- Aṅguttara Nikāya 5.139
- 14. Rājavagga
Bản dịch
AN 5.139 — Không Có Thể Kham Nhẫn
Akkhamasutta
TTC 1—Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, con voi của vua không xứng đáng cho vua, không là tài sản của vua, không được xem là một biểu tượng của vua. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng, không kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham nhẫn các xúc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các sắc?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua, khi đi đến chiến trận, thấy đoàn voi hay thấy đoàn ngựa, hay thấy đoàn xe, hay thấy đoàn bộ binh đã chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn đối với các sắc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các tiếng?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua, đi đến chiến trận, khi nghe tiếng voi, nghe tiếng ngựa, nghe tiếng xe, nghe tiếng bộ binh, hay nghe tiếng trống lớn, thanh la, tiếng tù và, tiếng trống nhỏ, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn các tiếng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các hương?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua đi đến chiến trận, khi đó ngửi mùi phân và nước tiểu của các con voi của vua thuộc loại quý chủng đã quen chiến trận, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các hương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các vị?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua khi đi đến chiến trận, chán ngấy một máng cỏ và nước, hay chán ngấy hai, ba, bốn hay năm máng cỏ và nước, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các vị. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các xúc?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua đi đến chiến trận, khi bị trúng một mũi tên, hay hai, hay ba, hay bốn, hay năm mũi tên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các xúc.
Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, một con voi của vua không xứng đáng của vua, không là tài sản của vua, không được xem là một biểu tượng của vua. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một vị Tỷ-kheo thành tựu năm pháp không đáng cung kính, không đáng tôn trọng, không đáng cúng dường, không đáng chắp tay, không còn là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng, không kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham nhẫn các xúc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo không kham nhẫn các sắc?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc liền tham đắm các sắc khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không kham nhẫn các sắc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không kham nhẫn các tiếng?
TTC 10Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng liền tham đắm các tiếng khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không kham nhẫn các tiếng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không kham nhẫn các hương?
TTC 11Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mũi ngửi hương liền tham đắm các hương khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không kham nhẫn các hương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không kham nhẫn các vị?
TTC 12Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi lưỡi nếm vị liền tham đắm các vị khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không kham nhẫn các vị. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo không kham nhẫn các xúc?
TTC 13Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi thân cảm xúc liền tham đắm các xúc khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo không kham nhẫn các xúc.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không đáng được cung kính, không đáng được tôn trọng, không đáng được cúng dường, không đáng được chắp tay, không còn là vô thượng phước điền ở đời.
TTC 14Thành tựu năm chi phần, này các Tỷ-kheo, con voi của vua xứng đáng cho vua dùng, là tài sản của vua, và được xem là một biểu tượng của vua. Thế nào là năm?
TTC 15Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua kham nhẫn các sắc, kham nhẫn các tiếng, kham nhẫn các hương, kham nhẫn các vị, kham nhẫn các xúc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua kham nhẫn các sắc?
TTC 16Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua, đi đến chiến trận, khi thấy đoàn voi hay khi thấy đoàn ngựa, hay khi thấy đoàn xe, hay khi thấy đoàn bộ binh, liền không chùn chân, rủn chí, có đủ can đảm, có thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua kham nhẫn các sắc. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, con voi của vua kham nhẫn các tiếng?
TTC 17Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua, đi đến chiến trận, khi nghe tiếng voi, hay khi nghe tiếng ngựa, hay khi nghe tiếng xe, hay khi nghe tiếng bộ binh, hay khi nghe tiếng trống lớn, thanh la, tù và, trống nhỏ, không chùn chân, không rủn chí, có đủ can đảm, có thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua kham nhẫn các tiếng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua kham nhẫn các hương?
TTC 18Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua đi đến chiến trận, đối với các con voi của vua thuộc loại quý chủng, quen thuộc chiến trận, khi nó ngửi mùi phân và nước tiểu của những con voi ấy, nó không chùn chân, không rủn chí, có đủ can đảm, có thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua kham nhẫn các hương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua kham nhẫn các vị?
