- Aṅguttara Nikāya 6.30
- 3. Anuttariyavagga
Bản dịch
AN 6.30 — Trên Tất Cả
Anuttariyasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?
TTC 2Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng, tùy niệm vô thượng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thấy vô thượng?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đi xem voi báu, đi xem ngựa báu, đi xem châu báu, hay đi xem các vật lớn nhỏ, hay đi xem Sa-môn, hay Bà-la-môn có tà kiến, có tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây có phải là thấy không? Ta nói rằng: Ðây là không thấy”. Sự thấy ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỷ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng. Còn nghe vô thượng là gì?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: “Ðây là không nghe”. Sự nghe ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỷ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng. Còn lợi đắc vô thượng là gì?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người được con, được vợ, được tài sản, được các vật cao thấp khác nhau, được lòng tin vào các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây có lợi đắc hay không? Ta nói rằng: “Ðây là không lợi đắc”. Lợi đắc ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỷ-kheo, đây là đắc lợi vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đắc lợi vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, đắc lợi vô thượng. Còn học tập vô thượng là gì?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người học tập về voi, học tập về ngựa, học tập về xe, học tập về cung pháp, học tập về kiếm pháp, học tập về các nghề cao thấp sai biệt hay học tập theo các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây là có học tập hay không? Ta nói rằng: “Ðây là không học tập”. Học tập ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai học tập Tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỷ-kheo, đây là học tập vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là học tập Tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là học tập vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng. Còn phục vụ vô thượng là như thế nào?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người phục vụ Sát-đế-ly, phục vụ Bà-la-môn, phục vụ gia chủ, phục vụ các người cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây là có phục vụ hay không? Ta nói rằng: “Ðây là không phục vụ”. Phục vụ ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai phục vụ Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỷ-kheo, đây là phục vụ vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là phục vụ Như Lai hay đệ tự Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là phục vụ vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng. Và thế nào là tùy niệm vô thượng?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tùy niệm được con, tùy niệm được vợ, tùy niệm được tài sản, tùy niệm được cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây là có tùy niệm hay không? Ta nói rằng: “Ðây là không tùy niệm”. Tùy niệm ấy, này các Tỷ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, ai tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỷ-kheo, tùy niệm ấy là vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin được an trú, với lòng ái mộ được an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tùy niệm vô thượng.
Này các Tỷ-kheo, có sáu tùy niệm này:
Ai được thấy tối thắng,
Và được nghe vô thượng,
Ðược lợi đắc vô thượng,
Vui học tập vô thượng,
An trú trong phục vụ,
Tu tập chuyên tùy niệm,
Liên hệ đến viễn ly,
Ðạt an ổn, bất tử,
Hoan hỷ, không phóng dật,
Thận trọng, hộ trì giới,
Khi thời đã chín muồi
Ðau khổ được đoạn tận.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 6.30
- 3. Unsurpassable
Unsurpassable
10. Kinh Vô Thượng
“Chayimāni, bhikkhave, anuttariyāni. Katamāni cha? Dassanānuttariyaṁ, savanānuttariyaṁ, lābhānuttariyaṁ, sikkhānuttariyaṁ, pāricariyānuttariyaṁ, anussatānuttariyanti.
“Mendicants, these six things are unsurpassable. What six? The unsurpassable seeing, listening, acquisition, training, service, and recollection.
30. Này các tỳ khưu, có sáu điều vô thượng này. Sáu điều nào? Sự thấy vô thượng, sự nghe vô thượng, sự được lợi lộc vô thượng, sự học tập vô thượng, sự phục vụ vô thượng, và sự tùy niệm vô thượng.
