- Aṅguttara Nikāya 5.174
- 18. Upāsakavagga
Verasutta
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
Bản dịch
Verasutta
TTC 1Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
TTC 2—Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu.
Này Gia chủ, ai không đoạn tận năm sợ hãi hận thù này, được gọi là ác giới và sanh vào địa ngục.
TTC 3—Này Gia chủ, ai đoạn tận năm sợ hãi hận thù, được gọi là có giới và sanh lên cõi Trời. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho…đắm say rượu men, rượu nấu.
Này Gia chủ, ai đoạn tận năm sợ hãi hận thù này, được gọi là có giới và sanh lên cõi Trời.
TTC 4Này Gia chủ, do duyên sát sanh, người sát sanh hiện tại sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ sát sanh, hiện tại không sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau không sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm không cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh, như vậy, sợ hãi hận thù ấy được tịnh chỉ.
TTC 5Này Gia chủ, người lấy của không cho…Này Gia chủ, người có tà hạnh trong các dục…Này Gia chủ, người nói láo…Này Gia chủ, người đắm say rượu men, rượu nấu, do duyên đắm say rượu men, rượu nấu, hiện tại sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, hiện tại không sanh khởi sợ hãi hận thù, đời sau không sanh khởi sợ hãi hận thù, tâm không cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy, sợ hãi hận thù ấy được tịnh chỉ.
Ai sát hại sanh linh,
Và nói láo ở đời,
Lấy của cải không cho,
Ði đến vợ người khác,
Và người mãi đắm say,
Uống rượu men, rượu nấu,
Không đoạn năm hận thù,
Ðược gọi là ác giới,
Mạng chung, sanh ác tuệ,
Bị rơi vào địa ngục.Ai không hại sanh linh,
Không nói láo ở đời,
Không lấy của không cho,
Không đi đến vợ người,
Người nào không đắm say,
Rượu men và rượu nấu,
Ðoạn tận năm hận thù,
Ðược gọi là có giới,
Mạng chung, sanh trí tuệ,
Ðược sanh lên cõi lành.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
174. Rồi thì, gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến nơi đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một nơi thích hợp. Đức Thế Tôn đã nói điều này đến gia chủ Anāthapiṇḍika đang ngồi ở một nơi thích hợp:
“Pañca, gahapati, bhayāni verāni appahāya ‘dussīlo’ iti vuccati, nirayañca upapajjati. Katamāni pañca? Pāṇātipātaṁ, adinnādānaṁ, kāmesumicchācāraṁ, musāvādaṁ, surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ—imāni kho, gahapati, pañca bhayāni verāni appahāya ‘dussīlo’ iti vuccati, nirayañca upapajjati.
“Householder, unless these five fears and enmities are given up, one is said to be unethical, and is reborn in hell. What five? Killing living creatures, stealing, sexual misconduct, lying, and intoxicants of beer, wine, and liquor. Unless these five fears and enmities are given up, one is said to be unethical, and is reborn in hell.
“Này gia chủ, do không từ bỏ năm sự sợ hãi, oan trái này, nên được gọi là ‘người ác giới’, và sanh vào địa ngục. Năm điều nào? Sát sanh, trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói dối, uống rượu men rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi. Này gia chủ, chính do không từ bỏ năm sự sợ hãi, oan trái này, nên được gọi là ‘người ác giới’, và sanh vào địa ngục.”
Pañca, gahapati, bhayāni verāni pahāya ‘sīlavā’ iti vuccati, sugatiñca upapajjati. Katamāni pañca? Pāṇātipātaṁ, adinnādānaṁ, kāmesumicchācāraṁ, musāvādaṁ, surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ—imāni kho, gahapati, pañca bhayāni verāni pahāya ‘sīlavā’ iti vuccati, sugatiñca upapajjati.
Once these five fears and enmities are given up, one is said to be ethical, and is reborn in a good place. What five? Killing living creatures, stealing, sexual misconduct, lying, and intoxicants of beer, wine, and liquor. Once these five fears and enmities are given up, one is said to be ethical, and is reborn in a good place.
“Này gia chủ, do từ bỏ năm sự sợ hãi, oan trái này, nên được gọi là ‘người có giới’, và sanh vào cõi lành. Năm điều nào? Sát sanh, trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói dối, uống rượu men rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi. Này gia chủ, chính do từ bỏ năm sự sợ hãi, oan trái này, nên được gọi là ‘người có giới’, và sanh vào cõi lành.”
