- Aṅguttara Nikāya 5.48
- 5. Muṇḍarājavagga
Bản dịch
AN 5.48 — Sự Kiện Không Thể Có Ðược
Alabbhanīyaṭhānasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm sự kiện này không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?
TTC 2Phải bị già, muốn khỏi già, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Phải bị bệnh, muốn không bệnh… Phải bị chết, muốn không chết… Phải hoại diệt, muốn không hoại diệt… Phải bị tiêu diệt, muốn không tiêu diệt là một sự kiện không thể có dược bởi một Sa môn hay Bà la môn, bởi Ma hay Phạm Thiên, hay bởi một ai ở đời.
TTC 3Với kẻ phàm phu không học, này các Tỷ-kheo, phải bị già và già đến; khi già đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến, nhưng đối với loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị già, khi già đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, với kẻ phàm phu, không học phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến, nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; công việc không có xúc tiến, kẻ thù sẽ hoan hỷ, bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ phàm phu không học, bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.
TTC 5Với vị Thánh đệ tử có học, này các Tỷ-kheo, phải bị già và già đến; khi già đến, vị ấy suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị già, và già đến. Và nếu phải bị già và già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn.” Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn, vị Thánh đệ tử làm cho chính mình được hoàn toàn tịch tịnh.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, với vị Thánh đệ tử có học, phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến…phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, vị ấy suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến. không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự mình làm ưu não. Không sầu muộn, không bị bắn tên, vị Thánh đệ tử làm cho chính mình hoàn toàn tịch tịnh.
Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm sự kiện không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.
Chớ sầu, chớ than khóc,
Lợi ích được thật ít,
Biết nó sầu, nó khổ,
Kẻ địch tự vui sướng.
Do vậy, bậc Hiền trí,
Giữa các sự bất hạnh,
Không hoảng hốt rung sợ,
Biết phân tích, lợi ích.
Kẻ địch bị khổ não,
Thấy sắc diện không đổi,
Với tụng niệm văn chú,
Với lời thật khéo nói,
Với bố thí chân chánh,
Với truyền thống khéo giữ.
Chỗ nào được lợi ích,
Chỗ ấy gắng tinh cần.
Nếu biết lợi không được,
Cả ta và người khác,
Không sầu, biết chịu đựng,
Mong vị ấy nghĩ rằng:
Nay ta phải làm gì?
Phải kiên trì thế nào?
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.48
- 5. With King Muṇḍa
Things That Cannot Be Had
8. Kinh về những điều không thể đạt được
“Pañcimāni, bhikkhave, alabbhanīyāni ṭhānāni samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ. Katamāni pañca? ‘Jarādhammaṁ mā jīrī’ti alabbhanīyaṁ ṭhānaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
“Mendicants, there are five things that cannot be had by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world. What five? That someone liable to old age should not grow old.
48. Này các Tỳ khưu, có năm điều này không thể đạt được bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ ai trong thế gian. Năm điều nào? ‘Mong rằng cái có bản chất già đừng già đi’—đây là điều không thể đạt được bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ ai trong thế gian. ‘Mong rằng cái có bản chất bệnh đừng bệnh hoạn’... ‘Mong rằng cái có bản chất chết đừng chết đi’... ‘Mong rằng cái có bản chất tiêu hoại đừng tiêu hoại’... ‘Mong rằng cái có bản chất hủy diệt đừng hủy diệt’—đây là điều không thể đạt được bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ ai trong thế gian.
‘Tâu Đại vương, có năm điều này ở trên đời không thể đạt được bởi bất kỳ Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ ai khác. Năm điều ấy là gì? ‘Mong rằng cái gì có bản chất già, mong rằng nó đừng già,’ đây là điều không thể đạt được bởi bất kỳ Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ ai khác ở trên đời. ‘Mong rằng cái gì có bản chất bệnh, mong rằng nó đừng bệnh,’... tương tự... ‘Mong rằng cái gì có bản chất chết, mong rằng nó đừng chết,’... ‘Mong rằng cái gì có bản chất hủy hoại, mong rằng nó đừng hủy hoại,’... ‘Mong rằng cái gì có bản chất tiêu vong, mong rằng nó đừng tiêu vong,’ đây là điều không thể đạt được bởi bất kỳ Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ ai khác ở trên đời.