Katamañca, bhikkhave, dassanānuttariyaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco hatthiratanampi dassanāya gacchati, assaratanampi dassanāya gacchati, maṇiratanampi dassanāya gacchati, uccāvacaṁ vā pana dassanāya gacchati, samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā micchādiṭṭhikaṁ micchāpaṭipannaṁ dassanāya gacchati. Atthetaṁ, bhikkhave, dassanaṁ; netaṁ natthīti vadāmi. Tañca kho etaṁ, bhikkhave, dassanaṁ hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati. Yo ca kho, bhikkhave, tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā dassanāya gacchati niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno, etadānuttariyaṁ, bhikkhave, dassanānaṁ sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṁ tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā dassanāya gacchati niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dassanānuttariyaṁ. Iti dassanānuttariyaṁ.
Savanānuttariyañca kathaṁ hoti?
And what is the unsurpassable seeing? Some people go to see an elephant-treasure, a horse-treasure, a jewel-treasure, or a diverse spectrum of sights; or ascetics and brahmins of wrong view and wrong practice. There is such a seeing, I don’t deny it. That seeing is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. It doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. The unsurpassable seeing is when someone with settled faith and fondness, sure and devoted, goes to see a Realized One or their disciple. This is in order to purify sentient beings, to get past sorrow and crying, to make an end of pain and sadness, to discover the system, and to realize extinguishment. This is called the unsurpassable seeing. Such is the unsurpassable seeing.
But what of the unsurpassable hearing?
Này các tỳ khưu, thế nào là sự thấy vô thượng? Ở đây, này các tỳ khưu, có người đi xem tượng bảo, đi xem mã bảo, đi xem maṇi bảo, hoặc đi xem các cảnh sắc cao thấp khác nhau, hoặc đi xem sa-môn hay bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các tỳ khưu, sự thấy ấy có, Ta không nói là không có. Thế nhưng, này các tỳ khưu, sự thấy ấy là thấp kém, thô thiển, phàm tục, không phải của bậc thánh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Còn này các tỳ khưu, người nào đi đến yết kiến Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai với niềm tin đã an trú, với lòng thương mến đã an trú, đã nhất hướng, đã hoàn toàn tịnh tín, thì này các tỳ khưu, đây là sự thấy vô thượng trong các sự thấy, để cho chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để giác ngộ Niết-bàn; đó là việc đi đến yết kiến Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai với niềm tin đã an trú, với lòng thương mến đã an trú, đã nhất hướng, đã hoàn toàn tịnh tín. Này các tỳ khưu, đây được gọi là sự thấy vô thượng. Như vậy là sự thấy vô thượng.
Và thế nào là sự nghe vô thượng? Ở đây, này các tỳ khưu, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng đàn, đi nghe tiếng hát, hoặc đi nghe các âm thanh cao thấp khác nhau, hoặc đi nghe pháp của sa-môn hay bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các tỳ khưu, sự nghe ấy có, Ta không nói là không có. Thế nhưng, này các tỳ khưu, sự nghe ấy là thấp kém, thô thiển, phàm tục, không phải của bậc thánh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Còn này các tỳ khưu, người nào đi đến nghe pháp của Như Lai hoặc của đệ tử Như Lai với niềm tin đã an trú, với lòng thương mến đã an trú, đã nhất hướng, đã hoàn toàn tịnh tín, thì này các tỳ khưu, đây là sự nghe vô thượng trong các sự nghe, để cho chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để giác ngộ Niết-bàn; đó là việc đi đến nghe pháp của Như Lai hoặc của đệ tử Như Lai với niềm tin đã an trú, với lòng thương mến đã an trú, đã nhất hướng, đã hoàn toàn tịnh tín. Này các tỳ khưu, đây được gọi là sự nghe vô thượng. Như vậy là sự thấy vô thượng, sự nghe vô thượng.
Lābhānuttariyañca kathaṁ hoti? Idha, bhikkhave, ekacco puttalābhampi labhati, dāralābhampi labhati, dhanalābhampi labhati, uccāvacaṁ vā pana lābhaṁ labhati, samaṇe vā brāhmaṇe vā micchādiṭṭhike micchāpaṭipanne saddhaṁ paṭilabhati. Attheso, bhikkhave, lābho; neso natthīti vadāmi. So ca kho eso, bhikkhave, lābho hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati. Yo ca kho, bhikkhave, tathāgate vā tathāgatasāvake vā saddhaṁ paṭilabhati niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno, etadānuttariyaṁ, bhikkhave, lābhānaṁ sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṁ tathāgate vā tathāgatasāvake vā saddhaṁ paṭilabhati niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno. Idaṁ vuccati, bhikkhave, lābhānuttariyaṁ. Iti dassanānuttariyaṁ, savanānuttariyaṁ, lābhānuttariyaṁ.
