- Aṅguttara Nikāya 6.57
- 6. Mahāvagga
Bản dịch
AN 6.57 — Sáu Sanh Loại
Chaḷabhijātisutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràijagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
TTC 2—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Pùrana Kassapa trình bày sáu sanh loại: sanh loại đen, sanh loại xanh, sanh loại đỏ, sanh loại vàng, sanh loại trắng, sanh loại hết sức trắng. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là loại sanh đen do Pùrana Kassapa trình bày: “Kẻ giết cừu, kẻ giết heo, kẻ giết chim, kẻ săn thú, kẻ hung bạo, người đánh cá, kẻ ăn trộm, kẻ ăn trộm giết người, kẻ ngục tốt và những người khác theo nghề tàn ác”. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại xanh do Pùrana Kassapa trình bày: “Các Tỷ-kheo sống như cỏ gai đâm bên hông, và tất cả những ai khác chủ trương nghiệp nhân luận, nghiệp quả luận”. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại đỏ do Pùrana Kassapa trình bày: “Các Ni-kiền-tử và những kẻ mặc một tấm vải”. Ở đây, bạch Thế Tôn, là các sanh loại vàng do Pùrana Kassapa trình bày: “Các gia chủ và đệ tử những người ở trần truồng”. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại trắng do Pùrana Kassapa trình bày: “Các tà mạng ngoại đạo và đệ tử của họ”. Ở đây, bạch Thế Tôn, đây là các sanh loại hết sức trắng do Pùrana Kassapa trình bày: “Nanda Vaccha, Kisa Sankicca và Makkhali Gosàla”. Bạch Thế Tôn, sáu sanh loại này do Pùrana Kassapa trình bày.
TTC 3—Này Ananda, có phải toàn thế giới đều đồng ý chấp nhận sự trình bày thành sáu sanh loại này của Pùrana Kassapa không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ví như này Ananda, một người nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu, dầu miễn cưỡng, không muốn, người ta quăng cho người ấy một miếng thịt và nói: “Hãy ăn miếng thịt này, này Người kia, và trả tiền luôn”. Cũng vậy, này Ananda là lời tuyên bố của Pùrana Kassapa về sáu sanh loại này cho những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, không được họ đồng ý, như bởi một kẻ ngu si, không thông minh, không biết thích ứng, bất thiện. Này Ananda, Ta tuyên bố có sáu sanh loại, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này Ananda, thế nào là sáu sanh loại?
TTC 4Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại đen, sanh ra các pháp đen. Nhưng ở đây, này Ananda, có một số sanh loại đen sanh ra pháp trắng. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại trắng sanh ra pháp đen. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại trắng sanh ra pháp trắng. Ở đây, này Ananda, có một số sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. Và này, Ananda, thế nào là một số sanh loại đen sanh ra pháp đen?
TTC 5Ở đây, này Ananda, có một số người sanh ra trong gia đình thấp kém, gia đình người đổ phân hay gia đình người thợ săn, hay gia đình người đan tre, hay gia đình người đóng xe, hay gia đình người quét rác, hay trong gia đình một người nghèo khổ, khó tìm được đồ ăn uống để sống, khó tìm cho được đồ ăn đồ mặc. Và người ấy xấu xí, khó nhìn, lùn thấp, nhiều bệnh hoạn, đui một mắt, tàn tật, còm, què, hay đi khấp khểnh, không có được đồ ăn, đồ uống, đồ mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ ở và đèn. Người ấy làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý. Người ấy do làm ác hạnh về thân, về lời, về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này Ananda, là hạng sanh loại đen sanh ra pháp đen. Và này Ananda, thế nào là hạng sanh loại đen sanh ra pháp trắng?
TTC 6Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình thấp kém… chỗ nằm, chỗ ở và đèn. Người ấy làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh về lời, làm thiện hạnh về ý. Người ấy do làm thiện hạnh về thân, về lời, về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi lành, Thiên giới, thế giới này. Như vậy, này Ananda, là hạng sanh loại đen sanh ra pháp trắng. Và này Ananda, thế nào là hạng sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng?