Assutavato, bhikkhave, puthujjanassa jarādhammaṁ jīrati. So jarādhamme jiṇṇe na iti paṭisañcikkhati: ‘na kho mayhevekassa jarādhammaṁ jīrati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ jarādhammaṁ jīrati. Ahañceva kho pana jarādhamme jiṇṇe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti. So jarādhamme jiṇṇe socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave: ‘assutavā puthujjano viddho savisena sokasallena attānaṁyeva paritāpeti’.
An unlearned ordinary person has someone liable to old age who grows old. But they don’t reflect on old age: ‘It’s not just me who has someone liable to old age who grows old. For as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn, they all have someone liable to old age who grows old. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to old age grows old, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to old age grows old, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called an unlearned ordinary person struck by sorrow’s poisoned arrow, who only mortifies themselves.
‘Tâu Đại vương, đối với kẻ phàm phu ít nghe, cái gì có bản chất già thì nó sẽ già. Khi cái có bản chất già trở nên già, người ấy không suy xét như sau: ‘Không phải chỉ riêng ta có cái gì có bản chất già rồi sẽ già, mà tất cả chúng sanh nào có đến, có đi, có chết, có sanh, tất cả chúng sanh ấy đều có cái gì có bản chất già rồi sẽ già. Nếu ta, khi cái có bản chất già trở nên già, lại sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, rơi vào mê loạn, thì cơm ăn cũng sẽ không ngon, thân thể cũng sẽ trở nên xấu xí, công việc cũng sẽ không tiến hành được, kẻ thù sẽ vui mừng, còn bạn bè sẽ buồn rầu.’ Do đó, khi cái có bản chất già trở nên già, người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, rơi vào mê loạn. Tâu Đại vương, người này được gọi là: ‘Kẻ phàm phu ít nghe, bị mũi tên sầu muộn có tẩm độc đâm phải, tự làm cho mình đau khổ.’
Puna caparaṁ, bhikkhave, assutavato puthujjanassa byādhidhammaṁ byādhīyati …pe… maraṇadhammaṁ mīyati … khayadhammaṁ khīyati … nassanadhammaṁ nassati. So nassanadhamme naṭṭhe na iti paṭisañcikkhati: ‘na kho mayhevekassa nassanadhammaṁ nassati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ nassanadhammaṁ nassati. Ahañceva kho pana nassanadhamme naṭṭhe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti. So nassanadhamme naṭṭhe socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave: ‘assutavā puthujjano viddho savisena sokasallena attānaṁyeva paritāpeti’.
Sutavato ca kho, bhikkhave, ariyasāvakassa jarādhammaṁ jīrati.
Furthermore, an unlearned ordinary person has someone liable to sickness … death … ending … perishing. But they don’t reflect on perishing: ‘It’s not just me who has someone liable to perishing who perishes. For as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn, they all have someone liable to perishing who perishes. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to perishing perishes, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to perishing perishes, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called an unlearned ordinary person struck by sorrow’s poisoned arrow, who only mortifies themselves.
A learned noble disciple has someone liable to old age who grows old.