TTC 19Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua đi đến chiến trận, khinh miệt một máng cỏ và nước, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn hoặc năm máng cỏ và nước, không chùn chân, không rủn chí, có đủ can đảm, có thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con voi của vua kham nhẫn các vị. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua kham nhẫn các xúc?
TTC 20Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua đi đến chiến trận, khi bị một mũi tên bắn trúng, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm, không chùn chân, không rủn chí, có đủ can đảm, có thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua kham nhẫn các xúc.
Thành tựu năm chi phần này, này các Tỷ-kheo, con voi của vua xứng đáng cho vua, là tài sản của vua, và được gọi là biểu tượng của vua. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu năm pháp, vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Thế nào là năm?
TTC 21Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn các sắc, kham nhẫn các tiếng, kham nhẫn các hương, kham nhẫn các vị, kham nhẫn các xúc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo kham nhẫn các sắc?
TTC 22Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không tham đắm các sắc khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn các sắc. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo kham nhẫn các tiếng?
TTC 23Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng, không tham đắm các tiếng khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn các tiếng. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo kham nhẫn các hương?
TTC 24Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mũi ngửi các hương, không tham đắm các hương khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn các hương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo kham nhẫn các vị?
TTC 25Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi lưỡi nếm các vị, không tham đắm các vị khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn các vị. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo kham nhẫn các xúc?
TTC 26Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi thân cảm các xúc, không tham đắm các xúc khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn các xúc.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 5.139
- 14. Kings
Cannot Endure
9. Kinh Không Kham Nhẫn
“Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato rañño nāgo na rājāraho hoti na rājabhoggo, na rañño aṅgaṁtveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Idha, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti rūpānaṁ, akkhamo saddānaṁ, akkhamo gandhānaṁ, akkhamo rasānaṁ, akkhamo phoṭṭhabbānaṁ.
“Mendicants, a royal bull elephant with five factors is not worthy of a king, not fit to serve a king, and is not reckoned a factor of kingship. What five? It’s when a royal bull elephant can’t endure sights, sounds, smells, tastes, and touches.
139. “Này các tỳ khưu, con voi của đức vua được hội đủ năm chi phần thì không xứng đáng với đức vua, không phải là vật dụng của đức vua, không được tính là một phần tài sản của đức vua. Do năm chi phần nào? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các sắc, không kham nhẫn đối với các tiếng, không kham nhẫn đối với các mùi, không kham nhẫn đối với các vị, không kham nhẫn đối với các vật xúc chạm.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti rūpānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato hatthikāyaṁ vā disvā assakāyaṁ vā disvā rathakāyaṁ vā disvā pattikāyaṁ vā disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti rūpānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can’t endure sights? It’s when a royal bull elephant gone to battle falters and founders at the sight of a division of elephants, of cavalry, of chariots, or of infantry. It doesn’t stay firm, and fails to plunge into battle. That’s how a royal bull elephant can’t endure sights.
“Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các sắc? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua khi ra chiến trường, sau khi nhìn thấy đoàn tượng binh, hoặc đoàn kỵ binh, hoặc đoàn xa binh, hoặc đoàn bộ binh, nó liền bị chùn bước, bị suy sụp, không đứng vững, không thể nào tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các sắc.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti saddānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato hatthisaddaṁ vā sutvā assasaddaṁ vā sutvā rathasaddaṁ vā sutvā pattisaddaṁ vā sutvā bheripaṇavasaṅkhatiṇavaninnādasaddaṁ vā sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti saddānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can’t endure sounds? It’s when a royal bull elephant gone to battle falters and founders at the sound of a division of elephants, of cavalry, of chariots, or of infantry, or the thunder of the drums, kettledrums, horns, and cymbals. It doesn’t stay firm, and fails to plunge into battle. That’s how a royal bull elephant can’t endure sounds.
“Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các tiếng? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua khi ra chiến trường, sau khi nghe tiếng của tượng binh, hoặc tiếng của kỵ binh, hoặc tiếng của xa binh, hoặc tiếng của bộ binh, hoặc tiếng của trống trận, trống nhỏ, tù và, và tiếng la hét, nó liền bị chùn bước, bị suy sụp, không đứng vững, không thể nào tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các tiếng.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti gandhānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato ye te rañño nāgā abhijātā saṅgāmāvacarā tesaṁ muttakarīsassa gandhaṁ ghāyitvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti gandhānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can’t endure smells? It’s when a royal bull elephant gone to battle falters and founders when it smells the odor of the feces and urine of battle-hardened, pedigree royal bull elephants. It doesn’t stay firm, and fails to plunge into battle. That’s how a royal bull elephant can’t endure smells.
“Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các mùi? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua khi ra chiến trường, sau khi ngửi mùi nước tiểu và phân của những con voi thiện chiến, dày dạn trận mạc của vua đối phương, nó liền bị chùn bước, bị suy sụp, không đứng vững, không thể nào tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các mùi.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti rasānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato ekissā vā tiṇodakadattiyā vimānito dvīhi vā tīhi vā catūhi vā pañcahi vā tiṇodakadattīhi vimānito saṁsīdati visīdati, na santhambhati na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti rasānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can’t endure tastes? It’s when a royal bull elephant gone to battle falters and founders when it misses a meal of grass and water, or it misses two, three, four, or five meals. It doesn’t stay firm, and fails to plunge into battle. That’s how a royal bull elephant can’t endure tastes.
“Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các vị? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua khi ra chiến trường, bị cắt khẩu phần cỏ và nước một lần, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm lần, nó liền bị chùn bước, bị suy sụp, không đứng vững, không thể nào tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các vị.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti phoṭṭhabbānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato ekena vā saravegena viddho, dvīhi vā tīhi vā catūhi vā pañcahi vā saravegehi viddho saṁsīdati visīdati, na santhambhati na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo akkhamo hoti phoṭṭhabbānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can’t endure touches? It’s when a royal bull elephant gone to battle falters and founders when struck by a swift arrow, or by two, three, four, or five swift arrows. It doesn’t stay firm, and fails to plunge into battle. That’s how a royal bull elephant can’t endure touches.
“Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các vật xúc chạm? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua khi ra chiến trường, bị trúng một mũi tên, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm mũi tên, nó liền bị chùn bước, bị suy sụp, không đứng vững, không thể nào tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua không kham nhẫn đối với các vật xúc chạm.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi aṅgehi samannāgato rañño nāgo na rājāraho hoti na rājabhoggo na rañño aṅgaṁtveva saṅkhaṁ gacchati.
A royal bull elephant with these five factors is not worthy of a king, not fit to serve a king, and is not reckoned a factor of kingship.
“Này các tỳ khưu, do được hội đủ năm chi phần này, con voi của đức vua không xứng đáng với đức vua, không phải là vật dụng của đức vua, không được tính là một phần tài sản của đức vua.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcahi aṅgehi samannāgato bhikkhu na āhuneyyo hoti na pāhuneyyo na dakkhiṇeyyo na añjalikaraṇīyo na anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi pañcahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti rūpānaṁ, akkhamo saddānaṁ, akkhamo gandhānaṁ, akkhamo rasānaṁ, akkhamo phoṭṭhabbānaṁ.
In the same way, a mendicant with five qualities is not worthy of offerings dedicated to the gods, not worthy of hospitality, not worthy of a religious donation, not worthy of veneration with cupped palms, and is not the supreme field of merit for the world. What five? It’s when a mendicant can’t endure sights, sounds, smells, tastes, and touches.
“Này các tỳ khưu, cũng tương tự như thế, vị tỳ khưu được hội đủ năm chi phần thì không xứng đáng được cúng dường, không xứng đáng được tiếp đãi, không xứng đáng nhận vật dâng cúng, không xứng đáng được chắp tay, không phải là ruộng phước vô song cho thế gian. Do năm chi phần nào? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các sắc, không kham nhẫn đối với các tiếng, không kham nhẫn đối với các mùi, không kham nhẫn đối với các vị, không kham nhẫn đối với các vật xúc chạm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti rūpānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rajanīye rūpe sārajjati, na sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti rūpānaṁ.