TTC 7Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình thấp kém… và người ấy xấu xí, khó nhìn, lùn thấp. Người ấy, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, sau khi đoạn tận năm triền cái, làm cho muội lược các kiết sử về tâm với trí tuệ, trú tâm trên Bốn niệm xứ, như thật tu tập Bảy giác chi, sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. Như vậy, này Ananda là hạng sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. Và này Ananda, thế nào là sanh loại trắng sanh ra pháp đen?
TTC 8Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình gia chủ đại phú, phú hào, có tiền của lớn, tài sản lớn, có nhiều vàng bạc, có nhiều tài sản, vật dụng, nhiều tiền của, ngũ cốc. Người ấy lại đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy lại được ăn đồ ăn, đồ uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý. Người ấy do làm ác hạnh về thân, do làm ác hạnh về lời, do làm ác hạnh về ý, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đạo xứ, địa ngục. Như vậy, này Ananda, là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp đen. Và này Ananda, thế nào là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp trắng?
TTC 9Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú… chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh về lời, làm thiện hạnh về ý. Người ấy do làm thiện hạnh về thân, do làm thiện hạnh về lời, do làm thiện hạnh về ý, sau khi thân hoại mạng chung, sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, này Ananda, là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp trắng. Và này Ananda, thế nào là hạng sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng?
TTC 10Ở đây, này Ananda, có hạng người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú… chỗ trú, đèn đuốc. Vị ấy, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, sau khi đoạn tận năm triền cái, làm cho muội lược các kiết sử về tâm với trí tuệ, trú tâm trên Bốn niệm xứ, như thật tu tập Bảy giác chi, sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. Như vậy, này Ananda là hạng sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng.
Này Ananda, đây là sáu sanh loại.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.57
- 6. The Great Chapter
The Six Classes of Rebirth
3. Kinh Sáu Loại Tái Sanh
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“pūraṇena, bhante, kassapena chaḷabhijātiyo paññattā—kaṇhābhijāti paññattā, nīlābhijāti paññattā, lohitābhijāti paññattā, haliddābhijāti paññattā, sukkābhijāti paññattā, paramasukkābhijāti paññattā.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, Pūraṇa Kassapa describes six classes of rebirth: black, blue, red, yellow, white, and ultimate white.
57. Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại núi Gijjhakūṭa. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn rằng: – ‘Bạch Thế Tôn, Pūraṇa Kassapa đã chế định sáu loại sanh: sanh loại đen được chế định, sanh loại xanh được chế định, sanh loại đỏ được chế định, sanh loại vàng được chế định, sanh loại trắng được chế định, sanh loại trắng tối thượng được chế định.
Tatridaṁ, bhante, pūraṇena kassapena kaṇhābhijāti paññattā, orabbhikā sūkarikā sākuṇikā māgavikā luddā macchaghātakā corā coraghātakā bandhanāgārikā ye vā panaññepi keci kurūrakammantā.
The black class of rebirth consists of slaughterers of sheep, pigs, poultry, or deer, hunters or fishers, bandits, executioners, butchers of cattle, jailers, and any others with a cruel livelihood.
‘Bạch Thế Tôn, ở đây, Pūraṇa Kassapa đã chế định sanh loại đen là: những người giết cừu, những người giết heo, những người bẫy chim, những thợ săn thú, những người tàn bạo, những người giết cá, những kẻ trộm, những đao phủ, những cai ngục, và bất cứ ai khác làm những nghề tàn ác.
Tatridaṁ, bhante, pūraṇena kassapena nīlābhijāti paññattā, bhikkhū kaṇṭakavuttikā ye vā panaññepi keci kammavādā kriyavādā.
The blue class of rebirth consists of mendicants whose life is thorny, and any others who teach the efficacy of deeds and action.
‘Bạch Thế Tôn, ở đây, Pūraṇa Kassapa đã chế định sanh loại xanh là: những vị tỳ khưu có lối sống như gai góc, và bất cứ ai khác là người chủ trương về nghiệp và hành động.
Tatridaṁ, bhante, pūraṇena kassapena lohitābhijāti paññattā, nigaṇṭhā ekasāṭakā.
The red class of rebirth consists of the Jain ascetics who wear one cloth.
‘Bạch Thế Tôn, ở đây, Pūraṇa Kassapa đã chế định sanh loại đỏ là: những Nigaṇṭha chỉ mặc một tấm y.
