- Aṅguttara Nikāya 5.212
- 22. Akkosakavagga
Bản dịch
AN 5.212 — Ðấu Tranh
Bhaṇḍanakārakasutta
TTC 1—Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, là người gây ra cãi cọ, là người gây ra tranh luận, là người gây ra đấu tranh, là người gây ra các cuộc đấu khẩu, là người gây ra kiện tụng trong Tăng chúng. Vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại. Thế nào là năm?
TTC 2Không chứng điều chưa chứng được; thối thất điều đã chứng được; tiếng ác đồn khắp; khi mạng chung, tâm bị mê loạn; sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, là người gây ra cãi cọ, là người gây ra tranh luận, là người gây ra đấu tranh, là người gây ra đấu khẩu, là người gây ra kiện tụng trong Tăng chúng. Vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.212
- 22. Abuse
Starting Fights
2. Kinh Về Người Gây Tranh Cãi
“Yo so, bhikkhave, bhikkhu bhaṇḍanakārako kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako, tassa pañca ādīnavā pāṭikaṅkhā. Katame pañca? Anadhigataṁ nādhigacchati, adhigatā parihāyati, pāpako kittisaddo abbhuggacchati, sammūḷho kālaṁ karoti, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu bhaṇḍanakārako kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako, tassa ime pañca ādīnavā pāṭikaṅkhā”ti.
Dutiyaṁ.
“Mendicants, a mendicant who starts fights, quarrels, disputes, debates, and disciplinary issues in the Saṅgha can expect five drawbacks. What five? They don’t achieve the unachieved. What they have achieved falls away. They get a bad reputation. They feel lost when they die. And when their body breaks up, after death, they are reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. A mendicant who starts fights, quarrels, disputes, debates, and disciplinary issues in the Saṅgha can expect these five drawbacks.”
212. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào hay gây gổ, hay cãi vã, hay tranh luận, hay nói nhiều, hay gây ra tranh tụng trong Tăng chúng, vị ấy có thể bị chờ đợi năm điều nguy hại. Năm điều nào? Không chứng đắc được pháp chưa chứng đắc, bị thối thất pháp đã chứng đắc, tiếng xấu đồn xa, mệnh chung trong trạng thái mê loạn, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào hay gây gổ, hay cãi vã, hay tranh luận, hay nói nhiều, hay gây ra tranh tụng trong Tăng chúng, vị ấy có thể bị chờ đợi năm điều nguy hại này.” (Kinh) thứ hai.