And how is it that a mendicant can’t endure sights? It’s when a mendicant, seeing a sight with their eyes, is aroused by a desirable sight, so is not able to still the mind. That’s how a mendicant can’t endure sights.
“Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các sắc? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi nhìn thấy sắc bằng mắt, liền say đắm sắc khả ái, không thể định tĩnh tâm ý. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các sắc.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti saddānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu sotena saddaṁ sutvā rajanīye sadde sārajjati, na sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti saddānaṁ.
And how is it that a mendicant can’t endure sounds? It’s when a mendicant, hearing a sound with their ears, is aroused by a desirable sound, so is not able to still the mind. That’s how a mendicant can’t endure sounds.
Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các âm thanh? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi nghe âm thanh bằng tai, bị say đắm ở các âm thanh khả ái, không có khả năng định tâm. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các âm thanh.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti gandhānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu ghānena gandhaṁ ghāyitvā rajanīye gandhe sārajjati, na sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti gandhānaṁ.
And how is it that a mendicant can’t endure smells? It’s when a mendicant, smelling an odor with their nose, is aroused by a desirable smell, so is not able to still the mind. That’s how a mendicant can’t endure smells.
Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các hương thơm? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi ngửi hương thơm bằng mũi, bị say đắm ở các hương thơm khả ái, không có khả năng định tâm. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các hương thơm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti rasānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rajanīye rase sārajjati, na sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti rasānaṁ.
And how is it that a mendicant can’t endure tastes? It’s when a mendicant, tasting a flavor with their tongue, is aroused by desirable tastes, so is not able to still the mind. That’s how a mendicant can’t endure tastes.
Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các vị nếm? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi nếm vị bằng lưỡi, bị say đắm ở các vị nếm khả ái, không có khả năng định tâm. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các vị nếm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti phoṭṭhabbānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā rajanīye phoṭṭhabbe sārajjati, na sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu akkhamo hoti phoṭṭhabbānaṁ.
And how is it that a mendicant can’t endure touches? It’s when a mendicant, encountering a touch with their body, is aroused by a desirable touch, so is not able to still the mind. That’s how a mendicant can’t endure touches.
Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các vật xúc chạm? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi xúc chạm vật xúc chạm bằng thân, bị say đắm ở các vật xúc chạm khả ái, không có khả năng định tâm. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu không kham nhẫn đối với các vật xúc chạm.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato bhikkhu na āhuneyyo hoti na pāhuneyyo na dakkhiṇeyyo na añjalikaraṇīyo na anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
A mendicant with these five qualities is not worthy of offerings dedicated to the gods, not worthy of hospitality, not worthy of a religious donation, not worthy of veneration with cupped palms, and is not the supreme field of merit for the world.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có đầy đủ năm pháp này thì không phải là người đáng được cúng dường, không phải là người đáng được nghênh đón, không phải là người đáng được dâng cúng, không phải là người đáng được chắp tay, không phải là ruộng phước vô thượng của thế gian.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato rañño nāgo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅgaṁtveva saṅkhaṁ gacchati. Katamehi pañcahi? Idha, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti rūpānaṁ, khamo saddānaṁ, khamo gandhānaṁ, khamo rasānaṁ, khamo phoṭṭhabbānaṁ.
A royal bull elephant with five factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned a factor of kingship. What five? It’s when a royal bull elephant can endure sights, sounds, smells, tastes, and touches.