Tatridaṁ, bhante, pūraṇena kassapena haliddābhijāti paññattā, gihī odātavasanā acelakasāvakā.
The yellow class of rebirth consists of the lay people dressed in white who are disciples of the naked ascetics.
‘Bạch Thế Tôn, ở đây, Pūraṇa Kassapa đã chế định sanh loại vàng là: những gia chủ mặc y trắng là đệ tử của các vị lõa thể.
Tatridaṁ, bhante, pūraṇena kassapena sukkābhijāti paññattā, ājīvakā ājīvakiniyo.
The white class of rebirth consists of male and female Ājīvaka ascetics.
‘Bạch Thế Tôn, ở đây, Pūraṇa Kassapa đã chế định sanh loại trắng là: các nam Ājīvaka và các nữ Ājīvaka.
Tatridaṁ, bhante, pūraṇena kassapena paramasukkābhijāti paññattā, nando vaccho kiso saṅkicco makkhali gosālo.
Pūraṇena, bhante, kassapena imā chaḷabhijātiyo paññattā”ti.
And the ultimate white class of rebirth consists of Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, and the bamboo-staffed ascetic Gosāla.
These are the six classes of rebirth that Pūraṇa Kassapa describes.”
‘Bạch Thế Tôn, ở đây, Pūraṇa Kassapa đã chế định sanh loại trắng tối thượng là: Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, và Makkhali Gosāla. Bạch Thế Tôn, Pūraṇa Kassapa đã chế định sáu loại sanh này.’
“Kiṁ panānanda, pūraṇassa kassapassa sabbo loko etadabbhanujānāti imā chaḷabhijātiyo paññāpetun”ti?
“No hetaṁ, bhante.
Seyyathāpi, ānanda, puriso daliddo assako anāḷhiko, tassa akāmakassa bilaṁ olaggeyyuṁ: ‘idaṁ te, ambho purisa, maṁsañca khāditabbaṁ, mūlañca anuppadātabban’ti. Evamevaṁ kho, ānanda, pūraṇena kassapena appaṭiññāya etesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ imā chaḷabhijātiyo paññattā, yathā taṁ bālena abyattena akhettaññunā akusalena.
“But Ānanda, did the whole world authorize Pūraṇa Kassapa to describe these six classes of rebirth?”
“No, sir.”
“It’s as if they were to force a chop on a poor, penniless person, telling them, ‘Eat this meat and pay for it!’ In the same way, Pūraṇa Kassapa has described these six classes of rebirth without the consent of those ascetics and brahmins. And he has done so in a foolish, incompetent, unskilled way, lacking common sense.
‘Này Ānanda, có phải toàn thể thế gian đều chấp thuận cho Pūraṇa Kassapa chế định sáu loại sanh này không?’ – ‘Bạch Thế Tôn, không phải vậy.’ – ‘Ví như, này Ānanda, một người nghèo khó, không tài sản, bần cùng, người ta ép buộc người ấy, dù không muốn, một miếng thịt và nói rằng: ‘Này ông, ông phải ăn miếng thịt này và phải trả tiền.’ Cũng vậy, này Ānanda, Pūraṇa Kassapa đã chế định sáu loại sanh này cho các vị sa-môn, bà-la-môn ấy mà không được sự đồng ý của họ, giống như một kẻ ngu si, không thông thạo, không biết lĩnh vực, không khéo léo.
Ahaṁ kho panānanda, chaḷabhijātiyo paññāpemi. Taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“katamā cānanda, chaḷabhijātiyo? Idhānanda, ekacco kaṇhābhijātiyo samāno kaṇhaṁ dhammaṁ abhijāyati. Idha panānanda, ekacco kaṇhābhijātiyo samāno sukkaṁ dhammaṁ abhijāyati. Idha panānanda, ekacco kaṇhābhijātiyo samāno akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati. Idha panānanda, ekacco sukkābhijātiyo samāno kaṇhaṁ dhammaṁ abhijāyati. Idha panānanda, ekacco sukkābhijātiyo samāno sukkaṁ dhammaṁ abhijāyati. Idha panānanda, ekacco sukkābhijātiyo samāno akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati.
