- Aṅguttara Nikāya 7.23
- 3. Vajjisattakavagga
Paṭhamasattakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Paṭhamasattakasutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại núi Linh Thứu (Gijjhakùta). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Có bảy pháp không bị suy giảm, này các Tỷ-kheo. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy pháp không bị suy giảm? Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo Thượng tọa, những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc Thầy của chúng Tăng và nghe theo những lời dạy của những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở. Và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở được sống an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp không làm suy giảm này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các Tỷ-kheo được dạy bảy pháp không làm suy giảm này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Bảy Pháp Thứ Nhất
“satta vo, bhikkhave, aparihāniye dhamme desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Mendicants, I will teach you these seven principles that prevent decline. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
23. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ông bảy pháp bất thối. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” – “Vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Katame ca, bhikkhave, satta aparihāniyā dhammā? Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū abhiṇhaṁ sannipātā bhavissanti sannipātabahulā; vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
“What are the seven principles that prevent decline? As long as the mendicants meet frequently and have many meetings, they can expect growth, not decline.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là bảy pháp bất thối? Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn thường xuyên tụ họp, và tụ họp đông đủ, thì này các Tỳ khưu, các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi phát triển, không bị suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū samaggā sannipatissanti, samaggā vuṭṭhahissanti, samaggā saṅghakaraṇīyāni karissanti; vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants meet in harmony, leave in harmony, and carry on their business in harmony, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn tụ họp trong hòa hợp, giải tán trong hòa hợp, và làm các phận sự của Tăng đoàn trong hòa hợp, thì các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi phát triển, không bị suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū apaññattaṁ na paññāpessanti, paññattaṁ na samucchindissanti, yathāpaññattesu sikkhāpadesu samādāya vattissanti; vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants don’t make new decrees or abolish existing decrees, but proceed having undertaken the training rules as they have been decreed, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn không chế định điều chưa được chế định, không hủy bỏ điều đã được chế định, và sống theo các học giới đã được chế định, thì các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi phát triển, không bị suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā te sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca sotabbaṁ maññissanti; vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants honor, respect, esteem, and venerate the senior mendicants—of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha—and think them worth listening to, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường các vị Tỳ khưu trưởng lão, những vị có kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, là những người cha, những người lãnh đạo của Tăng đoàn, và còn nghĩ rằng lời của các vị ấy đáng được lắng nghe, thì các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi phát triển, không bị suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū uppannāya taṇhāya ponobhavikāya na vasaṁ gacchissanti; vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants don’t fall under the sway of arisen craving for future lives, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn không bị chi phối bởi ái dục đã khởi lên, thứ dẫn đến tái sanh, thì các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi phát triển, không bị suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū āraññakesu senāsanesu sāpekkhā bhavissanti; vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants take care to live in wilderness lodgings, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn ưa thích các trú xứ trong rừng, thì các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi phát triển, không bị suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū paccattaññeva satiṁ upaṭṭhāpessanti: ‘kinti anāgatā ca pesalā sabrahmacārī āgaccheyyuṁ, āgatā ca pesalā sabrahmacārī phāsuṁ vihareyyun’ti; vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants individually establish mindfulness, so that more good-hearted spiritual companions might come, and those that have already come may live comfortably, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn tự mình thiết lập chánh niệm với ý nghĩ: ‘Làm thế nào để các vị đồng phạm hạnh khả ái chưa đến sẽ đến, và các vị đã đến sẽ được sống an lạc?’, thì các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi phát triển, không bị suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti; vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
Tatiyaṁ.
As long as these seven principles that prevent decline last among the mendicants, and as long as the mendicants are seen following them, they can expect growth, not decline.”
“Này các Tỳ khưu, khi nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại giữa các Tỳ khưu, và các Tỳ khưu còn được thấy thực hành bảy pháp bất thối này, thì các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi phát triển, không bị suy thoái.” Hết kinh thứ ba.