- Aṅguttara Nikāya 5.142
- 15. Tikaṇḍakīvagga
Bản dịch
AN 5.142 — Làm Sai Lạc
Ārabhatisutta
TTC 1—Có năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm điều vi phạm và hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm điều vi phạm, nhưng không hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, không có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không làm điều vi phạm, không có hối hận, và như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt, không có dư tàn.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này làm điều vi phạm và hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây, các pháp ác bất thiện ấy khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn. Hạng người này cần phải được nói như sau: “Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm đã có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận được tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi đoạn tận các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm, sau khi loại bỏ các lậu hoặc được sanh do hối hận, hãy tu tập tâm và tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy”.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người làm điều vi phạm, nhưng không hối hận, và không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh, được đoạn diệt không có dư tàn. Người này cần phải được nói như sau: “Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm đã có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận không có tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi đoạn tận các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm, hãy tu tập tâm và tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy”.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này không làm điều vi phạm, có hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh, được đoạn diệt không có dư tàn. Người này cần phải được nói như sau: “Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm không có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận có tăng trưởng. Lành thay, nếu Tôn giả sau khi loại bỏ các lậu hoặc được sanh do hối hận, hãy tu tập tâm giải thoát, tuệ giải thoát! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy”.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng người này không làm điều vi phạm, không hối hận, không như thật biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; chính ở đây các pháp ác bất thiện ấy đã sanh được đoạn diệt không có dư tàn. Người này cần phải được nói như sau: “Các lậu hoặc được sanh do làm điều vi phạm không có mặt nơi Tôn giả. Các lậu hoặc được sanh do hối hận không có tăng trưởng. Lành thay, Tôn giả hãy tu tập tâm và tuệ! Như vậy, Tôn giả sẽ trở thành đồng đẳng với hạng người thứ năm ấy”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, bốn hạng người này, với hạng người thứ năm được giáo giới như vậy, được khuyên dạy như vậy, dần dần đạt đến sự đoạn diệt các lậu hoặc.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.142
- 15. At Tikaṇḍakī
Transgression
2. Kinh Phạm Giới
“Pañcime, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārabhati ca vippaṭisārī ca hoti; tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
“Mendicants, these five individuals are found in the world. What five?
One individual transgresses and regrets it. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
142. Này các Tỳ khưu, có năm hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Thế nào là năm? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người vừa phạm giới, vừa hối hận; và vị ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo ārabhati, na vippaṭisārī hoti; tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
One individual transgresses and doesn’t regret it. And they don’t understand …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người phạm giới, nhưng không hối hận; và vị ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo na ārabhati, vippaṭisārī hoti; tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
One individual doesn’t transgress yet still feels regret. And they don’t understand …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người không phạm giới, nhưng hối hận; và vị ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo na ārabhati na vippaṭisārī hoti; tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
One individual neither transgresses nor regrets. But they don’t understand …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người không phạm giới, cũng không hối hận; và vị ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo na ārabhati na vippaṭisārī hoti; tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.
One individual neither transgresses nor regrets. And they do understand where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người không phạm giới, cũng không hối hận; và vị ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo ārabhati ca vippaṭisārī ca hoti, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti, so evamassa vacanīyo:
Take the case of the individual who transgresses and regrets it. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where those arisen bad, unskillful qualities cease without remainder. They should be told:
Này các Tỳ khưu, trong số đó, người nào vừa phạm giới, vừa hối hận, và không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nơi mà các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi của vị ấy được đoạn diệt không còn dư tàn, người ấy nên được nói như sau: ‘Thưa Hiền giả, các lậu hoặc sanh từ sự phạm giới đang hiện hữu nơi ngài, các lậu hoặc sanh từ sự hối hận đang tăng trưởng. Lành thay, mong Hiền giả hãy từ bỏ các lậu hoặc sanh từ sự phạm giới, hãy xua tan các lậu hoặc sanh từ sự hối hận, rồi tu tập tâm và tuệ. Như vậy, Hiền giả sẽ trở nên ngang bằng với hạng người thứ năm kia’.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo ārabhati na vippaṭisārī hoti, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti, so evamassa vacanīyo: ‘āyasmato kho ārambhajā āsavā saṁvijjanti, vippaṭisārajā āsavā na pavaḍḍhanti, sādhu vatāyasmā ārambhaje āsave pahāya cittaṁ paññañca bhāvetu; evamāyasmā amunā pañcamena puggalena samasamo bhavissatī’ti.