‘Lại nữa, tâu Đại vương, đối với kẻ phàm phu ít nghe, cái gì có bản chất bệnh thì nó sẽ bệnh... tương tự... cái gì có bản chất chết thì nó sẽ chết... cái gì có bản chất hủy hoại thì nó sẽ hủy hoại... cái gì có bản chất tiêu vong thì nó sẽ tiêu vong. Khi cái có bản chất tiêu vong bị tiêu vong, người ấy không suy xét như sau: ‘Không phải chỉ riêng ta có cái gì có bản chất tiêu vong rồi sẽ tiêu vong, mà tất cả chúng sanh nào có đến, có đi, có chết, có sanh, tất cả chúng sanh ấy đều có cái gì có bản chất tiêu vong rồi sẽ tiêu vong. Nếu ta, khi cái có bản chất tiêu vong bị tiêu vong, lại sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, rơi vào mê loạn, thì cơm ăn cũng sẽ không ngon, thân thể cũng sẽ trở nên xấu xí, công việc cũng sẽ không tiến hành được, kẻ thù sẽ vui mừng, còn bạn bè sẽ buồn rầu.’ Do đó, khi cái có bản chất tiêu vong bị tiêu vong, người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, rơi vào mê loạn. Tâu Đại vương, người này được gọi là: ‘Kẻ phàm phu ít nghe, bị mũi tên sầu muộn có tẩm độc đâm phải, tự làm cho mình đau khổ.’
‘Còn tâu Đại vương, đối với vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, cái gì có bản chất già thì nó sẽ già. Khi cái có bản chất già trở nên già, vị ấy suy xét như sau: ‘Không phải chỉ riêng ta có cái gì có bản chất già rồi sẽ già, mà tất cả chúng sanh nào có đến, có đi, có chết, có sanh, tất cả chúng sanh ấy đều có cái gì có bản chất già rồi sẽ già. Nếu ta, khi cái có bản chất già trở nên già, lại sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, rơi vào mê loạn, thì cơm ăn cũng sẽ không ngon, thân thể cũng sẽ trở nên xấu xí, công việc cũng sẽ không tiến hành được, kẻ thù sẽ vui mừng, còn bạn bè sẽ buồn rầu.’ Do đó, khi cái có bản chất già trở nên già, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào mê loạn. Tâu Đại vương, người này được gọi là: ‘Vị Thánh đệ tử có nghe nhiều đã nhổ lên mũi tên sầu muộn có tẩm độc, mũi tên mà kẻ phàm phu ít nghe bị đâm phải và tự làm cho mình đau khổ. Vị Thánh đệ tử không sầu muộn, không còn mũi tên, tự mình làm cho mình được tịch tịnh.’
Puna caparaṁ, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa byādhidhammaṁ byādhīyati …pe… maraṇadhammaṁ mīyati … khayadhammaṁ khīyati … nassanadhammaṁ nassati. So nassanadhamme naṭṭhe iti paṭisañcikkhati: ‘na kho mayhevekassa nassanadhammaṁ nassati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ nassanadhammaṁ nassati. Ahañceva kho pana nassanadhamme naṭṭhe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti. So nassanadhamme naṭṭhe na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave: ‘sutavā ariyasāvako abbuhi savisaṁ sokasallaṁ, yena viddho assutavā puthujjano attānaṁyeva paritāpeti. Asoko visallo ariyasāvako attānaṁyeva parinibbāpetī’ti.
Furthermore, a learned noble disciple has someone liable to sickness … death … ending … perishing. So they reflect on perishing: ‘It’s not just me who has someone liable to perishing who perishes. For as long as sentient beings come and go, pass away and are reborn, they all have someone liable to perishing who perishes. If I were to sorrow and wail and lament, beating my breast and falling into confusion, just because someone liable to perishing perishes, I’d lose my appetite and my physical appearance would deteriorate. My work wouldn’t get done, my enemies would be encouraged, and my friends would be dispirited.’ And so, when someone liable to perishing perishes, they don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. This is called a learned noble disciple who has drawn out sorrow’s poisoned arrow, struck by which unlearned ordinary people only mortify themselves. Sorrowless, free of thorns, that noble disciple only extinguishes themselves.
