- Aṅguttara Nikāya 7.22
- 3. Vajjisattakavagga
Vassakārasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Vassakārasutta
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha muốn chinh phạt dân chúng Vajjì. Vua nói như sau:
—Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu họ có uy quyền, có hùng mạnh. Ta quyết làm cỏ dân Vajjì. Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì. Ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong.
Rồi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nói với Bà-la-môn Vassakàra, đại thần nước Magadha:
—Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: “Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu con bà Videhi, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú”. Và khanh bạch tiếp: “Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha muốn chinh phạt dân Vajjì. Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu họ có uy quyền, có hùng mạnh. Ta quyết làm cỏ dân Vajjì. Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì. Ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”. Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Như Lai không bao giờ nói không như thật.
—Tâu Ðại vương, xin vâng.
Bà-la-môn Vassakàra, đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Vương Xá, đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, liền nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakàra, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú. Thưa Tôn giả Gotama, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha muốn chinh phạt dân xứ Vajjì, vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dù họ có uy quyền, có hùng mạnh. Ta quyết làm cỏ dân Vajjì. Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì. Ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”.
TTC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đứng quạt phía sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
—Này Ananda, Thầy có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?
—Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau.
—Này Ananda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Thầy có biết dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?
—Bạch Thế Tôn, con có nghe dân chúng Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc trong niệm đoàn kết.
—Này Ananda, khi nào dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc trong niệm đoàn kết, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Thầy có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?
—Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì thuở xưa.
—Này Ananda, khi nào dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Thầy có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì, và nghe theo lời dạy của những vị này không?
—Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì, và nghe theo lời dạy của những vị này.
—Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì, và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Thầy có nghe dân Vajjì không bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?
—Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.
—Này Ananda, khi nào có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này Ananda Thầy có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?
—Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.
—Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này Ananda Thầy có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì, khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc không?
—Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì, khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc.
—Này Ananda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì, khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
TTC 3Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakàra đại thần nước Magadha:
—Này Bà-la-môn, một thời, Ta sống ở Vesàli, tại tự miếu Sàrandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp không bị suy giảm này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp không bị suy giảm, được duy trì giữa dân Vajjì, khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp không bị suy giảm này, thời này Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
TTC 4Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp không bị suy giảm này, thời dân Vajjì nhất định được lớn mạnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ các bảy pháp không bị suy giảm. Thưa Tôn giả Gotama, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận, trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Thưa Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.
—Này Bà-la-môn, hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha hoan hỷ tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Vassakāra
Tena kho pana samayena rājā māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo hoti. So evamāha: “ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi, vajjī vināsessāmi, vajjī anayabyasanaṁ āpādessāmī”ti.
Now at that time King Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha, wanted to invade the Vajjis. He said: “I shall wipe out these Vajjis, so mighty and powerful! I shall destroy them, and lay ruin and devastation upon them!”
22. Tôi nghe như vầy – một thời, đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, ở núi Gijjhakūṭa. Vào lúc đó, vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con của bà Vedehi, muốn đi chinh phạt dân Vajjī. Vị ấy nói như vầy: 'Ta sẽ tận diệt dân Vajjī này, những kẻ có đại thần lực, đại oai lực như vậy, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī, ta sẽ đưa dân Vajjī đến chỗ bất hạnh và tai họa.'
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto vassakāraṁ brāhmaṇaṁ māgadhamahāmattaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, brāhmaṇa, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha: ‘rājā, bhante, māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti. Evañca vadehi: ‘rājā, bhante, māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo. So evamāha—ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi, vajjī vināsessāmi, vajjī anayabyasanaṁ āpādessāmī’ti. Yathā te bhagavā byākaroti, taṁ sādhukaṁ uggahetvā mama āroceyyāsi. Na hi tathāgatā vitathaṁ bhaṇantī”ti.
And then King Ajātasattu addressed Vassakāra the brahmin, a chief minister of Magadha, “Please, brahmin, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Ask him if he is healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. And then say: ‘Sir, King Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha, wants to invade the Vajjis. He said: “I shall wipe out these Vajjis, so mighty and powerful! I shall destroy them, and lay ruin and devastation upon them!”’ Remember well how the Buddha answers and tell it to me. For Realized Ones say nothing that is not so.”