But what of the unsurpassable acquisition? Some people acquire a child, a wife, wealth, or a diverse spectrum of things; or they acquire faith in an ascetic or brahmin of wrong view and wrong practice. There is such an acquisition, I don’t deny it. That acquisition … doesn’t lead to extinguishment. The unsurpassable acquisition is when someone with settled faith and fondness, sure and devoted, acquires faith in a Realized One or their disciple. … This is called the unsurpassable acquisition. Such is the unsurpassable seeing, hearing, and acquisition.
Và thế nào là sự được lợi lộc vô thượng? Ở đây, này các tỳ khưu, có người được con trai, được vợ, được của cải, hoặc được các lợi lộc cao thấp khác nhau, hoặc có được niềm tin nơi sa-môn hay bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các tỳ khưu, sự được lợi lộc ấy có, Ta không nói là không có. Thế nhưng, này các tỳ khưu, sự được lợi lộc ấy là thấp kém, thô thiển, phàm tục, không phải của bậc thánh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Còn này các tỳ khưu, người nào có được niềm tin nơi Như Lai hoặc nơi đệ tử của Như Lai với niềm tin đã an trú, với lòng thương mến đã an trú, đã nhất hướng, đã hoàn toàn tịnh tín, thì này các tỳ khưu, đây là sự được lợi lộc vô thượng trong các sự được lợi lộc, để cho chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để giác ngộ Niết-bàn; đó là việc có được niềm tin nơi Như Lai hoặc nơi đệ tử của Như Lai với niềm tin đã an trú, với lòng thương mến đã an trú, đã nhất hướng, đã hoàn toàn tịnh tín. Này các tỳ khưu, đây được gọi là sự được lợi lộc vô thượng. Như vậy là sự thấy vô thượng, sự nghe vô thượng, sự được lợi lộc vô thượng.
Sikkhānuttariyañca kathaṁ hoti? Idha, bhikkhave, ekacco hatthismimpi sikkhati, assasmimpi sikkhati, rathasmimpi sikkhati, dhanusmimpi sikkhati, tharusmimpi sikkhati, uccāvacaṁ vā pana sikkhati, samaṇassa vā brāhmaṇassa vā micchādiṭṭhikassa micchāpaṭipannassa sikkhati. Atthesā, bhikkhave, sikkhā; nesā natthīti vadāmi. Sā ca kho esā, bhikkhave, sikkhā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati. Yo ca kho, bhikkhave, tathāgatappavedite dhammavinaye adhisīlampi sikkhati, adhicittampi sikkhati, adhipaññampi sikkhati niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno, etadānuttariyaṁ, bhikkhave, sikkhānaṁ sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṁ tathāgatappavedite dhammavinaye adhisīlampi sikkhati, adhicittampi sikkhati, adhipaññampi sikkhati, niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno. Idaṁ vuccati, bhikkhave, sikkhānuttariyaṁ. Iti dassanānuttariyaṁ, savanānuttariyaṁ, lābhānuttariyaṁ, sikkhānuttariyaṁ.
