Thích thú công việc, thích thú nói chuyện, thích thú ngủ nghỉ, thích thú tụ họp, không phòng hộ các căn, không biết tiết độ trong ăn uống, và khi có các công việc của Tăng chúng, vị Tỳ khưu hữu học ấy suy xét như sau: ‘Có các vị trưởng lão trong Tăng chúng, là những bậc kỳ cựu, xuất gia đã lâu, gánh vác trọng trách, họ sẽ được biết đến qua việc ấy,’ rồi tự mình dấn thân vào các việc ấy. Này các Tỳ khưu, bảy pháp này dẫn đến sự suy thoái cho một Tỳ khưu hữu học.
Sattime, bhikkhave, dhammā sekhassa bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti. Katame satta? Na kammārāmatā, na bhassārāmatā, na niddārāmatā, na saṅgaṇikārāmatā, indriyesu guttadvāratā, bhojane mattaññutā, santi kho pana saṅghe saṅghakaraṇīyāni; tatra sekho bhikkhu iti paṭisañcikkhati: ‘santi kho pana saṅghe therā rattaññū cirapabbajitā bhāravāhino, te tena paññāyissantī’ti attanā na tesu yogaṁ āpajjati. Ime kho, bhikkhave, satta dhammā sekhassa bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
These seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee. What seven? They don’t relish work, talk, sleep, and company. They guard the sense doors and don’t eat too much. And when there is Saṅgha business to be carried out, they reflect: ‘There are senior mendicants in the Saṅgha of long standing, long gone forth, responsible. They’ll be known for taking care of this.’ So they don’t get involved in that. These seven things don’t lead to the decline of a mendicant trainee.”
“Này các Tỳ khưu, có bảy pháp này dẫn đến sự không suy thoái cho một Tỳ khưu hữu học. Thế nào là bảy? Không thích thú công việc, không thích thú nói chuyện, không thích thú ngủ nghỉ, không thích thú tụ họp, phòng hộ các căn, biết tiết độ trong ăn uống, và khi có các công việc của Tăng chúng, vị Tỳ khưu hữu học ấy suy xét như sau: ‘Có các vị trưởng lão trong Tăng chúng, là những bậc kỳ cựu, xuất gia đã lâu, gánh vác trọng trách, họ sẽ được biết đến qua việc ấy,’ rồi tự mình không dấn thân vào các việc ấy. Này các Tỳ khưu, bảy pháp này dẫn đến sự không suy thoái cho một Tỳ khưu hữu học.” (Kinh thứ) tám.