Này các tỳ khưu, con voi của đức vua có đầy đủ năm chi phần thì xứng đáng với đức vua, là vật sở hữu của đức vua, và được xem như là một bộ phận của đức vua. Do năm chi phần nào? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua kham nhẫn đối với các sắc, kham nhẫn đối với các âm thanh, kham nhẫn đối với các hương thơm, kham nhẫn đối với các vị nếm, kham nhẫn đối với các vật xúc chạm.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti rūpānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato hatthikāyaṁ vā disvā assakāyaṁ vā disvā rathakāyaṁ vā disvā pattikāyaṁ vā disvā na saṁsīdati na visīdati, santhambhati sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti rūpānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can endure sights? It’s when a royal bull elephant gone to battle does not falter or founder at the sight of a division of elephants, of cavalry, of chariots, or of infantry. It stays firm, and plunges into battle. That’s how a royal bull elephant can endure sights.
Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các sắc? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua đi ra chiến trường, sau khi nhìn thấy tượng binh, hoặc mã binh, hoặc xa binh, hoặc bộ binh, nó không chùn bước, không nao núng, đứng vững, và có khả năng tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các sắc.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti saddānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato hatthisaddaṁ vā sutvā assasaddaṁ vā sutvā rathasaddaṁ vā sutvā pattisaddaṁ vā sutvā bheripaṇavasaṅkhatiṇavaninnādasaddaṁ vā sutvā na saṁsīdati na visīdati, santhambhati sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti saddānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can endure sounds? It’s when a royal bull elephant does not falter or founder at the sound of a division of elephants, of cavalry, of chariots, or of infantry, or the thunder of the drums, kettledrums, horns, and cymbals. It stays firm, and plunges into battle. That’s how a royal bull elephant can endure sounds.
Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các âm thanh? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua đi ra chiến trường, sau khi nghe tiếng voi, hoặc tiếng ngựa, hoặc tiếng xe, hoặc tiếng bộ binh, hoặc tiếng trống trận, trống lệnh, tù và, trống nhỏ, và tiếng vang dội, nó không chùn bước, không nao núng, đứng vững, và có khả năng tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các âm thanh.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti gandhānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato ye te rañño nāgā abhijātā saṅgāmāvacarā tesaṁ muttakarīsassa gandhaṁ ghāyitvā na saṁsīdati na visīdati, santhambhati sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti gandhānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can endure smells? It’s when a royal bull elephant gone to battle does not falter or founder when it smells the odor of the feces and urine of battle-hardened, pedigree royal bull elephants. It stays firm, and plunges into battle. That’s how a royal bull elephant can endure smells.
Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các hương thơm? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua đi ra chiến trường, sau khi ngửi mùi nước tiểu và phân của những con voi chiến thuần chủng, thiện chiến của vua đối phương, nó không chùn bước, không nao núng, đứng vững, và có khả năng tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các hương thơm.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti rasānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato ekissā vā tiṇodakadattiyā vimānito dvīhi vā tīhi vā catūhi vā pañcahi vā tiṇodakadattīhi vimānito na saṁsīdati na visīdati, santhambhati sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti rasānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can endure tastes? It’s when a royal bull elephant gone to battle does not falter or founder when it misses a meal of grass and water, or it misses two, three, four, or five meals. It stays firm, and plunges into battle. That’s how a royal bull elephant can endure tastes.
Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các vị nếm? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua đi ra chiến trường, bị bỏ đói một, hai, ba, bốn, hoặc năm bữa cỏ và nước, nó không chùn bước, không nao núng, đứng vững, và có khả năng tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các vị nếm.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti phoṭṭhabbānaṁ? Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato ekena vā saravegena viddho, dvīhi vā tīhi vā catūhi vā pañcahi vā saravegehi viddho na saṁsīdati na visīdati, santhambhati sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo khamo hoti phoṭṭhabbānaṁ.
And how is it that a royal bull elephant can endure touches? It’s when a royal bull elephant gone to battle does not falter or founder when struck by a swift arrow, or by two, three, four, or five swift arrows. It stays firm, and plunges into battle. That’s how a royal bull elephant can endure touches.