But what of the unsurpassable training? Some people train in elephant riding, horse riding, chariot driving, archery, swordsmanship, or a diverse spectrum of things; or they train under an ascetic or brahmin of wrong view and wrong practice. There is such a training, I don’t deny it. That training … doesn’t lead to extinguishment. The unsurpassable training is when someone with settled faith and fondness, sure and devoted, trains in the higher ethics, the higher mind, and the higher wisdom in the teaching and training proclaimed by a Realized One. … This is called the unsurpassable training. Such is the unsurpassable seeing, hearing, acquisition, and training.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là sự học tập vô thượng? Ở đây, này các Tỳ khưu, có người học về voi, học về ngựa, học về xe, học về cung, học về gươm, hoặc học các nghề cao thấp khác nhau, hoặc học theo sa-môn hay bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ khưu, có sự học tập như vậy, Ta không nói là không có. Nhưng này các Tỳ khưu, sự học tập ấy là hạ liệt, thuộc dân làng, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên hệ đến lợi ích, không đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Còn này các Tỳ khưu, người nào có lòng tin vững chắc, lòng thương mến vững chắc, nhất hướng, hoàn toàn tịnh tín, học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng tâm, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, này các Tỳ khưu, đây là sự học tập vô thượng giữa các sự học tập, để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để diệt tận khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để thực chứng Niết-bàn, tức là học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng tâm, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin vững chắc, lòng thương mến vững chắc, nhất hướng, hoàn toàn tịnh tín. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự học tập vô thượng. Như vậy, có thấy vô thượng, nghe vô thượng, được vô thượng, học tập vô thượng.”
Pāricariyānuttariyañca kathaṁ hoti? Idha, bhikkhave, ekacco khattiyampi paricarati, brāhmaṇampi paricarati, gahapatimpi paricarati, uccāvacaṁ vā pana paricarati, samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā micchādiṭṭhikaṁ micchāpaṭipannaṁ paricarati. Atthesā, bhikkhave, pāricariyā; nesā natthīti vadāmi. Sā ca kho esā, bhikkhave, pāricariyā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā, na nibbidāya …pe… na nibbānāya saṁvattati. Yo ca kho, bhikkhave, tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā paricarati niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno, etadānuttariyaṁ, bhikkhave, pāricariyānaṁ sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṁ tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā paricarati niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno. Idaṁ vuccati, bhikkhave, pāricariyānuttariyaṁ. Iti dassanānuttariyaṁ, savanānuttariyaṁ, lābhānuttariyaṁ, sikkhānuttariyaṁ, pāricariyānuttariyaṁ.
But what of the unsurpassable service? Some people serve an aristocrat, a brahmin, a householder, or a diverse spectrum of people; or they serve ascetics and brahmins of wrong view and wrong practice. There is such service, I don’t deny it. That service … doesn’t lead to extinguishment. The unsurpassable service is when someone with settled faith and fondness, sure and devoted, serves a Realized One or their disciple. … This is called the unsurpassable service. Such is the unsurpassable seeing, listening, acquisition, training, and service.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là sự phục vụ vô thượng? Ở đây, này các Tỳ khưu, có người phục vụ Sát-đế-lỵ, phục vụ Bà-la-môn, phục vụ gia chủ, hoặc phục vụ những người cao thấp khác nhau, hoặc phục vụ sa-môn hay bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ khưu, có sự phục vụ như vậy, Ta không nói là không có. Nhưng này các Tỳ khưu, sự phục vụ ấy là hạ liệt, thuộc dân làng, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên hệ đến lợi ích, không đưa đến nhàm chán... cho đến... không đưa đến Niết-bàn. Còn này các Tỳ khưu, người nào có lòng tin vững chắc, lòng thương mến vững chắc, nhất hướng, hoàn toàn tịnh tín, phục vụ Như Lai hay đệ tử của Như Lai, này các Tỳ khưu, đây là sự phục vụ vô thượng giữa các sự phục vụ, để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để diệt tận khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để thực chứng Niết-bàn, tức là phục vụ Như Lai hay đệ tử của Như Lai, với lòng tin vững chắc, lòng thương mến vững chắc, nhất hướng, hoàn toàn tịnh tín. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự phục vụ vô thượng. Như vậy, có thấy vô thượng, nghe vô thượng, được vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng.”
