- Aṅguttara Nikāya 6.58
- 6. Mahāvagga
Āsavasutta
“Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Bản dịch
Āsavasutta
TTC 1—Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do phòng hộ; đối với các lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do thọ dụng; đối với các lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do kham nhẫn; đối với các lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do tránh né; đối với các lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do trừ diệt; đối với các lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do tu tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do phòng hộ?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy sống phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Vị chơn chánh giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ nhĩ căn… sống phòng hộ với sự phòng hộ tỷ căn… sống phòng hộ với sự phòng hộ thiệt căn… sống phòng hộ với sự phòng hộ thân căn… sống phòng hộ với sự phòng hộ ý căn. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy sống phòng hộ với sự phòng hộ ý căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, nếu sống không phòng hộ với sự phòng hộ các căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ các căn, như vậy các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không có thể khởi lên.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ phòng hộ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ thọ dụng?
TTC 4Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo chơn chánh giác sát thọ dụng y phục chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự hổ thẹn. Vị ấy chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn khất thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn. Vị ấy chơn chánh giác sát thọ dụng sàng tọa chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh. Vị ấy chơn chánh giác sát thọ dụng những dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác thống khổ đã sanh để được ly khổ hoàn toàn. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không chơn chánh giác sát khi thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy có chơn chánh giác sát khi thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ thọ dụng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ kham nhẫn?
TTC 5Này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo chơn chánh giác sát kham nhẫn lạnh nóng, đói khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, kham nhẫn những cách nói mạ lỵ phỉ báng, vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ kham nhẫn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ tránh né?
TTC 6Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo chơn chánh giác sát, tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Những chỗ ngồi không xứng đáng nếu ngồi, những trú xứ không nên lai vãng nếu đến, những bạn bè ác độc, nếu giao du bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghi ngờ khinh thường. Vị chơn chánh giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn bè độc ác ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ tránh né. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ trừ diệt?
TTC 7Này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo chơn chánh giác sát không chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại dục niệm ấy; không chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại sân niệm ấy; không chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại hại niệm ấy; không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại các ác bất thiện pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không trừ khử như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ khử như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ trừ diệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ tu tập?
TTC 8Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo chơn chánh giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y xuất ly, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ, chơn chánh giác sát tu tập trạch pháp giác chi … (như trên) … tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi; xả giác chi này y xuất ly, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ nhờ tu tập.
Này các Tỷ-kheo, thành tựu sáu pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
“Mendicants, a mendicant with six qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.
58. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào thành tựu sáu pháp thì đáng được cúng dường, đáng được nghênh tiếp, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.”
Idha, bhikkhave, bhikkhuno ye āsavā saṁvarā pahātabbā te saṁvarena pahīnā honti, ye āsavā paṭisevanā pahātabbā te paṭisevanāya pahīnā honti, ye āsavā adhivāsanā pahātabbā te adhivāsanāya pahīnā honti, ye āsavā parivajjanā pahātabbā te parivajjanāya pahīnā honti, ye āsavā vinodanā pahātabbā te vinodanāya pahīnā honti, ye āsavā bhāvanā pahātabbā te bhāvanāya pahīnā honti.
It’s a mendicant who, by restraint, has given up the defilements that should be given up by restraint. By using, they’ve given up the defilements that should be given up by using. By enduring, they’ve given up the defilements that should be given up by enduring. By avoiding, they’ve given up the defilements that should be given up by avoiding. By dispelling, they’ve given up the defilements that should be given up by dispelling. By developing, they’ve given up the defilements that should be given up by developing.
Do sáu pháp nào? Này các Tỷ-kheo, ở đây, đối với vị Tỷ-kheo, những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ bằng sự phòng hộ, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự phòng hộ; những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ bằng sự thọ dụng, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự thọ dụng; những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ bằng sự kham nhẫn, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự kham nhẫn; những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ bằng sự né tránh, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự né tránh; những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ bằng sự trừ diệt, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự trừ diệt; những lậu hoặc nào cần được đoạn trừ bằng sự tu tập, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự tu tập.
