- Aṅguttara Nikāya 5.233
- 24. Āvāsikavagga
Bản dịch
AN 5.233 — Làm Cho Chói Sáng
Sobhanasutta
TTC 1—Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú tại chỗ làm chói sáng chỗ ấy. Thế nào là năm?
TTC 2Có giới sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn… và học tập trong các học pháp; nghe nhiều… khéo thành tựu nhờ chánh kiến; thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn… giải thích nghĩa lý minh xác; có năng lực với pháp thoại nêu rõ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ những người đến yết kiến; chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú tại chỗ làm chói sáng chỗ ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.233
- 24. A Resident Mendicant
Grace
3. Kinh Làm Đẹp
“Pañcahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato āvāsiko bhikkhu āvāsaṁ sobheti. Katamehi pañcahi?
Sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu;
bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā;
kalyāṇavāco hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā;
paṭibalo hoti upasaṅkamante dhammiyā kathāya sandassetuṁ samādapetuṁ samuttejetuṁ sampahaṁsetuṁ;
catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato āvāsiko bhikkhu āvāsaṁ sobhetī”ti.
Tatiyaṁ.
“Mendicants, a resident mendicant with five qualities graces the monastery. What five?
They’re ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.
They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s totally full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reciting them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically.
They’re a good speaker who enunciates well, with a polished, clear, and articulate voice that expresses the meaning.
They’re able to educate, encourage, fire up, and inspire those who approach them with a Dhamma talk.
They get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
A resident mendicant with these five qualities graces the monastery.”
232. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trú trì có đầy đủ năm pháp này thì làm đẹp cho trú xứ. Năm pháp ấy là gì? Vị ấy có giới hạnh... cho đến... chấp nhận và tu học trong các học giới; vị ấy đa văn... cho đến... đã khéo thông đạt bằng tri kiến; vị ấy có lời nói tốt đẹp, có cách diễn đạt tốt đẹp, có lời nói tao nhã, rõ ràng, không lắp bắp, làm sáng tỏ ý nghĩa; vị ấy có khả năng chỉ dạy, khuyến khích, khích lệ, và làm cho phấn khởi những người đến gần bằng một bài pháp thoại; vị ấy đạt được bốn thiền thuộc về tâm cao thượng, là những trú xứ an lạc ngay trong hiện tại, một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trú trì có đầy đủ năm pháp này thì làm đẹp cho trú xứ.” Kinh thứ ba.