Anussatānuttariyañca kathaṁ hoti? Idha, bhikkhave, ekacco puttalābhampi anussarati, dāralābhampi anussarati, dhanalābhampi anussarati, uccāvacaṁ vā pana lābhaṁ anussarati, samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā micchādiṭṭhikaṁ micchāpaṭipannaṁ anussarati. Atthesā, bhikkhave, anussati; nesā natthīti vadāmi. Sā ca kho esā, bhikkhave, anussati hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati. Yo ca kho, bhikkhave, tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā anussarati niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno, etadānuttariyaṁ, bhikkhave, anussatīnaṁ sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṁ tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā anussarati niviṭṭhasaddho niviṭṭhapemo ekantagato abhippasanno. Idaṁ vuccati, bhikkhave, anussatānuttariyaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, cha anuttariyānīti.
But what of the unsurpassable recollection? Some people recollect a child, a wife, wealth, or a diverse spectrum of things; or they recollect an ascetic or brahmin of wrong view and wrong practice. There is such recollection, I don’t deny it. That recollection is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. It doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. The unsurpassable recollection is when someone with settled faith and fondness, sure and devoted, recollects a Realized One or their disciple. … This is called the unsurpassable recollection.
These are the six unsurpassable things.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là sự tùy niệm vô thượng? Ở đây, này các Tỳ khưu, có người tùy niệm việc được con, tùy niệm việc được vợ, tùy niệm việc được của cải, hoặc tùy niệm các lợi lộc cao thấp khác nhau, hoặc tùy niệm sa-môn hay bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ khưu, có sự tùy niệm như vậy, Ta không nói là không có. Nhưng này các Tỳ khưu, sự tùy niệm ấy là hạ liệt, thuộc dân làng, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên hệ đến lợi ích, không đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Còn này các Tỳ khưu, người nào có lòng tin vững chắc, lòng thương mến vững chắc, nhất hướng, hoàn toàn tịnh tín, tùy niệm Như Lai hay đệ tử của Như Lai, này các Tỳ khưu, đây là sự tùy niệm vô thượng giữa các sự tùy niệm, để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để diệt tận khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để thực chứng Niết-bàn, tức là tùy niệm Như Lai hay đệ tử của Như Lai, với lòng tin vững chắc, lòng thương mến vững chắc, nhất hướng, hoàn toàn tịnh tín. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là sự tùy niệm vô thượng. Này các Tỳ khưu, đây là sáu pháp vô thượng.”
Ye dassanānuttaraṁ laddhā, savanañca anuttaraṁ; Lābhānuttariyaṁ laddhā, sikkhānuttariye ratā.
They’ve gained the unsurpassed seeing, the unsurpassed hearing, and the unsurpassable acquisition. They enjoy the unsurpassable training
“Những ai đã được thấy vô thượng, và nghe pháp vô thượng; đã được lợi lộc vô thượng, ưa thích trong học tập vô thượng.”
Upaṭṭhitā pāricariyā, bhāvayanti anussatiṁ; Vivekappaṭisaṁyuttaṁ, khemaṁ amatagāminiṁ.
and serve with care. Then they develop recollection connected with seclusion, which is safe, and leads to freedom from death.
“An trú trong sự phục vụ, họ tu tập tùy niệm; liên hệ đến viễn ly, an ổn, đưa đến bất tử.”
Appamāde pamuditā, nipakā sīlasaṁvutā; Te ve kālena paccenti, yattha dukkhaṁ nirujjhatī”ti.
Dasamaṁ.
They rejoice in diligence, alert and ethically restrained. And in time they arrive at the place where suffering ceases.”
“Hoan hỷ trong không dể duôi, bậc trí, hộ trì trong giới; các vị ấy đúng thời liễu tri, nơi khổ đau được đoạn diệt.” Kinh thứ mười.
Anuttariyavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Vô Thượng, thứ ba.
Sāmako aparihāniyo, Bhayaṁ himavānussati; Kaccāno dve ca samayā, Udāyī anuttariyenāti.
Sāmaka, Bất Suy Giảm, Sợ Hãi, Himavā, Tùy Niệm; Kaccāna, hai kinh Thời Điểm, Udāyī, và Vô Thượng.