Take the case of the individual who transgresses and doesn’t regret it. And they don’t understand … They should be told: ‘Venerable, the defilements born of transgression are found in you, but the defilements born of regret don’t grow. You would do well to give up the defilements born of transgression, and then develop the mind and wisdom. In this way you’ll become just like the fifth individual.’
Này các Tỳ khưu, trong số ấy, có hạng người có vi phạm, không có hối hận, và vị ấy không như thật biết được tâm giải thoát, tuệ giải thoát là nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn, vị ấy cần được nói như sau: ‘Thưa Hiền giả, các lậu hoặc sanh từ sự vi phạm có hiện hữu nơi Hiền giả, các lậu hoặc sanh từ sự hối hận không tăng trưởng. Lành thay, mong Hiền giả hãy từ bỏ các lậu hoặc sanh từ sự vi phạm, hãy tu tập tâm và tuệ; làm như vậy, Hiền giả sẽ trở nên ngang bằng với hạng người thứ năm kia.’
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo na ārabhati vippaṭisārī hoti, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti, so evamassa vacanīyo: ‘āyasmato kho ārambhajā āsavā na saṁvijjanti, vippaṭisārajā āsavā pavaḍḍhanti, sādhu vatāyasmā vippaṭisāraje āsave paṭivinodetvā cittaṁ paññañca bhāvetu; evamāyasmā amunā pañcamena puggalena samasamo bhavissatī’ti.
Take the case of the individual who doesn’t transgress yet feels regret. And they don’t understand … They should be told: ‘Venerable, the defilements born of transgression are not found in you, yet the defilements born of regret grow. You would do well to dispel the defilements born of regret, and then develop the mind and wisdom. In this way you’ll become just like the fifth individual.’
Này các Tỳ khưu, trong số ấy, có hạng người không vi phạm, có hối hận, và vị ấy không như thật biết được tâm giải thoát, tuệ giải thoát là nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn, vị ấy cần được nói như sau: ‘Thưa Hiền giả, các lậu hoặc sanh từ sự vi phạm không hiện hữu nơi Hiền giả, các lậu hoặc sanh từ sự hối hận có tăng trưởng. Lành thay, mong Hiền giả hãy loại trừ các lậu hoặc sanh từ sự hối hận, hãy tu tập tâm và tuệ; làm như vậy, Hiền giả sẽ trở nên ngang bằng với hạng người thứ năm kia.’
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ puggalo na ārabhati na vippaṭisārī hoti, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa te uppannā pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti, so evamassa vacanīyo: ‘āyasmato kho ārambhajā āsavā na saṁvijjanti, vippaṭisārajā āsavā na pavaḍḍhanti, sādhu vatāyasmā cittaṁ paññañca bhāvetu; evamāyasmā amunā pañcamena puggalena samasamo bhavissatī’ti.
Take the case of the individual who neither transgresses nor regrets. But they don’t understand … They should be told: ‘Venerable, the defilements born of transgression are not found in you, and the defilements born of regret don’t grow. You would do well to develop the mind and wisdom. In this way you’ll become just like the fifth individual.’
Này các Tỳ khưu, trong số ấy, có hạng người không vi phạm, không có hối hận, và vị ấy không như thật biết được tâm giải thoát, tuệ giải thoát là nơi mà các pháp ác bất thiện đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn, vị ấy cần được nói như sau: ‘Thưa Hiền giả, các lậu hoặc sanh từ sự vi phạm không hiện hữu nơi Hiền giả, các lậu hoặc sanh từ sự hối hận cũng không tăng trưởng. Lành thay, mong Hiền giả hãy tu tập tâm và tuệ; làm như vậy, Hiền giả sẽ trở nên ngang bằng với hạng người thứ năm kia.’
Iti kho, bhikkhave, ime cattāro puggalā amunā pañcamena puggalena evaṁ ovadiyamānā evaṁ anusāsiyamānā anupubbena āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇantī”ti.
Dutiyaṁ.
And so, mendicants, when these four individuals are advised and instructed by comparison with the fifth individual, they gradually attain the ending of defilements.”
Như vậy đó, này các Tỳ khưu, bốn hạng người này, khi được hạng người thứ năm kia khuyên dạy và chỉ bảo như vậy, đã tuần tự đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. (Kinh thứ hai).