- Aṅguttara Nikāya 5.234
- 24. Āvāsikavagga
Bản dịch
AN 5.234 — Giúp Ðỡ Nhiều
Bahūpakārasutta
TTC 1—Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú tại chỗ giúp đỡ rất nhiều cho trú xứ ấy. Thế nào là năm?
TTC 2Có giới… và học tập trong các học pháp; nghe nhiều… khéo thành tựu nhờ chánh kiến; vị ấy sửa chữa những gì bị gãy, bị hủy hoại. Khi đại chúng Tỷ-kheo đi đến từ nhiều địa phương khác nhau, vị ấy nói với các gia chủ đi đến như sau: “Nay đại chúng Tỷ-kheo đã đến từ nhiều địa phương khác nhau. Các vị hãy làm các phước đức. Nay là thời làm các phước đức”; chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú tại chỗ giúp đỡ rất nhiều cho trú xứ ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.234
- 24. A Resident Mendicant
Very Helpful
4. Kinh Hỗ Trợ Nhiều
“Pañcahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato āvāsiko bhikkhu āvāsassa bahūpakāro hoti. Katamehi pañcahi?
Sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu;
bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā;
khaṇḍaphullaṁ paṭisaṅkharoti;
mahā kho pana bhikkhusaṅgho abhikkanto nānāverajjakā bhikkhū gihīnaṁ upasaṅkamitvā āroceti:
‘mahā kho, āvuso, bhikkhusaṅgho abhikkanto nānāverajjakā bhikkhū, karotha puññāni, samayo puññāni kātun’ti;
catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato āvāsiko bhikkhu āvāsassa bahūpakāro hotī”ti.
Catutthaṁ.
“Mendicants, a resident mendicant with five qualities is very helpful to the monastery. What five?
They’re ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.
They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s totally full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reciting them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically.
They repair what is decayed and damaged.
When a large mendicant Saṅgha is arriving with mendicants from abroad, they go to the lay people and announce:
‘A large mendicant Saṅgha is arriving with mendicants from abroad. Make merit! Now is the time to make merit!’
They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
A resident mendicant with these five qualities is very helpful to the monastery.”
“Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trú trì có đầy đủ năm pháp này thì hỗ trợ rất nhiều cho trú xứ. Năm pháp ấy là gì? Vị ấy có giới hạnh... cho đến... chấp nhận và tu học trong các học giới; vị ấy đa văn... cho đến... đã khéo thông đạt bằng tri kiến; vị ấy sửa chữa những gì bị hư hỏng và đổ nát; và khi một Tăng đoàn lớn gồm các Tỳ khưu từ nhiều vùng khác nhau đến, vị ấy đến gặp các gia chủ và thông báo: 'Này các đạo hữu, một Tăng đoàn lớn gồm các Tỳ khưu từ nhiều vùng khác nhau đã đến. Hãy tạo phước! Đây là lúc để tạo phước!'; vị ấy đạt được bốn thiền thuộc về tâm cao thượng, là những trú xứ an lạc ngay trong hiện tại, một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trú trì có đầy đủ năm pháp này thì hỗ trợ rất nhiều cho trú xứ.” Kinh thứ tư.