Katame ca, bhikkhave, āsavā saṁvarā pahātabbā ye saṁvarena pahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso cakkhundriyasaṁvarasaṁvuto viharati. Yaṁ hissa, bhikkhave, cakkhundriyasaṁvaraṁ asaṁvutassa viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, cakkhundriyasaṁvaraṁ saṁvutassa viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Paṭisaṅkhā yoniso sotindriya …pe… ghānindriya … jivhindriya … kāyindriya … manindriyasaṁvarasaṁvuto viharati. Yaṁ hissa, bhikkhave, manindriyasaṁvaraṁ asaṁvutassa viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, manindriyasaṁvaraṁ saṁvutassa viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā saṁvarā pahātabbā ye saṁvarena pahīnā honti.
And what are the defilements that should be given up by restraint? Take a mendicant who, reflecting rationally, lives restraining the eye faculty. For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without restraint of the eye faculty do not arise when there is such restraint. Reflecting rationally, they live restraining the ear faculty … the nose faculty … the tongue faculty … the body faculty … the mind faculty. For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without restraint of the mind faculty do not arise when there is such restraint. These are called the defilements that should be given up by restraint.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự phòng hộ, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự phòng hộ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo sau khi như lý tác ý, sống phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn. Này các Tỷ-kheo, vì rằng đối với người sống không phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc não hại và nhiệt não có thể sanh khởi; còn đối với người sống phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc não hại và nhiệt não ấy không có như vậy. Sau khi như lý tác ý, (vị ấy sống phòng hộ với sự phòng hộ) nhĩ căn... tỵ căn... thiệt căn... thân căn... ý căn. Này các Tỷ-kheo, vì rằng đối với người sống không phòng hộ ý căn, các lậu hoặc não hại và nhiệt não có thể sanh khởi; còn đối với người sống phòng hộ ý căn, các lậu hoặc não hại và nhiệt não ấy không có như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự phòng hộ, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự phòng hộ.
Katame ca, bhikkhave, āsavā paṭisevanā pahātabbā ye paṭisevanāya pahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso cīvaraṁ paṭisevati: ‘yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva hirikopīnapaṭicchādanatthaṁ’. Paṭisaṅkhā yoniso piṇḍapātaṁ paṭisevati: ‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya, vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro ca’. Paṭisaṅkhā yoniso senāsanaṁ paṭisevati: ‘yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva utuparissayavinodanapaṭisallānārāmatthaṁ’. Paṭisaṅkhā yoniso gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṁ paṭisevati: ‘yāvadeva uppannānaṁ veyyābādhikānaṁ vedanānaṁ paṭighātāya, abyābajjhaparamatāyā’ti. Yaṁ hissa, bhikkhave, appaṭisevato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, paṭisevato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā paṭisevanā pahātabbā ye paṭisevanāya pahīnā honti.