I, however, also describe six classes of rebirth. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. The Buddha said this:
“And what, Ānanda, are the six classes of rebirth? Someone born into a dark class gives rise to a dark result. Someone born into a dark class gives rise to a bright result. Someone born into a dark class gives rise to extinguishment, which is neither dark nor bright. Someone born into a bright class gives rise to a dark result. Someone born into a bright class gives rise to a bright result. Someone born into a bright class gives rise to extinguishment, which is neither dark nor bright.
‘Ta, này Ānanda, sẽ chế định sáu loại sanh. Hãy nghe điều đó, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói.’ – ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này: – ‘Này Ānanda, thế nào là sáu loại sanh? Này Ānanda, ở đây có người thuộc sanh loại đen, lại sanh ra pháp đen. Lại nữa, này Ānanda, ở đây có người thuộc sanh loại đen, lại sanh ra pháp trắng. Lại nữa, này Ānanda, ở đây có người thuộc sanh loại đen, lại sanh ra Niết-bàn không đen không trắng. Lại nữa, này Ānanda, ở đây có người thuộc sanh loại trắng, lại sanh ra pháp đen. Lại nữa, này Ānanda, ở đây có người thuộc sanh loại trắng, lại sanh ra pháp trắng. Lại nữa, này Ānanda, ở đây có người thuộc sanh loại trắng, lại sanh ra Niết-bàn không đen không trắng.
Kathañcānanda, kaṇhābhijātiyo samāno kaṇhaṁ dhammaṁ abhijāyati? Idhānanda, ekacco nīce kule paccājāto hoti—caṇḍālakule vā nesādakule vā venakule vā rathakārakule vā pukkusakule vā, dalidde appannapānabhojane kasiravuttike, yattha kasirena ghāsacchādo labbhati. So ca hoti dubbaṇṇo duddasiko okoṭimako bavhābādho kāṇo vā kuṇī vā khañjo vā pakkhahato vā, na lābhī annassa pānassa vatthassa yānassa mālāgandhavilepanassa seyyāvasathapadīpeyyassa. So kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati. So kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Evaṁ kho, ānanda, kaṇhābhijātiyo samāno kaṇhaṁ dhammaṁ abhijāyati.
And how does someone born into a dark class give rise to a dark result? It’s when someone is reborn in a low family—a family of corpse-workers, hunters, bamboo-workers, chariot-makers, or scavengers—poor, with little to eat or drink, where life is tough, and food and shelter are hard to find. And they’re ugly, unsightly, deformed, sickly—one-eyed, crippled, lame, or half-paralyzed. They don’t get to have food, drink, clothes, and vehicles; garlands, fragrance, and makeup; or bed, house, and lighting. And they do bad things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. That’s how someone born into a dark class gives rise to a dark result.
“Này Ānanda, thế nào là người có sanh chủng đen tối, lại sanh ra pháp đen tối? Này Ānanda, ở đây, có người sanh vào gia đình hạ tiện – hoặc gia đình người Chiên-đà-la (caṇḍāla), hoặc gia đình người thợ săn (nesāda), hoặc gia đình người đan tre (veṇa), hoặc gia đình người làm xe (rathakāra), hoặc gia đình người đổ rác (pukkusa); là gia đình nghèo khó, ít thức ăn thức uống, sinh kế khó khăn, nơi mà cơm ăn áo mặc khó kiếm được. Và người ấy có dung sắc xấu xí, khó nhìn, thân hình thấp lùn, nhiều bệnh tật, hoặc bị chột, hoặc bị què tay, hoặc bị thọt chân, hoặc bị bại liệt; không nhận được thức ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa xức, giường nằm, trú sở, đèn đuốc. Người ấy thực hành ác hạnh về thân, thực hành ác hạnh về lời, thực hành ác hạnh về ý. Do thực hành ác hạnh về thân, lời, và ý, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Ānanda, như vậy là người có sanh chủng đen tối, lại sanh ra pháp đen tối.”
Kathañcānanda, kaṇhābhijātiyo samāno sukkaṁ dhammaṁ abhijāyati? Idhānanda, ekacco nīce kule paccājāto hoti—caṇḍālakule vā …pe… seyyāvasathapadīpeyyassa. So kāyena sucaritaṁ carati, vācāya sucaritaṁ carati, manasā sucaritaṁ carati. So kāyena sucaritaṁ caritvā, vācāya sucaritaṁ caritvā, manasā sucaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Evaṁ kho, ānanda, kaṇhābhijātiyo samāno sukkaṁ dhammaṁ abhijāyati.