Rồi, vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con của bà Vedehi, cho gọi vị Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Māgadha, và nói: 'Này Bà-la-môn, hãy đến đây, ông hãy đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, hãy cúi đầu đảnh lễ chân đức Thế Tôn, và hỏi thăm về việc ít bệnh, ít não, khỏe mạnh, có sức lực, và an trú thoải mái: ‘Bạch Thế Tôn, vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con của bà Vedehi, cúi đầu đảnh lễ chân đức Thế Tôn, và hỏi thăm về việc ít bệnh, ít não, khỏe mạnh, có sức lực, và an trú thoải mái.’ Và hãy nói như vầy: ‘Bạch Thế Tôn, vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con của bà Vedehi, muốn đi chinh phạt dân Vajjī. Vị ấy nói như vầy: ‘Ta sẽ tận diệt dân Vajjī này, những kẻ có đại thần lực, đại oai lực như vậy, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī, ta sẽ đưa dân Vajjī đến chỗ bất hạnh và tai họa.’ Bất cứ điều gì đức Thế Tôn trả lời cho ông, hãy ghi nhớ kỹ và báo lại cho ta. Vì các đấng Như Lai không nói lời sai trái.'
“Evaṁ, bho”ti kho vassakāro brāhmaṇo māgadhamahāmatto rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vassakāro brāhmaṇo māgadhamahāmatto bhagavantaṁ etadavoca:
“rājā, bho gotama, māgadho ajātasattu vedehiputto bhoto gotamassa pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati. Rājā, bho gotama, māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo. So evamāha: ‘ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi, vajjī vināsessāmi, vajjī anayabyasanaṁ āpādessāmī’”ti.
“Yes, worthy sir,” Vassakāra replied. He went to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, King Ajātasattu bows with his head to your feet. He asks if you are healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. King Ajātasattu wants to invade the Vajjis. He said: ‘I shall wipe out these Vajjis, so mighty and powerful! I shall destroy them, and lay ruin and devastation upon them!’”
'Vâng, thưa ngài.' – vị Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Māgadha, đã vâng lời vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con của bà Vedehi, rồi đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, ông đã trao đổi lời chào hỏi thân mật với đức Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân mật và đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Māgadha, nói điều này với đức Thế Tôn: 'Thưa tôn giả Gotama, vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con của bà Vedehi, cúi đầu đảnh lễ chân tôn giả Gotama, và hỏi thăm về việc ít bệnh, ít não, khỏe mạnh, có sức lực, và an trú thoải mái. Thưa tôn giả Gotama, vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con của bà Vedehi, muốn đi chinh phạt dân Vajjī. Vị ấy nói như vầy: ‘Ta sẽ tận diệt dân Vajjī này, những kẻ có đại thần lực, đại oai lực như vậy, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī, ta sẽ đưa dân Vajjī đến chỗ bất hạnh và tai họa.’’
Tena kho pana samayena āyasmā ānando bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “kinti te, ānanda, sutaṁ: ‘vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī abhiṇhaṁ sannipātā bhavissanti sannipātabahulā; vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Now at that time Venerable Ānanda was standing behind the Buddha fanning him. Then the Buddha said to him: “Ānanda, have you heard that the Vajjis meet frequently and have many meetings?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis meet frequently and have many meetings, they can expect growth, not decline.
Vào lúc ấy, Tôn giả Ānanda đang đứng hầu quạt phía sau lưng Thế Tôn. Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: 'Này Ānanda, con có nghe điều này chăng: 'Dân Vajjī thường hay tụ họp, tụ họp đông đảo'?' 'Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'Dân Vajjī thường hay tụ họp, tụ họp đông đảo'.' 'Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn thường hay tụ họp, tụ họp đông đảo; này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, không bị suy vong.'
Kinti te, ānanda, sutaṁ: ‘vajjī samaggā sannipatanti, samaggā vuṭṭhahanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karontī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī samaggā sannipatanti, samaggā vuṭṭhahanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karontī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī samaggā sannipatissanti, samaggā vuṭṭhahissanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karissanti; vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ānanda, have you heard that the Vajjis meet in harmony, leave in harmony, and carry on their business in harmony?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis meet in harmony, leave in harmony, and carry on their business in harmony, they can expect growth, not decline.
'Này Ānanda, con có nghe điều này chăng: 'Dân Vajjī tụ họp trong đoàn kết, giải tán trong đoàn kết, và làm các công việc của Vajjī trong đoàn kết'?' 'Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'Dân Vajjī tụ họp trong đoàn kết, giải tán trong đoàn kết, và làm các công việc của Vajjī trong đoàn kết'.' 'Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tụ họp trong đoàn kết, giải tán trong đoàn kết, và làm các công việc của Vajjī trong đoàn kết; này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, không bị suy vong.'