And what are the defilements that should be given up by using? Take a mendicant who, reflecting rationally, makes use of robes: ‘Only for the sake of warding off cold and heat; for warding off the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; and for covering up the private parts.’ Reflecting rationally, they make use of almsfood: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’ Reflecting rationally, they make use of lodgings: ‘Only for the sake of warding off cold and heat; for warding off the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; to shelter from harsh weather and to enjoy retreat.’ Reflecting rationally, they make use of medicines and supplies for the sick: ‘Only for the sake of warding off the pains of illness and to promote good health.’ For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without using these things do not arise when they are used. These are called the defilements that should be given up by using.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự thọ dụng, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự thọ dụng? Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo sau khi như lý tác ý, thọ dụng y phục: ‘Chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát; chỉ để che đậy sự trần truồng đáng hổ thẹn’. Sau khi như lý tác ý, vị ấy thọ dụng vật thực khất thực: ‘Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp; chỉ để thân này được duy trì và bảo dưỡng, để chấm dứt sự tổn hại, để hỗ trợ cho phạm hạnh; như vậy, ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ và không cho sanh khởi cảm thọ mới, và ta sẽ được sống thọ, không bị chê trách, và được an ổn’. Sau khi như lý tác ý, vị ấy thọ dụng sàng tọa: ‘Chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát; chỉ để xua tan sự nguy hiểm của thời tiết và để hưởng sự độc cư’. Sau khi như lý tác ý, vị ấy thọ dụng dược phẩm trị bệnh: ‘Chỉ để ngăn ngừa các cảm thọ về thân bệnh đã sanh khởi, và để được hoàn toàn không bệnh khổ’. Này các Tỷ-kheo, vì rằng đối với người không thọ dụng (như vậy), các lậu hoặc não hại và nhiệt não có thể sanh khởi; còn đối với người thọ dụng (như vậy), các lậu hoặc não hại và nhiệt não ấy không có như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự thọ dụng, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự thọ dụng.
Katame ca, bhikkhave, āsavā adhivāsanā pahātabbā ye adhivāsanāya pahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso khamo hoti sītassa uṇhassa, jighacchāya, pipāsāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ, duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti. Yaṁ hissa, bhikkhave, anadhivāsato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, adhivāsato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā adhivāsanā pahātabbā ye adhivāsanāya pahīnā honti.
And what are the defilements that should be given up by enduring? Take a mendicant who, reflecting rationally, endures cold, heat, hunger, and thirst. They endure the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. They endure rude and unwelcome criticism. And they put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening. For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without enduring these things do not arise when they are endured. These are called the defilements that should be given up by enduring.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự kham nhẫn, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự kham nhẫn? Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo sau khi như lý tác ý, có thể kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát; kham nhẫn những lời nói khó nghe, khó chịu; có bản tánh kham nhẫn đối với các cảm thọ về thân đã sanh khởi, đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, buốt nhói, không vừa ý, không thích ý, có thể đoạt mạng. Này các Tỷ-kheo, vì rằng đối với người không kham nhẫn, các lậu hoặc não hại và nhiệt não có thể sanh khởi; còn đối với người kham nhẫn, các lậu hoặc não hại và nhiệt não ấy không có như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự kham nhẫn, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự kham nhẫn.
Katame ca, bhikkhave, āsavā parivajjanā pahātabbā ye parivajjanāya pahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso caṇḍaṁ hatthiṁ parivajjeti, caṇḍaṁ assaṁ parivajjeti, caṇḍaṁ goṇaṁ parivajjeti, caṇḍaṁ kukkuraṁ parivajjeti, ahiṁ khāṇuṁ kaṇṭakaṭṭhānaṁ sobbhaṁ papātaṁ candanikaṁ oḷigallaṁ, yathārūpe anāsane nisinnaṁ, yathārūpe agocare carantaṁ, yathārūpe pāpake mitte bhajantaṁ viññū sabrahmacārī pāpakesu ṭhānesu okappeyyuṁ, so tañca anāsanaṁ tañca agocaraṁ te ca pāpake mitte paṭisaṅkhā yoniso parivajjeti. Yaṁ hissa, bhikkhave, aparivajjayato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, parivajjayato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā parivajjanā pahātabbā ye parivajjanāya pahīnā honti.
