- Aṅguttara Nikāya 5.206
- 21. Kimilavagga
Bản dịch
AN 5.206 — Tâm Triền Phược
Vinibandhasutta
TTC 1Này các Tỷ-kheo, có năm tâm triền phược này. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với cái dục, không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt não, không phải không khát ái. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với cái dục, không phải không tham ái… không phải không khát ái, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đối với thân không phải không tham ái… đối với sắc… Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc sàng tọa, về khoái lạc ngủ nghỉ, về khoái lạc thụy miên, Tỷ-kheo nào sống Phạm hạnh với mong cầu được sanh Thiên giới, với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác!”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống Phạm hạnh… như vậy là tâm triền phược thứ năm.
Này các Tỷ-kheo, có năm tâm triền phược này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.206
- 21. With Kimbila
Shackles
6. Kinh Vinibandha (Sự Trói Buộc)
“Pañcime, bhikkhave, cetasovinibandhā. Katame pañca? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, ayaṁ paṭhamo cetasovinibandho.
“Mendicants, there are these five shackles of the heart. What five? Firstly, a mendicant isn’t free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first shackle of the heart.
206. Này các tỳ khưu, có năm pháp trói buộc của tâm này. Thế nào là năm? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu chưa ly tham, chưa đoạn trừ dục vọng, chưa đoạn trừ ái luyến, chưa đoạn trừ khao khát, chưa đoạn trừ nhiệt não, chưa đoạn trừ ái dục đối với các dục. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào chưa ly tham, chưa đoạn trừ dục vọng, chưa đoạn trừ ái luyến, chưa đoạn trừ khao khát, chưa đoạn trừ nhiệt não, chưa đoạn trừ ái dục đối với các dục thì tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn thì đây là pháp trói buộc của tâm thứ nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu kāye avītarāgo hoti …pe… rūpe avītarāgo hoti …pe… yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati …pe… aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, ayaṁ pañcamo cetasovinibandho. Ime kho, bhikkhave, pañca cetasovinibandhā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Furthermore, a mendicant isn’t free of greed for the body … They’re not free of greed for form … They eat as much as they like until their belly is full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing … They lead the spiritual life hoping to be reborn in one of the orders of gods, thinking: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth shackle of the heart. These are the five shackles of the heart.”
Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu chưa ly tham đối với thân... (như trên)... chưa ly tham đối với sắc... (như trên)... sau khi ăn no đến mức thỏa thích, vị ấy sống chuyên tâm vào lạc thú của việc nằm, lạc thú của việc nghiêng mình, lạc thú của việc ngủ gật... (như trên)... vị ấy thực hành phạm hạnh với mong cầu được sanh vào một cõi trời nào đó: 'Nhờ giới này, hay hạnh này, hay khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một thiên chúng nào đó'. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào thực hành phạm hạnh với mong cầu được sanh vào một cõi trời nào đó: 'Nhờ giới này, hay hạnh này, hay khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một thiên chúng nào đó', thì tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn thì đây là pháp trói buộc của tâm thứ năm. Này các tỳ khưu, đây chính là năm pháp trói buộc của tâm. (Kinh thứ) sáu.