Kinti te, ānanda, sutaṁ: ‘vajjī apaññattaṁ na paññāpenti, paññattaṁ na samucchindanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattantī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī apaññattaṁ na paññāpenti, paññattaṁ na samucchindanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattantī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī apaññattaṁ na paññāpessanti, paññattaṁ na samucchindissanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattissanti; vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ānanda, have you heard that the Vajjis don’t make new decrees or abolish existing decrees, but proceed having undertaken the ancient Vajjian principles as they have been decreed?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis don’t make new decrees or abolish existing decrees, but proceed having undertaken the ancient Vajjian principles as they have been decreed, they can expect growth, not decline.
'Này Ānanda, con có nghe điều này chăng: 'Dân Vajjī không ban hành điều chưa được ban hành, không hủy bỏ điều đã được ban hành, và hành xử theo đúng các pháp luật cổ xưa của Vajjī đã được ban hành'?' 'Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'Dân Vajjī không ban hành điều chưa được ban hành, không hủy bỏ điều đã được ban hành, và hành xử theo đúng các pháp luật cổ xưa của Vajjī đã được ban hành'.' 'Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn không ban hành điều chưa được ban hành, không hủy bỏ điều đã được ban hành, và hành xử theo đúng các pháp luật cổ xưa của Vajjī đã được ban hành; này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, không bị suy vong.'
Kinti te, ānanda, sutaṁ: ‘vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā te sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca sotabbaṁ maññantī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā te sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca sotabbaṁ maññantī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā te sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca sotabbaṁ maññissanti; vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ānanda, have you heard that the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate Vajjian elders, and think them worth listening to?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate Vajjian elders, and think them worth listening to, they can expect growth, not decline.
'Này Ānanda, con có nghe điều này chăng: 'Dân Vajjī tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường những vị trưởng lão Vajjī, và cho rằng lời nói của các vị ấy đáng được lắng nghe'?' 'Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'Dân Vajjī tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường những vị trưởng lão Vajjī, và cho rằng lời nói của các vị ấy đáng được lắng nghe'.' 'Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường những vị trưởng lão Vajjī, và cho rằng lời nói của các vị ấy đáng được lắng nghe; này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, không bị suy vong.'
Kinti te, ānanda, sutaṁ: ‘vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo tā na okassa pasayha vāsentī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo tā na okassa pasayha vāsentī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo tā na okassa pasayha vāsessanti; vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ānanda, have you heard that the Vajjis don’t forcibly abduct the women or girls of the clans and make them live with them?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis don’t forcibly abduct the women or girls of the clans and make them live with them, they can expect growth, not decline.
'Này Ānanda, con có nghe điều này chăng: 'Dân Vajjī không bắt cóc và cưỡng ép các phụ nữ và thiếu nữ trong các gia đình phải sống chung với mình'?' 'Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'Dân Vajjī không bắt cóc và cưỡng ép các phụ nữ và thiếu nữ trong các gia đình phải sống chung với mình'.' 'Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn không bắt cóc và cưỡng ép các phụ nữ và thiếu nữ trong các gia đình phải sống chung với mình; này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, không bị suy vong.'
Kinti te, ānanda, sutaṁ: ‘vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca tāni sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpentī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca tāni sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpentī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca tāni sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpessanti; vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ānanda, have you heard that the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate the Vajjian shrines, whether inner or outer, not neglecting the proper spirit-offerings that were given and made in the past?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate the Vajjian shrines, whether inner or outer, not neglecting the proper spirit-offerings that were given and made in the past, they can expect growth, not decline.
'Này Ānanda, con có nghe điều này chăng: 'Dân Vajjī tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường các đền miếu của Vajjī, cả trong và ngoài thành, và không để cho các lễ vật đúng pháp đã từng được dâng cúng, đã từng được thực hiện trước đây bị suy giảm'?' 'Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'Dân Vajjī tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường các đền miếu của Vajjī, cả trong và ngoài thành, và không để cho các lễ vật đúng pháp đã từng được dâng cúng, đã từng được thực hiện trước đây bị suy giảm'.' 'Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường các đền miếu của Vajjī, cả trong và ngoài thành, và không để cho các lễ vật đúng pháp đã từng được dâng cúng, đã từng được thực hiện trước đây bị suy giảm; này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, không bị suy vong.'
Kinti te, ānanda, sutaṁ: ‘vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā—kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsuṁ vihareyyun’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā bhavissati—kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsuṁ vihareyyun’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā bhavissati: ‘kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsuṁ vihareyyun’ti; vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
Ānanda, have you heard that the Vajjis organize proper protection, shelter, and security for perfected ones, so that more perfected ones might come to the realm and those already here may live in comfort?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis organize proper protection, shelter, and security for perfected ones, so that more perfected ones might come to the realm and those already here may live in comfort, they can expect growth, not decline.”