And what are the defilements that should be given up by avoiding? Take a mendicant who, reflecting rationally, avoids a wild elephant, a wild horse, a wild ox, a wild dog, a snake, a stump, thorny ground, a pit, a cliff, a swamp, and a sewer. Reflecting rationally, they avoid sitting on inappropriate seats, walking in inappropriate neighborhoods, and mixing with bad friends—whatever sensible spiritual companions would believe to be a bad setting. For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without avoiding these things do not arise when they are avoided. These are called the defilements that should be given up by avoiding.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự né tránh, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự né tránh? Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo sau khi như lý tác ý, né tránh voi dữ, né tránh ngựa dữ, né tránh bò dữ, né tránh chó dữ, rắn, gốc cây, nơi có gai, hố thẳm, vực sâu, hố phân, vũng bùn. Vị ấy ngồi ở chỗ ngồi không thích hợp nào, đi đến nơi không thích hợp nào, thân cận với những người bạn ác nào mà các vị đồng phạm hạnh có trí có thể nghi ngờ vị ấy ở trong các hoàn cảnh xấu ác, vị ấy sau khi như lý tác ý, né tránh chỗ ngồi không thích hợp ấy, nơi không thích hợp ấy, và những người bạn ác ấy. Này các Tỷ-kheo, vì rằng đối với người không né tránh, các lậu hoặc não hại và nhiệt não có thể sanh khởi; còn đối với người né tránh, các lậu hoặc não hại và nhiệt não ấy không có như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự né tránh, những lậu hoặc ấy được đoạn trừ bằng sự né tránh.
Katame ca, bhikkhave, āsavā vinodanā pahātabbā ye vinodanāya pahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti, paṭisaṅkhā yoniso uppannaṁ byāpādavitakkaṁ … uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ … uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti. Yaṁ hissa, bhikkhave, avinodayato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, vinodayato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā vinodanā pahātabbā ye vinodanāya pahīnā honti.
And what are the defilements that should be given up by dispelling? Take a mendicant who, reflecting rationally, doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought that has arisen, but gives it up, dispels it, eliminates it, and obliterates it. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them. For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without dispelling these things do not arise when they are dispelled. These are called the defilements that should be given up by dispelling.
Này các Tỳ khưu, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự xua tan, những lậu hoặc đã được đoạn trừ bằng sự xua tan? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi như lý tác ý, đối với dục tầm đã sanh khởi, vị ấy không dung chứa, từ bỏ, xua tan, làm cho chấm dứt, khiến cho không còn hiện hữu. Sau khi như lý tác ý, đối với sân tầm đã sanh khởi... đối với hại tầm đã sanh khởi... đối với các pháp ác bất thiện đã sanh khởi và đang sanh khởi, vị ấy không dung chứa, từ bỏ, xua tan, làm cho chấm dứt, khiến cho không còn hiện hữu. Này các Tỳ khưu, đối với vị nào không xua tan chúng, các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể sanh khởi; đối với vị nào xua tan chúng, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không sanh khởi. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự xua tan, những lậu hoặc đã được đoạn trừ bằng sự xua tan.
Katame ca, bhikkhave, āsavā bhāvanā pahātabbā ye bhāvanāya pahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vosaggapariṇāmiṁ, paṭisaṅkhā yoniso dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti … vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti … pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti … passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vosaggapariṇāmiṁ. Yaṁ hissa, bhikkhave, abhāvayato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, bhāvayato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti. Ime vuccanti, bhikkhave, āsavā bhāvanā pahātabbā ye bhāvanāya pahīnā honti.
And what are the defilements that should be given up by developing? Take a mendicant who, reflecting rationally, develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without developing these things do not arise when they are developed. These are called the defilements that should be given up by developing.
Này các Tỳ khưu, thế nào là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự tu tập, những lậu hoặc đã được đoạn trừ bằng sự tu tập? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi như lý tác ý, tu tập niệm giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly. Sau khi như lý tác ý, vị ấy tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly. Này các Tỳ khưu, đối với vị nào không tu tập chúng, các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não có thể sanh khởi; đối với vị nào tu tập chúng, thì các lậu hoặc, phiền não, và nhiệt não ấy không sanh khởi. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng sự tu tập, những lậu hoặc đã được đoạn trừ bằng sự tu tập.
Imehi kho, bhikkhave, chahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Catutthaṁ.
A mendicant with these six qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.”
Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào thành tựu sáu pháp này thì đáng được cúng dường, đáng được nghênh tiếp, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng cho thế gian. Hết bài kinh thứ tư.