And how does someone born into a dark class give rise to a bright result? It’s when some person is reborn in a low family … But they do good things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. That’s how someone born into a dark class gives rise to a bright result.
“Này Ānanda, thế nào là người có sanh chủng đen tối, lại sanh ra pháp trắng trong? Này Ānanda, ở đây, có người sanh vào gia đình hạ tiện – hoặc gia đình người Chiên-đà-la... (như trên)... giường nằm, trú sở, đèn đuốc. Người ấy thực hành thiện hạnh về thân, thực hành thiện hạnh về lời, thực hành thiện hạnh về ý. Do thực hành thiện hạnh về thân, lời, và ý, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, cõi trời. Này Ānanda, như vậy là người có sanh chủng đen tối, lại sanh ra pháp trắng trong.”
Kathañcānanda, kaṇhābhijātiyo samāno akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati? Idhānanda, ekacco nīce kule paccājāto hoti—caṇḍālakule vā …pe… so ca hoti dubbaṇṇo duddasiko okoṭimako. So kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. So evaṁ pabbajito samāno pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe, catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacitto, satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati. Evaṁ kho, ānanda, kaṇhābhijātiyo samāno akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati.
And how does someone born into a dark class give rise to extinguishment, which is neither dark nor bright? It’s when some person is reborn in a low family … They shave off their hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. They give up the five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. They firmly establish their mind in the four kinds of mindfulness meditation. They truly develop the seven awakening factors. And then they give rise to extinguishment, which is neither dark nor bright. That’s how someone born in a dark class gives rise to extinguishment, which is neither dark nor bright.
“Này Ānanda, thế nào là người có sanh chủng đen tối, lại đạt đến Niết-bàn không đen không trắng? Này Ānanda, ở đây, có người sanh vào gia đình hạ tiện – hoặc gia đình người Chiên-đà-la... (như trên)... và người ấy có dung sắc xấu xí, khó nhìn, thân hình thấp lùn. Người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy từ bỏ năm triền cái là những tùy phiền não của tâm, làm trí tuệ suy yếu; với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, tu tập bảy giác chi như thật, và đạt đến Niết-bàn không đen không trắng. Này Ānanda, như vậy là người có sanh chủng đen tối, lại đạt đến Niết-bàn không đen không trắng.”
Kathañcānanda, sukkābhijātiyo samāno kaṇhaṁ dhammaṁ abhijāyati? Idhānanda, ekacco ucce kule paccājāto hoti—khattiyamahāsālakule vā brāhmaṇamahāsālakule vā gahapatimahāsālakule vā, aḍḍhe mahaddhane mahābhoge pahūtajātarūparajate pahūtavittūpakaraṇe pahūtadhanadhaññe. So ca hoti abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato, lābhī annassa pānassa vatthassa yānassa mālāgandhavilepanassa seyyāvasathapadīpeyyassa. So kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati. So kāyena duccaritaṁ caritvā, vācāya duccaritaṁ caritvā, manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Evaṁ kho, ānanda, sukkābhijātiyo samāno kaṇhaṁ dhammaṁ abhijāyati.
And how does someone born into a bright class give rise to a dark result? It’s when someone is reborn in an eminent family—a well-to-do family of aristocrats, brahmins, or householders—rich, affluent, and wealthy, with lots of gold and silver, lots of property and assets, and lots of money and grain. And they’re attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty. They get to have food, drink, clothes, and vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. But they do bad things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. That’s how someone born into a bright class gives rise to a dark result.
“Này Ānanda, thế nào là người có sanh chủng trắng trong, lại sanh ra pháp đen tối? Này Ānanda, ở đây, có người sanh vào gia đình cao quý – hoặc gia đình Sát-đế-lỵ (khattiya) giàu có, hoặc gia đình Bà-la-môn (brāhmaṇa) giàu có, hoặc gia đình gia chủ giàu có; là gia đình sung túc, nhiều của cải, nhiều tài sản, nhiều vàng bạc, nhiều vật dụng, nhiều tiền của lúa gạo. Và người ấy có dung sắc xinh đẹp, dễ nhìn, đáng mến, có được vẻ đẹp toàn hảo nhất; dễ dàng nhận được thức ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa xức, giường nằm, trú sở, đèn đuốc. Người ấy thực hành ác hạnh về thân, thực hành ác hạnh về lời, thực hành ác hạnh về ý. Do thực hành ác hạnh về thân, lời, và ý, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Ānanda, như vậy là người có sanh chủng trắng trong, lại sanh ra pháp đen tối.”