'Này Ānanda, con có nghe điều này chăng: 'Đối với các vị A-la-hán, sự bảo vệ, che chở, hộ trì đúng pháp được dân Vajjī sắp đặt chu đáo, với ý nghĩ: 'Làm thế nào để các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến xứ sở này, và các vị A-la-hán đã đến sẽ được an trú thoải mái trong xứ sở này?'?' 'Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'Đối với các vị A-la-hán, sự bảo vệ, che chở, hộ trì đúng pháp sẽ được dân Vajjī sắp đặt chu đáo, với ý nghĩ: 'Làm thế nào để các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến xứ sở này, và các vị A-la-hán đã đến sẽ được an trú thoải mái trong xứ sở này?''.' 'Này Ānanda, chừng nào đối với các vị A-la-hán, sự bảo vệ, che chở, hộ trì đúng pháp sẽ còn được dân Vajjī sắp đặt chu đáo, với ý nghĩ: 'Làm thế nào để các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến xứ sở này, và các vị A-la-hán đã đến sẽ được an trú thoải mái trong xứ sở này?'; này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, không bị suy vong.'
Atha kho bhagavā vassakāraṁ brāhmaṇaṁ māgadhamahāmattaṁ āmantesi:
“ekamidāhaṁ, brāhmaṇa, samayaṁ vesāliyaṁ viharāmi sārandade cetiye. Tatrāhaṁ, brāhmaṇa, vajjīnaṁ ime satta aparihāniye dhamme desesiṁ. Yāvakīvañca, brāhmaṇa, ime satta aparihāniyā dhammā vajjīsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu vajjī sandississanti; vuddhiyeva, brāhmaṇa, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
Then the Buddha said to Vassakāra:
“Brahmin, this one time I was staying near Vesālī at the Sārandada Shrine. There I taught the Vajjis these principles that prevent decline. As long as these seven principles that prevent decline last among the Vajjis, and as long as the Vajjis are seen following them, they can expect growth, not decline.”
Bấy giờ, Thế Tôn gọi Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Māgadha: 'Này Bà-la-môn, có một thời Ta trú tại đền Sārandada ở Vesālī. Này Bà-la-môn, tại nơi ấy, Ta đã thuyết giảng cho dân Vajjī bảy pháp bất thối này. Này Bà-la-môn, chừng nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại nơi dân Vajjī, và dân Vajjī còn được thấy thực hành bảy pháp bất thối này; này Bà-la-môn, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, không bị suy vong.'
“Ekamekenapi, bho gotama, aparihāniyena dhammena samannāgatānaṁ vajjīnaṁ vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni; ko pana vādo sattahi aparihāniyehi dhammehi. Akaraṇīyā ca, bho gotama, vajjī raññā māgadhena ajātasattunā vedehiputtena yadidaṁ yuddhassa, aññatra upalāpanāya, aññatra mithubhedā. Handa ca dāni mayaṁ, bho gotama, gacchāma, bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, brāhmaṇa, kālaṁ maññasī”ti. Atha kho vassakāro brāhmaṇo māgadhamahāmatto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmīti.
Dutiyaṁ.
When the Buddha had spoken, Vassakāra said to him: “Worthy Gotama, if the Vajjis follow even a single one of these principles they can expect growth, not decline. How much more so all seven! King Ajātasattu cannot defeat the Vajjis in war, unless by bribery or by sowing dissension. Well, now, worthy Gotama, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, brahmin, go at your convenience.” Then Vassakāra the brahmin, having approved and agreed with what the Buddha said, rose from his seat and left.
“Thưa Tôn giả Gotama, khi dân Vajjī còn thành tựu dù chỉ một trong các pháp bất thối này, họ chỉ có thể được mong đợi phát triển, không bị suy thoái. Huống nữa là khi họ có đủ bảy pháp bất thối! Thưa Tôn giả Gotama, vua Ajātasattu của xứ Māgadha, con của bà Vedehi, không thể làm gì được dân Vajjī bằng chiến tranh, trừ phi bằng cách ly gián, trừ phi bằng cách chia rẽ nội bộ. Thưa Tôn giả Gotama, giờ đây chúng tôi xin phép đi, chúng tôi có nhiều việc phải làm, nhiều phận sự phải chu toàn.” – “Này Bà-la-môn, ông hãy làm những gì ông nghĩ là phải thời.” Rồi Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Māgadha, sau khi hoan hỷ và tán thán lời dạy của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về. Hết kinh thứ hai.