Yaṁ, gahapati, pāṇātipātī pāṇātipātapaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, pāṇātipātā paṭivirato neva diṭṭhadhammikaṁ bhayaṁ veraṁ pasavati, na samparāyikaṁ bhayaṁ veraṁ pasavati, na cetasikaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Pāṇātipātā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
Anyone who kills living creatures brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. Anyone who refrains from killing living creatures does not brim with fear and enmity either in this life or in lives to come, and doesn’t experience mental pain and sadness. So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from killing living creatures.
“Này gia chủ, người sát sanh, do duyên sát sanh, làm phát sanh sự sợ hãi và oan trái trong hiện tại, làm phát sanh sự sợ hãi và oan trái trong đời sau, và cảm nhận nỗi khổ, ưu về tâm. Người từ bỏ sát sanh thì không làm phát sanh sự sợ hãi và oan trái trong hiện tại, không làm phát sanh sự sợ hãi và oan trái trong đời sau, và không cảm nhận nỗi khổ, ưu về tâm. Đối với người từ bỏ sát sanh, như vậy sự sợ hãi, oan trái ấy được lắng dịu.”
Yaṁ, gahapati, adinnādāyī …pe….
Anyone who steals …
“Này gia chủ, người trộm cắp ... cho đến ...”
Yaṁ, gahapati, kāmesumicchācārī …pe….
Anyone who commits sexual misconduct …
“Này gia chủ, người tà hạnh trong các dục ... cho đến ...”
Yaṁ, gahapati, musāvādī …pe….
Anyone who lies …
“Này gia chủ, người nói dối ... cho đến ...”
Yaṁ, gahapati, surāmerayamajjapamādaṭṭhāyī surāmerayamajjapamādaṭṭhānapaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati, cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato neva diṭṭhadhammikaṁ bhayaṁ veraṁ pasavati, na samparāyikaṁ bhayaṁ veraṁ pasavati, na cetasikaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hotīti.
Anyone who consumes beer, wine, and liquor intoxicants brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. Anyone who refrains from beer, wine, and liquor intoxicants does not brim with fear and enmity either in this life or in lives to come, and doesn’t experience mental pain and sadness. So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from beer, wine, and liquor intoxicants.
“Này gia chủ, người uống rượu men rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi, do duyên uống rượu men rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi, làm phát sanh sự sợ hãi và oan trái trong hiện tại, làm phát sanh sự sợ hãi và oan trái trong đời sau, và cảm nhận nỗi khổ, ưu về tâm. Người từ bỏ uống rượu men rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi thì không làm phát sanh sự sợ hãi và oan trái trong hiện tại, không làm phát sanh sự sợ hãi và oan trái trong đời sau, và không cảm nhận nỗi khổ, ưu về tâm. Đối với người từ bỏ uống rượu men rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi, như vậy sự sợ hãi, oan trái ấy được lắng dịu.”
Yo pāṇamatipāteti, musāvādañca bhāsati; Loke adinnaṁ ādiyati, paradārañca gacchati; Surāmerayapānañca, yo naro anuyuñjati.
Someone in this world who kills living creatures, speaks falsely, steals, commits adultery, and indulges in drinking beer and wine—
“Người nào sát hại mạng sống, và nói lời dối trá; ở đời lấy vật không được cho, và đi đến vợ người; và người nào chuyên tâm vào việc uống rượu men rượu nấu.”
Appahāya pañca verāni, dussīlo iti vuccati; Kāyassa bhedā duppañño, nirayaṁ sopapajjati.
unless they give up these five threats, they’re said to be unethical. When their body breaks up, that witless person is reborn in hell.
“Do không từ bỏ năm oan trái, nên được gọi là ‘người ác giới’; sau khi thân hoại, người không trí tuệ ấy sanh vào địa ngục.”
Yo pāṇaṁ nātipāteti, musāvādaṁ na bhāsati; Loke adinnaṁ nādiyati, paradāraṁ na gacchati; Surāmerayapānañca, yo naro nānuyuñjati.
But someone in this world who doesn’t kill living creatures, speak falsely, steal, commit adultery, or indulge in drinking beer and wine—
“Người nào không sát hại mạng sống, không nói lời dối trá; ở đời không lấy vật không được cho, không đi đến vợ người; và người nào không chuyên tâm vào việc uống rượu men rượu nấu.”
Pahāya pañca verāni, sīlavā iti vuccati; Kāyassa bhedā sappañño, sugatiṁ sopapajjatī”ti.
Catutthaṁ.
having given up these five threats, they’re said to be ethical. When their body breaks up, that wise person is reborn in a good place.”
“Do từ bỏ năm oan trái, nên được gọi là ‘người có giới’; sau khi thân hoại, người có trí tuệ ấy sanh vào cõi lành.” Kinh thứ tư.