‘Lại nữa, tâu Đại vương, đối với vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, cái gì có bản chất bệnh thì nó sẽ bệnh... tương tự... cái gì có bản chất chết thì nó sẽ chết... cái gì có bản chất hủy hoại thì nó sẽ hủy hoại... cái gì có bản chất tiêu vong thì nó sẽ tiêu vong. Khi cái có bản chất tiêu vong bị tiêu vong, vị ấy suy xét như sau: ‘Không phải chỉ riêng ta có cái gì có bản chất tiêu vong rồi sẽ tiêu vong, mà tất cả chúng sanh nào có đến, có đi, có chết, có sanh, tất cả chúng sanh ấy đều có cái gì có bản chất tiêu vong rồi sẽ tiêu vong. Nếu ta, khi cái có bản chất tiêu vong bị tiêu vong, lại sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, rơi vào mê loạn, thì cơm ăn cũng sẽ không ngon, thân thể cũng sẽ trở nên xấu xí, công việc cũng sẽ không tiến hành được, kẻ thù sẽ vui mừng, còn bạn bè sẽ buồn rầu.’ Do đó, khi cái có bản chất tiêu vong bị tiêu vong, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào mê loạn. Tâu Đại vương, người này được gọi là: ‘Vị Thánh đệ tử có nghe nhiều đã nhổ lên mũi tên sầu muộn có tẩm độc, mũi tên mà kẻ phàm phu ít nghe bị đâm phải và tự làm cho mình đau khổ. Vị Thánh đệ tử không sầu muộn, không còn mũi tên, tự mình làm cho mình được tịch tịnh.’
Imāni kho, bhikkhave, pañca alabbhanīyāni ṭhānāni samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasminti.
These are the five things that cannot be had by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.
Tâu Đại vương, thật vậy, có năm điều này trong thế gian không thể đạt được bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bởi bất kỳ ai khác.
Na socanāya paridevanāya, Atthodha labbhā api appakopi; Socantamenaṁ dukhitaṁ viditvā, Paccatthikā attamanā bhavanti.
Sorrowing and lamenting doesn’t do even a little bit of good. When they know that you’re sad, your enemies are encouraged.
Do sầu muộn, do than khóc, chẳng thể đạt được lợi ích gì, dù là nhỏ nhất. Thấy người ấy sầu muộn, đau khổ, kẻ thù địch lại lấy làm vui mừng.
Yato ca kho paṇḍito āpadāsu, Na vedhatī atthavinicchayaññū; Paccatthikāssa dukhitā bhavanti, Disvā mukhaṁ avikāraṁ purāṇaṁ.
When an astute person doesn’t waver <j>in the face of adversity, as they’re able to evaluate what’s beneficial, their enemies suffer, seeing that their normal expression doesn’t change.
Khi bậc hiền trí, người thấu rõ lợi ích, không run sợ trước tai họa, kẻ thù địch thấy gương mặt không đổi sắc như xưa của vị ấy, liền trở nên đau khổ.
Jappena mantena subhāsitena, Anuppadānena paveṇiyā vā; Yathā yathā yattha labhetha atthaṁ, Tathā tathā tattha parakkameyya.
Prayers, recitations, fine sayings, or charity of woven rugs: if by means of any such things you benefit, then by all means keep doing them.
Bằng lời cầu nguyện, bằng thần chú, bằng thiện ngôn, bằng cách tặng quà, hoặc bằng dòng dõi gia tộc; bằng bất cứ cách nào, ở bất cứ nơi đâu có thể đạt được lợi ích, hãy nỗ lực theo cách đó, ở nơi đó.
Sace pajāneyya alabbhaneyyo, Mayāva aññena vā esa attho; Asocamāno adhivāsayeyya, Kammaṁ daḷhaṁ kinti karomi dānī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
But if you understand that ‘this good thing can’t be had by me or by anyone else’, you should accept it without sorrowing, thinking: ‘The deed is powerful. What can I do now?’”
Nếu biết rằng lợi ích này không thể đạt được, bởi ta hay bởi người khác, thì không nên sầu muộn mà hãy kham nhẫn, (suy xét rằng): ‘Nghiệp đã vững chắc, giờ ta có thể làm gì đây?’