Kathañcānanda, sukkābhijātiyo samāno sukkaṁ dhammaṁ abhijāyati? Idhānanda, ekacco ucce kule paccājāto hoti—khattiyamahāsālakule vā …pe… seyyāvasathapadīpeyyassa. So kāyena sucaritaṁ carati, vācāya sucaritaṁ carati, manasā sucaritaṁ carati. So kāyena sucaritaṁ caritvā, vācāya sucaritaṁ caritvā, manasā sucaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Evaṁ kho, ānanda, sukkābhijātiyo samāno sukkaṁ dhammaṁ abhijāyati.
And how does someone born into a bright class give rise to a bright result? It’s when some person is reborn in an eminent family … And they do good things by way of body, speech, and mind. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. That’s how someone born into a bright class give rise to a bright result.
“Này Ānanda, thế nào là người có sanh chủng trắng trong, lại sanh ra pháp trắng trong? Này Ānanda, ở đây, có người sanh vào gia đình cao quý – hoặc gia đình Sát-đế-lỵ giàu có... (như trên)... giường nằm, trú sở, đèn đuốc. Người ấy thực hành thiện hạnh về thân, thực hành thiện hạnh về lời, thực hành thiện hạnh về ý. Do thực hành thiện hạnh về thân, lời, và ý, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, cõi trời. Này Ānanda, như vậy là người có sanh chủng trắng trong, lại sanh ra pháp trắng trong.”
Kathañcānanda, sukkābhijātiyo samāno akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati? Idhānanda, ekacco ucce kule paccājāto hoti—khattiyamahāsālakule vā brāhmaṇamahāsālakule vā gahapatimahāsālakule vā, aḍḍhe mahaddhane mahābhoge pahūtajātarūparajate pahūtavittūpakaraṇe pahūtadhanadhaññe. So ca hoti abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato, lābhī annassa pānassa vatthassa yānassa mālāgandhavilepanassa seyyāvasathapadīpeyyassa. So kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. So evaṁ pabbajito samāno pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe, catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacitto, satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati. Evaṁ kho, ānanda, sukkābhijātiyo samāno akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati.
Imā kho, ānanda, chaḷabhijātiyo”ti.
Tatiyaṁ.
And how does someone born into a bright class give rise to extinguishment, which is neither dark nor bright? It’s when some person is reborn in an eminent family … They shave off their hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. They give up the five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. They firmly establish their mind in the four kinds of mindfulness meditation. They truly develop the seven awakening factors. And then they give rise to extinguishment, which is neither dark nor bright. That’s how someone born into a bright class gives rise to extinguishment, which is neither dark nor bright.
These are the six classes of rebirth.”
“Này Ānanda, thế nào là người có sanh chủng trắng trong, lại đạt đến Niết-bàn không đen không trắng? Này Ānanda, ở đây, có người sanh vào gia đình cao quý – hoặc gia đình Sát-đế-lỵ giàu có, hoặc gia đình Bà-la-môn giàu có, hoặc gia đình gia chủ giàu có; là gia đình sung túc, nhiều của cải, nhiều tài sản, nhiều vàng bạc, nhiều vật dụng, nhiều tiền của lúa gạo. Và người ấy có dung sắc xinh đẹp, dễ nhìn, đáng mến, có được vẻ đẹp toàn hảo nhất; dễ dàng nhận được thức ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa xức, giường nằm, trú sở, đèn đuốc. Người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy từ bỏ năm triền cái là những tùy phiền não của tâm, làm trí tuệ suy yếu; với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, tu tập bảy giác chi như thật, và đạt đến Niết-bàn không đen không trắng. Này Ānanda, như vậy là người có sanh chủng trắng trong, lại đạt đến Niết-bàn không đen không trắng. Này Ānanda, đây là sáu loại sanh chủng.” (Kinh) thứ ba.