Này các tỳ khưu, thế nào là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các vật xúc chạm? Này các tỳ khưu, ở đây, con voi của đức vua đi ra chiến trường, bị trúng một, hai, ba, bốn, hoặc năm mũi tên, nó không chùn bước, không nao núng, đứng vững, và có khả năng tiến vào trận chiến. Này các tỳ khưu, như vậy là con voi của đức vua kham nhẫn đối với các vật xúc chạm.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi aṅgehi samannāgato rañño nāgo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅgaṁtveva saṅkhaṁ gacchati.
A royal bull elephant with these five factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned a factor of kingship.
Này các tỳ khưu, con voi của đức vua có đầy đủ năm chi phần này thì xứng đáng với đức vua, là vật sở hữu của đức vua, và được xem như là một bộ phận của đức vua.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi pañcahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti rūpānaṁ, khamo saddānaṁ, khamo gandhānaṁ, khamo rasānaṁ, khamo phoṭṭhabbānaṁ.
In the same way, a mendicant with five qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What five? It’s when a mendicant can endure sights, sounds, smells, tastes, and touches.
Này các tỳ khưu, tương tự như thế, vị tỳ khưu có đầy đủ năm pháp thì là người đáng được cúng dường, là người đáng được nghênh đón, là người đáng được dâng cúng, là người đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng của thế gian. Do năm pháp nào? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các sắc, kham nhẫn đối với các âm thanh, kham nhẫn đối với các hương thơm, kham nhẫn đối với các vị nếm, kham nhẫn đối với các vật xúc chạm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti rūpānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rajanīye rūpe na sārajjati, sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti rūpānaṁ.
And how is it that a mendicant can endure sights? It’s when a mendicant, seeing a sight with their eyes, is not aroused by a desirable sight, so is able to still the mind. That’s how a mendicant can endure sights.
Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các sắc? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi nhìn thấy sắc bằng mắt, không bị say đắm ở các sắc khả ái, có khả năng định tâm. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các sắc.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti saddānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu sotena saddaṁ sutvā rajanīye sadde na sārajjati, sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti saddānaṁ.
And how is it that a mendicant can endure sounds? It’s when a mendicant, hearing a sound with their ears, is not aroused by desirable sounds, so is able to still the mind. That’s how a mendicant can endure sounds.
Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các âm thanh? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi nghe âm thanh bằng tai, không bị say đắm ở các âm thanh khả ái, có khả năng định tâm. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các âm thanh.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti gandhānaṁ. Idha, bhikkhave, bhikkhu ghānena gandhaṁ ghāyitvā rajanīye gandhe na sārajjati, sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti gandhānaṁ.
And how is it that a mendicant can endure smells? It’s when a mendicant, smelling an odor with their nose, is not aroused by a desirable smell, so is able to still the mind. That’s how a mendicant can endure smells.
Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các hương thơm? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi ngửi hương thơm bằng mũi, không bị say đắm ở các hương thơm khả ái, có khả năng định tâm. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các hương thơm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti rasānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rajanīye rase na sārajjati, sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti rasānaṁ.
And how is it that a mendicant can endure tastes? It’s when a mendicant, tasting a flavor with their tongue, is not aroused by desirable tastes, so is able to still the mind. That’s how a mendicant can endure tastes.
Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các vị? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi nếm vị bằng lưỡi, không tham đắm đối với vị khả ái, có thể định tĩnh tâm ý. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các vị.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti phoṭṭhabbānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā rajanīye phoṭṭhabbe na sārajjati, sakkoti cittaṁ samādahituṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti phoṭṭhabbānaṁ.
And how is it that a mendicant can endure touches? It’s when a mendicant, encountering a touch with their body, is not aroused by a desirable touch, so is able to still the mind. That’s how a mendicant can endure touches.
Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các xúc? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sau khi cảm xúc đối tượng xúc bằng thân, không tham đắm đối với xúc khả ái, có thể định tĩnh tâm ý. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu kham nhẫn đối với các xúc.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Navamaṁ.
A mendicant with these five qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.”
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này là người đáng được cúng dường, đáng được nghênh tiếp, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng cho thế gian. (Kinh) thứ chín.